Trang Thơ và Truyện của Lê Ánh                |                 www.ninh-hoa.com

Bs LÊ ÁNH
Bút hiệu:
LÊ P Thọ


 
 
Quê làng Phú Thọ, Ḥn Khói, Ninh Ḥa,
Khánh Ḥa, Việt Nam
Cựu học sinh các trường Tiểu học Pháp Việt,Ninh Ḥa, Trung học Vơ Tánh
Nha Trang, Việt Nam
Tốt nghiệp Y Khoa Bác Sĩ tại Đại Học Y Khoa Sài G̣n

Làm việc tại Quân Y viện Pleiku, Bệnh viện
Nguyễn Tri Phương, Sài G̣n,

Làm việc tại Covenant Medical Center, Lubbock, Texas, Hoa Kỳ.

 

 

Hiện làm vườn tại Phoenix, Arizona, Hoa Kỳ.

 Tập ṭ viết lách dưới bút hiệu Lê Phú Thọ,
Anh Tư Ḥn Khói.

 

 

 

 

 


 

 UNG THƯ PHỔI
(Lung Cancer)


Bs Lê Ánh
 

 

 

 

Ung thư phổi rất đáng sợ, là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh ung thư trên toàn thế giới, cho cả đàn ông lẫn phụ nữ. Căn bệnh gây khoảng 1,2 triệu cái chết mỗi năm. Trong ṿng 25 năm qua, số người chết v́ ung thư phổi mỗi năm mỗi tăng.

 

Hút thuốc là yếu tố nguy hại hàng đầu gây ung thư phổi. Người hút thuốc lá có nguy cơ bị ung thư phổi 10 đến 30 lần nhiều hơn người không hút.

 

Tuy các yếu tố khác, chẳng hạn như ngửi khói thuốc bay ra từ miệng người hút thuốc lá (second-hand tobacco smoke), tiếp xúc với các chất asbestos, radon, arsenic, radiation, polycyclic hydrocarbons, nickel, cũng có thể làm tăng nguy cơ ung thư phổi, nhưng cho đến nay, hút thuốc lá vẫn nguy hiểm nhất, nguyên nhân của 90% các trường hợp ung thư phổi.

 

Theo thông kê, vào năm 2005, tại Mỹ, số người mới bị là gần 173 ngàn người, trong đó có 79 ngàn phụ nữ. Số người chết v́ bệnh ung thư phổi là 163 ngàn, trong đó có khoảng 79 ngàn phụ nữ. Để hiểu rơ tầm quan trọng của tử vong v́ ung thư phổi, ta hăy so sánh với ung thư vú. Số người đàn bà bị ung thư vú loại xâm lấn là trên 180,000 người nhưng số tử vong v́ ung thư vú chỉ có 40 ngàn người.

 

Trong năm 2007, có 215.000 trường hợp ung thư phổi mới, và 162.000 người mất mạng v́ nó. Số trường hợp ung thư phổi ngày càng tăng, nhất là ở phụ nữ, v́ dân số ngày càng đông, và chúng ta cũng sống lâu hơn trước.  Phụ nữ bị ung thư phổi ngày càng tăng v́ quư bà, quư cô hiện nay hút thuốc lá không kém.

 

Số người chết v́ ung thư phổi mỗi năm cao hơn tổng số người chết v́ các ung thư ruột, ung thư vú và ung thư nhiếp hộ tuyến. Có thể nói là khi đă bị ung thư phổi, bệnh nhân sẽ có cơ hội tử vong cao nhất so với các ung thư khác. Đây là lư do khiến các cơ quan y tế quốc gia cũng như Hội Ung Thư Việt Mỹ phải đặc biệt quan tâm đến vấn nạn ung thư phổi.

 

1- Các thể bệnh

 Bướu ung thư phổi cấu tạo bởi các tế bào ung thư bất thường, thường thuộc một trong bốn thể loại sau:

- Squamous cell carcinoma (20-30% trường hợp ung thư phổi)

- Adenocarcinoma (30-40%)

- Large cell carcinoma (10%)

- Small cell or "oat cell" carcinoma (20%)

 

Ba thể ung thư đầu có tính nết, lối tiến triển khá giống nhau, và cách chữa chúng cũng tương tự, nên chúng thường được gọi chung là “non-small cell lung cancer”; thể ung thư thứ tư khác hơn, lớn nhanh, lan mạnh, cách chữa cũng khác.

