Trang Thơ và Truyện của Lê Ánh                |                 www.ninh-hoa.com

Bs LÊ ÁNH
Bút hiệu:
LÊ P Thọ


 
 
Quê làng Phú Thọ, Ḥn Khói, Ninh Ḥa,
Khánh Ḥa, Việt Nam
Cựu học sinh các trường Tiểu học Pháp Việt,Ninh Ḥa, Trung học Vơ Tánh
Nha Trang, Việt Nam
Tốt nghiệp Y Khoa Bác Sĩ tại Đại Học Y Khoa Sài G̣n

Làm việc tại Quân Y viện Pleiku, Bệnh viện
Nguyễn Tri Phương, Sài G̣n,

Làm việc tại Covenant Medical Center, Lubbock, Texas, Hoa Kỳ.

 

 

Hiện làm vườn tại Phoenix, Arizona, Hoa Kỳ.

 Tập ṭ viết lách dưới bút hiệu Lê Phú Thọ,
Anh Tư Ḥn Khói.

 

 

 

 

 

 

YOGA

 

Lê Ánh

 

 

 

PHẦN 2

 

 

NHỮNG KHÁC BIỆT GIỮA THIỀN VÀ YOGA

 

 

I-TỔNG QUAN

 

Nhiều người chưa biết rơ những khác biệt giữa Thiền và Yoga, đôi lúc họ nói, tôi đang Thiền, người khác cho biết tôi đang tập Yoga. Có người nghĩ Thiền và Yoga giống nhau. Người khác nói hai thứ rất khác biệt.

 

Trước hết, chúng ta nên biết nghĩa hai từ Thiền và Yoga. Tiếp theo là biết căn nguyên hai từ nầy phát xuất từ đâu.

Yoga bắt nguồn từ cổ ngữ Sankrist, có nghĩa là hợp nhất (union). Tức là kết nối giữa linh hồn (soul) và Thần linh (Spirit) hay giữa cá thể (individual) và vũ trụ ( universe). Mặt khác, Yoga không những chỉ có nghĩa là diễn tả trạng thái kết hợp mà c̣n có nghĩa là đạt được trạng thái kết hợp ấy.

 

II- TẬP YOGA

Trong phạm vi lịch sử văn minh của nhân loại mà chúng ta có thể t́m hiểu đến được th́ Yoga và Thiền định đều xuất phát từ một cái nôi: đó là nền minh triết Ấn Độ cổ xưa, cách đây khoảng hơn 5000 năm; trong kinh Veda – thánh thư lâu đời nhất của Ấn Độ đă có nhắc đến Yoga và Thiền định.

 

Giai đoạn này Yoga chưa phải là một trường phái độc lập. Các thiền sinh thực hành thiền định và các động tác nhấn mạnh vào nghi lễ nhằm đạt

                                             

Hatha Yoga

 

Yoga (Asanas)

 

được nhận thức về Thực Tại Tối Cao. Về sau, các thiền sinh không muốn chỉ thực hiện các động tác nghi lễ tượng trưng nữa, họ muốn có một trải nghiệm tâm linh trực tiếp. V́ vậy, Yoga ra đời, và phát triển rực rỡ nhất vào thời kỳ mà Pantanjali – vị hiền triết cổ xưa của Ấn Độ – biên soạn cuốn sách kinh điển Pantanjali Yoga, trong đó nghệ thuật và khoa học Yoga được hệ thống thành tám cấp bậc (tham khảo Tám nhánh Yoga – con đường của các bậc hành giả.

 

  Qua đó ta thấy rằng Yoga cổ điển nhấn mạnh vào sự rèn luyện đức hạnh, kiềm chế những xao động trong trường ư nghĩ và cuối cùng đạt đến Samadhi – trạng thái nhập định.

Tuy nhiên, đến thời cận đại và hiện đại th́ Yoga đă phân hóa thành nhiều trường phái khác nhau, trong đó có một trường phái là Hatha Yoga tập trung vào phát triển các động tác cùng các kỹ thuật thở phức tạp nhằm thanh lọc cơ thể và tâm trí. Thiền định được thêm vào như một phương pháp thư giăn và thường được kết hợp với kỹ thuật thở (Pranayama). Yoga phổ truyền trong xă hội ngày nay mà phần lớn chúng ta thực hành chính là Hatha Yoga.                           