 

Để dễ hiểu, ta có thể  chia ung thư phổi làm hai loại  chính là small cell hay oat cell tức loại ung thư phổi tế bào nhỏ, và non-small cell tức loại ung thư có tế bào không nhỏ. Cả hai loại ung thư phổi này đều nguy hiểm, nhưng cách lây lan, chữa trị và cơ hội sống c̣n khác nhau. V́ ung thư phổi thuộc loại tế bào nhỏ rất hiếm so với loại tế bào không nhỏ, nên ta chỉ chú trọng đến loại tế bào không nhỏ (non-small cell) trong bài viết này. Một điều cần được nhấn mạnh là cả hai loại đều do thuốc lá gây ra.

 

2-Nguyên nhân chính: Thuốc lá

 

Thuốc lá gây ra 90% những trường hợp ung thư phổi ở người nam và 78% ở người nữ. Cơ hội trung b́nh bị ung thư phổi cho những người hút thuốc lá là 1 trong 10 người sẽ bị ung thư phổi. Những nghiên cứu về dịch tính cho thấy là ở những nơi người dân hút thuốc lá nhiều, số người bị ung thư phổi sẽ gia tăng.

 

Thí dụ ở tiểu bang Kentucky, 33% nam giới hút thuốc lá và có 103 trên 100 ngàn người nam bị ung thư phổi mỗi năm. Ở Utah chỉ có 16% nam giới hút thuốc và chỉ có 45.8 trên 100 ngàn người nam bị ung thư phổi.

 

Về phía phụ nữ, ở Nevada có 29.8% phụ nữ hút thuốc và tỉ lệ bị ung thư phổi là 45.8 trên 100 ngàn người. Ở Utah chỉ có 11.5% phụ nữ hút thuốc và tỉ lệ ung thư phổi chỉ có 13.9 trên 100 ngàn người. Như vậy, nếu chúng ta tránh thuốc lá, tỉ lệ bị ung thư phổi sẽ giảm đi rất nhiều.

 

Thuốc lào cũng có những độc tố của thuốc lá, rất dễ ghiền, và đưa đến việc ghiền thuốc lá. Do đó, Hội Ung Thư Hoa Kỳ cũng khuyên chúng ta không nên hút thuốc lào.

 

Những nguyên nhân khác có nguy cơ cao gây ra ung thư phổi gồm có chất asbestos và radon. Chất asbestos là chất dùng để cách điện và cách nhiệt và có nhiều trong những căn nhà xây thời xưa, hay tại các xưởng làm tàu. Chất này đặc biệt nguy hiểm cho những người hút thuốc lá v́ cơ hội bị ung thư phổi sẽ tăng lên gấp bội.

 

Do đó, những người đă có sự tiếp cận với asbestos lại càng phải tránh thuốc lá. Chất radon có trong những căn nhà ở một số vùng có thể có quặng mỏ radium. Cơ hội gây ra ung thư phổi do radium cao hơn người thường, nhưng rất ít so với thuốc lá. Tuy nhiên, người hút thuốc lá sẽ rất nhạy cảm với ảnh hưởng của radon.

 

Một số người có yếu tố di truyền ở nhiễm sắc thể số 6 sẽ rất dễ bị ung thư phổi nếu họ hút thuốc. Những người đă từng được chữa trị bằng xạ trị vào vùng lồng ngực cho những ung thư như ung thư vú hay ung thư hạch loại Hodgkin cũng có cơ hội bị ung thư phổi cao hơn, nhất là nếu họ lại hút thuốc lá. Những nguyên nhân khác như hóa chất nơi làm việc, ô nhiễm không khí, v.v. cũng gia tăng cơ hội ung thư phổi nhưng rất thấp so với khói thuốc lá.

Tóm lại, nguyên nhân chính và có thể tránh được bệnh ung thư phổi là thuốc lá. Do đó, cai thuốc lá là điều quan trọng nhất trong việc chống lại ung thư phổi.

 

 3-Triệu chứng ung thư phổi

Thông thường ung thư phổi không có triệu chứng ǵ cả, nhất là ở thời kỳ đầu tiên. Khi ung thư đă trở nên nặng hơn, bệnh nhân có thể có những triệu chứng như ho, khó thở, tức hay đau lồng ngực, ho ra máu, hay xuống cân. Nếu ung thư đă lây lan ra xương, ra gan, ra năo, v.v, bệnh nhân có thể thấy đau nhức xương, đau bụng, đau lưng, nhức đầu, chóng mặt, lừ đừ, lẫn lộn, bị kinh phong, v.v...

 

Khoảng 10-20% người bệnh ung thư phổi có thêm hội chứng gọi là “paraneoplastic syndrome”: ung thư tiết ra một số chất, vào máu, gây triệu chứng, như đau sưng khớp; ngón tay dày lên, rộng ra giống h́nh cái chày (digital clubbing); triệu chứng thần kinh bất thường; vú to ra, chảy chất dịch giống sữa; chất calcium tăng cao trong máu; v.v.. Đây có thể xem là những triệu chứng, dấu chứng gián tiếp của ung thư phổi. Loại ung thư thứ tư (small cell lung cancer) hay gây những triệu chứng gián tiếp này.

 

4-Cách chẩn bệnh ung thư phổi

 

Chụp h́nh phổi thông thường bằng X-quang (chest X-Ray), có thể nh́n thấy h́nh phổi hai chiều.

 

Chụp CT Scan phổi: sử dụng vi tính và X-quang để thấy h́nh phổi ba chiều. Thấy nhiều chi tiết và chính xác hơn chụp phổi thường (X-Ray).

 

Chụp PET Scan: sử dụng chất đường phóng xạ để đo lường sự hoạt động của các tế bào trong cơ thể. Tế bào ung thư hoạt động mạnh nhất, hấp thụ chất đường phóng xạ nhiều nhất, và sẽ thấy nổi lên nhiều nhất khi chụp. PET scan phải được lồng vào cùng với CT scan th́ mới chính xác được (intergrated PET-CT Scan).

 

Soi cuống phổi (bronchoscopy) là phương pháp nội soi bằng một ống đi vào cuống phổi để xem có bướu trong cuống phổi hay không, có bị nghẹt cuống phổi hay không, và bác sĩ có thể làm sinh thiết trong khi soi cuống phổi.

 

Sinh thiết qua lồng ngực: nhiều khi, làm sinh thiết qua cuống phổi không được, bác sĩ phải làm sinh thiết qua lồng ngực dùng kim nhỏ theo hướng dẫn của CT scan (CT-guided needle biopsy) để đi vào đúng chỗ bị bướu. Một số tế bào từ bướu sẽ được rút ra và nh́n dưới kính hiển vi để định bệnh.

 

- Bác sĩ chuyên khoa phổi, qua ống soi phổi, xem và cắt lấy thịt trực tiếp từ khối bướu cùng những vùng khả nghi.

- Bác sĩ chuyên khoa quang tuyến (radiologist), dùng CT scan để biết chắc khối bướu nằm ở đâu, đâm kim qua thành ngực vào đến khối bướu cắt chút thịt.

- Bác sĩ giải phẫu ngực (thoracic surgeon) đưa một ống soi vào vách ngăn hai lồng ngực, rồi qua ống soi, cắt thịt từ khối bướu.

 

    5- Chữa trị ung thư phổi

Cách chữa gồm có ba cách chính: giải phẫu, xạ trị và thuốc.

 

  Giải phẫu (Surgery)

 

- Mổ mở ngực (thoracotomy): Lồng ngực sẽ được mở rộng ra bên cạnh sườn, lá phổi sẽ được làm xẹp tạm thời, và thùy phổi bị bệnh sẽ được cắt bỏ. Cùng lúc, những hạch phổi và hạch trung thất cũng được lấy ra để xem có bị lây lan hay không.