 

Hatha Yoga

 

Patanjali, một hiền triết cổ đại, được xem là người tạo lập Tám Nhánh của Yoga (the Eight Limbs of Yoga). Gồm có:

1. Yama (Do’s) [Bước]

2. Niyama (Don’ts) [Lùi]

3. Asanas (Positions) [Đứng]

4. Pranayama (Control of breath or Life Force) [Nín thở]

5. Pratyahara (Sense Withdrawal) [Hủy cảm]

6. Dharana (Concentration) [Tập trung]

 7. Dhyana (Meditation) [Trầm tư] và

8. Samadhi (Spiritual Ecstasy) [Xuất thần].

 

  Tám nhánh của Yoga (Eight Limbs) dần dà bị biến thái, nhiều tác giả diễn nghĩa 8 nhánh ít có sự tương hợp với nhau. T́m trên internet tiếng Anh cũng như tiếng Việt, chúng ta sẽ thấy nhận định trên. Chú thích cuối trang là một thí dụ [3] .

 

Nhiều quốc gia Tây phương nhất là Mỹ, cởi mở hơn, theo Thiền nhiều hơn Yoga. Họ ồ ạt đưa Thiền vào bệnh viện, trường học, trại tù, xí nghiệp, và ngay cả bộ Quốc pḥng...

 

 Ở Việt Nam, đa số quần chúng nghĩ nhầm rằng, Thiền chỉ giành cho các nhà tu trong chùa. V́ thế, Yoga, h́nh như, được dân chúng sử dụng nhiều hơn Thiền. Đa số ít biết, ngoài phần luyện tập thể lực, Yoga sử dụng Thiền để đạt được kết quả chữa trị bệnh tật, tăng cường sức đề kháng v.v..

Trên hệ thống điện tử toàn cầu, có liệt kê sơ lược một số lợi ích của Yoga như: giảm căng thẳng, giảm cân, tăng gia năng lực và hệ miễn nhiễm, thể h́nh tươi đẹp. Đúng ra là có nhiều hơn nữa.

 

Dần dà nguyên sơ trôi về với dĩ vảng, Yoga phần lớn biến thành thương măi, nhưng vẫn ít thu hút được người lớn tuổi và thành phần có lợi tức thấp.

 

III- THIỀN (Meditation)

 

Nguồn gốc của Thiền định

 

Thiền định mà chúng ta nhắc tới ở đây không phải là một bộ phận của Yoga ngày nay – vốn chỉ được xem như là một phương pháp thư giăn. Như đă nhắc tới ở phần trên, Thiền định và Yoga cùng có mặt trong hệ thống tâm linh của Ấn Độ thời cổ đại. Sau đó khi Yoga được phát triển thành một bộ môn độc lập th́ Thiền định cũng đi theo con đường riêng, nó trở thành một phương pháp tu luyện trong tôn giáo.

 

Vào thời mà Phật Thích Ca Mâu Ni tại thế, ngài hướng dẫn các đệ tử của ḿnh tu luyện theo phương thức: Buổi sáng cầm bát đi hóa duyên (xin ăn), sau bữa trưa mọi người tập trung lại để nghe giảng các giáo lư, thời gian c̣n lại vào buổi chiều cho tới quá nửa đêm dành cho việc ngồi đả tọa nhập định. Như vậy thời gian ngồi đả tọa (thế kiết già hoặc bán kiết già). Thực ra không phải tất cả thời gian ngồi đả tọa ấy đều dành cho Thiền định, mà c̣n có Thiền quán (quán về sự vô thường của vạn vật). Mặc dù tới nay Thiền quán cũng đă phổ cập trong xă hội (Thiền Vipassana) nhưng chúng ta sẽ không nhắc đến Thiền quán ở đây v́ nó ra đời sau này, gắn liền với sự ra đời của Phật giáo cách đây khoảng hơn 2500 năm.

 

Điều chúng ta nhắc đến là Thiền định – một con đường tâm linh có từ thời cổ xưa trước Phật giáo rất lâu và sau đó nó trở thành một bộ phận tu luyện trong Phật giáo. Ngày nay, ḍng Thiền phổ truyền trong xă hội là Thiền Anapanasati – đă gạt bỏ hoàn toàn các yếu tố của tôn giáo. Cốt lơi của Thiền Anapanasati là tập trung quan sát hơi thở tự nhiên, không g̣ ép hơi thở, để cho ḍng năng lượng của vũ trụ tràn vào cơ thể và tâm trí, qua đó thanh lọc cơ thể và kích hoạt những tiềm năng của bản thân. Thiền Anapanasati không đ̣i hỏi ngồi ở tư thế kiết già hay bán kiết già, chỉ cần đan hai tay vào nhau và hai chân cũng chạm vào nhau để ḍng năng lượng có thể tuần hoàn liên tục trong cơ thể. V́ sao không đ̣i hỏi tư thế ngồi kiết già hay bán già? Thiền Anapanasati không phải là phương pháp tu luyện, nó được phổ truyền trong xă hội để tất cả mọi người đều có thể học, một khi không cần phải ngồi ở thế kiết già hay bán già th́ nó trở nên rất đơn giản, dễ dàng, bất cứ ai cũng có thể thực hành theo.