* Mổ hạn chế (Wedge resection) lấy một phần nhỏ của phổi có bướu độc và quanh vùng tế bào lành;

* Cắt đoạn bướu độc (Segmental resection), lấy vùng tế bào ung thư rộng hơn;

* Cắt thuỳ bướu độc (Lobectomy);

* Cắt toàn lá phổi bị ung thư (Pneumonectomy).

 

- Mổ nội soi lồng ngực dưới sự hướng dẫn của video (video-assisted thoracosopy): lồng ngực cạnh sườn sẽ được mổ nhỏ để luồn ống soi video vào. Cách mổ này có thể mổ được tương tự như cách mổ lớn trong nhiều trường hợp. V́ vết mổ nhỏ, nên thời gian lành bệnh nhanh hơn.

 

Xạ trị (Radiation therapy/Radiotherapy)

Là cách dùng tia quang tuyến cực mạnh để đốt cháy tế bào ung thư. Tia sử dụng có thể là tia photon, electron, neutron hay proton. Những máy móc hiện đại sử dụng vi tính có thể giúp bác sĩ chuyên môn điều khiển tia xạ đến nơi bị bệnh một cách chính xác và giảm thiểu ảnh hưởng của tia xạ đến những mô b́nh thường chung quanh và giảm thiểu những phản ứng phụ.

Hóa chất (hóa trị, hóa chất trị liệu Chemotherapy)

Những thuốc thường dùng: Cisplatin, Taxotere, Carboplatinum, Taxol, Etoposide.

Phản ứng phụ có thể xảy ra, nhưng thường chỉ nhẹ và sẽ khỏi sau khi trị bệnh xong. Ngoài ra, có thuốc để chữa hay pḥng ngừa một số những phản ứng phụ. Các bác sĩ chuyên trị ung thư sẽ tùy theo trường hợp cho những thứ thuốc để chống lại phản ứng phụ. Những phản ứng phụ thông thường nhất tùy theo loại thuốc có thể xảy ra, gồm có:

 

- Nôn mửa, ăn không ngon, bón, tiêu chảy

- Rụng tóc, tróc móng tay, móng chân

- Giảm năng lực

- Tay chân tê, đau nhức bắp thịt, khớp xương

- Thiếu bạch huyết cầu: dễ nhiễm trùng

- Thiếu hồng huyết cầu: mệt mỏi, tim đập nhanh, v.v..

- Thiếu tiểu cầu: dễ bị chảy máu, vết đỏ hay bầm trên da

 

6- Mục tiêu trị liệu (Targeted Therapy)

Hiện thời có hai thứ thuốc chữa theo mục tiêu là Iressa (Genfitinib) và Tarceva (Erlotinib) đă được cơ quan FDA chấp nhận dùng để chữa ung thư phổi loại non-small cell sau khi đă dùng ít ra một thứ thuốc khác. Iressa cũng được chấp nhận để dùng trước tiên trong việc chữa bệnh này. Đây là những thuốc uống và có ít phản ứng phụ hơn hóa chất trị liệu thông thường.

 

Hai thuốc này tác động vào mục tiêu là chất tyrosine kinase của yếu tố di truyền HER-1/EGFR. Tyrosine kinase gia tăng sự phát triển của mô biểu b́ và gia tăng sự tăng trưởng của tế bào ung thư phổi vốn phát xuất từ mô biểu b́. Qua sự ngăn chặn hoạt động của tyrosine kinase trên sự phát triển biểu b́, Iressa và Tarceva có thể ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư.

 

Phản ứng phụ thông thường nhất của hai thuốc này là tiêu chảy và bị các phản ứng về da như mụn, ngứa, đỏ, lột da, hay đóng vảy. Những triệu chứng này thường rất nhẹ nhưng cũng có thể rất nặng và liều thuốc phải giảm đi hay ngưng hẳn. Một điều đáng chú ư là những bệnh nhân nào bị phản ứng về da, sẽ có cơ hội cao để thuốc có hiệu nghiệm.

 

7- Chữa trị tùy theo thời kỳ (stage) của bệnh

 

Thời kỳ (stage) I A  (ung thư dưới 3 cm, chưa vào hạch): giải phẫu cắt trọn thùy phổi bị bệnh. Cơ hội chữa lành sau 5 năm là 60-80%. Nếu không mổ được v́ bất cứ lư do ǵ, bệnh có thể chữa bằng xạ trị. Không cần hóa chất trị liệu cho thời kỳ này.

 

Thời kỳ (stage) IB (ung thư 3-5cm, chưa vào hạch): giải phẫu cắt trọn thùy phổi bị bệnh. Cơ hội chữa lành sau 5 năm là 40-50%. Nếu không mổ được, có thể chữa bằng xạ trị. Đối với bệnh nhân ở thời kỳ này, hóa chất trị liệu có thể gia tăng cơ hội sống c̣n toàn phần lên khoảng 15% cao hơn không có hóa chất.

 

Thời kỳ (stage) II (ung thư lớn T3, hay đă vào hạch phổi, nhưng chưa vào hạch trung thất): Giống như IB. Cơ hội chữa lành 25-30% sau 5 năm.

 

Thời kỳ (stage) IIIA (ung thư đă vào hạch trung thất cùng bên): Sau hóa chất và xạ trị, mổ cắt trọn thùy phổi bị bệnh nếu được. Hóa chất trị liệu tiền giải phẫu và xạ trị có thể gia tăng cơ hội mổ được cho 60% bệnh nhân, và cơ hội sống được 3 năm cho những người này khoảng 25%.

 

Thời kỳ (stage) IIIB (đă vào hạch trung thất bên kia): Cơ hội sống c̣n 5 năm 5-10%. Chữa bằng hóa chất trị liệu và xạ trị để giúp đỡ những triệu chứng bệnh và chỉ giúp gia tăng cơ hội sống c̣n 5-10%. Chữa bằng xạ trị cùng lúc với hóa chất, rồi đến hóa chất. Phương pháp giải phẫu không có hiệu quả.

 

Thời kỳ (stage) IV (đă di căn): cơ hội sống c̣n 5 năm dưới 5%. Chữa bằng hóa chất trị liệu và xạ trị để giúp bớt những triệu chứng bệnh, chỉ giúp gia tăng cơ hôi sống c̣n rất ít. Giải phẫu không có hiệu quả. Trị liệu bằng thuốc Iressa hay Tarceva có thể giúp sồng lâu hơn nếu chịu thuốc.

 

8- Phát hiện sớm ung thư phổi

Các nghiên cứu cho thấy chụp h́nh phổi thông thường không phải là cách tốt nhất để khám phá ra ung thư phổi ở thời kỳ sớm nhất. Các nghiên cứu đang đặt trọng tâm xem xét các phương pháp tốt nhất để truy tầm sớm ung thư phổi, thí dụ như Spiral CT Scan. CT scan có thể khám phá được ung thư phổi ở thời kỳ rất sớm.

 

Tuy nhiên, chúng ta chưa biết là truy tầm ung thư phổi ở thời kỳ sớm có gia tăng cơ hội sống c̣n hay không. V́ lư do này, hiện thời các cơ quan y tế chưa có những lời khuyên về truy tầm sớm ung thư phổi cho các chương tŕnh y tế cộng đồng. Tuy nhiên, nếu quư vị nào hút thuốc lá nhiều tức là có cơ hội bị ung thư phổi cao, và muốn truy tầm sớm (nhất là nếu quư vị có những triệu chứng như kể trên), xin nhờ bác sĩ cho chụp CT scan để định bệnh v́ chụp h́nh phổi thường sẽ có cơ hội thấy ung thư rất thấp.

 

9- Ngừa bệnh hơn chữa bệnh và Truy tầm

Chưa có thuốc ǵ hay thức ăn nào có thể ngừa ung thư phổi. Không nên lạm dụng những chất vitamin tức sinh tố. Thí dụ, chất Beta-carotene là tiền sinh tố A ở lượng cao có thể gia tăng cơ hội bị ung thư phổi. Cách tốt nhất để giữ cơ thể khỏe mạnh là ăn uống điều độ và ăn đủ loại thực phẩm v́ mỗi loại thức ăn có những yếu tố dinh dưỡng khác nhau cần thiết cho cơ thể.