                          

Thực tập Thiền ở mọi nơi

Nguồn ảnh: on line

 

THIỀN (Sanskrit: Dhyana) là tỉnh lặng, là sự tập trung tâm chú ư vào một đối tượng mà không suy nghĩ một điều ǵ khác (Thiền Chỉ), hoặc Tâm dơi theo hơi thở vào, hơi thở ra (Thiền Quán).

 

Thiền phát xuất từ Đức Phật Thích Ca. Thái tử Tất Đạt Đa (Gô Ta Ma) sáu năm liên tục tu khổ hạnh với các đạo sĩ danh tiếng của Ấn Giáo và Bà La Môn. Thái tử nhận thấy lối tu khổ hạnh và trầm tư để thể nhập với Thần linh, của hai tôn giáo nầy, không thể đưa con người ra khỏi bệnh tật và khổ đau. Do vậy, Ngài rời bỏ các bạn đồng tu, đến một gốc cây đại thụ, tĩnh tọa tham Thiền liên tục 49 ngày đêm và Thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni, cách đây hơn hai ngh́n năm trăm năm. Thiền Phật Giáo bắt nguồn từ đó.

 

Thiền mà Phật dạy cho các đệ tử, có hai giai đoạn chính, tạm gọi là hai loại Thiền; Giai đoạn đầu là Thiền thể nhập với thế gian (Phật pháp bất ly thế gian pháp) để người thực hành đạt được sự an lạc của tâm và mạnh khỏe của thân, gọi là Thiền Sức Khỏe (Meditation for health), và Thiền Giác Ngộ (Meditation for Enlightenment).

 

Cách thực hành và ích lợi của Thiền Sức Khỏe được mô tả trong nhiều bộ kinh của đạo Phật như, kinh Tứ Niệm Xứ, kinh Quán Niệm Hơi Thở, kinh Quán Vô Lượng Thọ, Kinh An Ban Thủ Ư, v.v.. Thực tế, tất cả kinh điển của nhà Phật đều quy về một đích điểm là Định trong pháp môn Thiền Định.

 

Thiền Giác Ngộ (Meditation for Enlightenment) thường dành cho những người có tŕnh độ Phật học cao, thường là các nhà Sư. Mục đích của Thiền Giác Ngộ là để giải thoát khỏi sinh tử luân hồi.

 

 Ngày nay khoa học sử dụng các loại máy tân tiến và t́m thấy Thiền trong kinh điển Phật Giáo có vô số diệu dụng. Từ việc giúp chữa trị các bệnh thuộc hệ tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, ung thư, sida, hệ thần kinh, mất ngủ, chấn thương sau thời hậu chiến v.v..cho đến những lợi ích làm tăng năng lực, trí nhớ, sắc đẹp, chữa bệnh hiếm muộn, v. v. . . . Hơn thế nữa, Thiền giúp phát triển kinh tế, xí nghiệp, cải tiến nhân sinh, sống đời có hạnh phúc và an lạc hơn.

 

Có sáu loại Thiền khác nhau tùy theo mục đích:

Thiền Chánh niệm (Mindful meditation)

Thiền Quán tưởng (Reflective meditation)

Thiền Niệm chú (Mantra mediation)

Thiền Chú ư Tập trung (Focused meditation)

Thiền quán tưởng h́nh ảnh (Visualisation meditation)

Thiền thở (Breath meditation)

 

   Hành giả chọn một trong sáu loại nói trên.

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

 

(a) Images for Meditation and Yoga

[1] https://www.linkedin.com/pulse/20140609195722-22836944-key-differences-between-yoga-and-meditation.

[2]   http://www.indiatimes.com/health/tips-tricks/ayurveda-what-is-difference-between-yoga-meditation-243051.html

[3]       https://sites.google.com/a/vnyoga.com/vn/8-bac-thuc-hanh-cua-yoga

[4]                  https://www.headspace.com/faqs/category/our-approach-to-meditation-and-mindfulness.

[5]         http://www.wildmind.org/applied/daily-life/what-is-mindfulness.

[6] http://www.cbsnews.com/news/mindfulness-anderson-cooper-60-minutes/

[7]   eligiondispatches.org/hide-the-religion-feature-the-science-60-minutes-drops-the-ball-on-mindfulness/

 

 

 

ĐÓN XEM BÀI 3

 

 

  
 

LÊ ÁNH
(tháng 04 năm 2019)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trang Thơ và Truyện của Lê Ánh              |                 www.ninh-hoa.com