 

Chúng ta đă biết, hút thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư phổi, thủ phạm của 90% các trường hợp. Ngay cả người phải ngửi khói thuốc lá do người khác hút cũng dễ bị ung thư.

 

Do thế, đến nay, bỏ hút thuốc, tránh xa nơi có khói thuốc lá, vẫn là cách hữu hiệu nhất để ngừa ung thư phổi. Nhiều vị hút thuốc lâu năm lư luận, có bỏ cũng đă trễ rồi, không giúp ǵ đâu, thôi đành chờ kiếp sau tu tỉnh từ đầu, nhưng các khảo cứu đều cho thấy, người bỏ thuốc lá có nguy cơ bị ung thư phổi ít hơn nhiều so với người tiếp tục hút. Theo kết quả của vài khảo cứu, bỏ thuốc hơn 15 năm, triển vọng ung thư phổi giảm 80-90% so với người c̣n hút.

 

Về truy t́m (screening), việc truy t́m ung thư phổi định kỳ ở những người hút thuốc lá không có triệu chứng hiện vẫn c̣n là vấn đề nhức đầu, nhiều bàn căi. Liệu việc này có đáng đồng tiền bát gạo không, khám phá được ung thư phổi sớm có làm giảm tử vong, thay đổi dự hậu (prognosis), giống trường hợp truy t́m ung thư cổ tử cung bằng phương pháp Pap’s smear, truy t́m ung thư vú bằng phim vú mammogram, truy t́m ung thư ruột già bằng phương pháp soi ruột già colonoscopy?

 

Rất nhiều khảo cứu đă được thực hiện để t́m cách trả lời câu hỏi này, nhưng cho đến nay, các kết quả đều không cho thấy việc truy t́m ung thư phổi định kỳ ở những người hút thuốc lá làm thay đổi tỉ lệ tử vong. V́ thế, khuynh hướng hiện tại là, trừ trong các trung tâm nghiên cứu, c̣n chúng ta không chụp phim truy t́m định kỳ ở những người hút thuốc lá không có triệu chứng, khuyên họ bỏ thuốc lá là phương cách hay hơn nhiều. (Với những người không hút thuốc chúng ta, nguy cơ ung thư rất ít, việc truy t́m lại càng không cần.)

 

Một số bác sĩ vẫn cho bệnh nhân hút thuốc của ḿnh chụp phim ngực (từ nay, cho đúng, chúng ta đừng gọi “phim phổi” nữa) hàng năm. Việc này có thể đưa đến nhiều tốn kém và nguy hiểm (thấy ǵ hơi lạ, phải làm thêm phim CT Scan, MRI, nhờ bác sĩ chuyên khoa phổi soi, nhờ bác sĩ giải phẫu mổ phổi ra xem, mà rất nhiều khi chẳng có ǵ cả), và một phim ngực b́nh thường không chắc đă cho chúng ta niềm an tâm, v́ một ung thư nhỏ c̣n dấu ḿnh trong một ống phổi, phim ngực không thể cho thấy được; lại nữa, có loại ung thư mọc nhanh, vài tháng đă xuất hiện rồi, phim ngực mới chụp gần đây dù b́nh thường có ăn nhằm ǵ. Vả, việc này biết đâu có thể ngầm khuyến khích người bệnh tiếp tục hút thuốc lá, “Bác sĩ thấy chưa, số tôi không bị ung thư phổi là không bị, phim ngực tôi năm nào bác sĩ cũng cho chụp, có ǵ đâu, bác sĩ đừng nói đến chuyện bắt tôi bỏ thuốc nữa”.

 

Ngưng hút thuốc lá có thể làm giảm nguy cơ ung thư phổi rất nhiều. Ngưng càng sớm càng tốt. Không hút thuốc lá là cách tốt nhất để ngừa ung thư phổi. Không nên hút thuốc lá. Xin đừng thử!

 

 

 

 

 


Bác sĩ LÊ ÁNH
2/2017

 

 

 

 

 

 

Trang Thơ và Truyện của Lê Ánh              |                 www.ninh-hoa.com