Trang Thơ và Truyện của Lê Ánh                |                 www.ninh-hoa.com

Bs LÊ ÁNH
Bút hiệu:
LÊ P Thọ


 
 
Quê làng Phú Thọ, Ḥn Khói, Ninh Ḥa,
Khánh Ḥa, Việt Nam
Cựu học sinh các trường Tiểu học Pháp Việt,Ninh Ḥa, Trung học Vơ Tánh
Nha Trang, Việt Nam
Tốt nghiệp Y Khoa Bác Sĩ tại Đại Học Y Khoa Sài G̣n

Làm việc tại Quân Y viện Pleiku, Bệnh viện
Nguyễn Tri Phương, Sài G̣n,

Làm việc tại Covenant Medical Center, Lubbock, Texas, Hoa Kỳ.

 

 

Hiện làm vườn tại Phoenix, Arizona, Hoa Kỳ.

 Tập ṭ viết lách dưới bút hiệu Lê Phú Thọ,
Anh Tư Ḥn Khói.

 

 

 

 

 

 

TRIẾT LƯ NHÂN QUẢ

Lê Ánh

I-TỔNG QUAN

 

Nhân quả là chữ Hán, nhân: có nghĩa là hạt; quả: có nghĩa là trái, gồm chung hai chữ nhân quả lại, theo nghĩa đen của nó là hạt và trái. Hạt giống nào sẽ cho trái nấy, không thể cho trái khác được. Ví dụ: hạt cam khi gieo lên thành cây sẽ cho trái cam; hạt chanh sẽ cho trái chanh, không thể nào hạt cam mà cho trái chanh được, cũng như hạt chanh không thể nào cho trái cam được, v. v... C̣n nghĩa bóng là hành động thiện hay ác, nếu hành động thiện th́ được phước báo an vui, c̣n hành động ác th́ phải thọ lấy sự đau khổ, tức là hành động nào sẽ gặt lấy hậu quả của hành động nấy. Ví dụ: Như hành động trộm cắp th́ phải gặt lấy hậu quả của hành động trộm cắp là bị bắt ở tù, hoặc bị người mất của bắt được đánh đập, có khi họ giết chết. Hậu quả của sự tham lam trộm cắp, không những ở trong kiếp hiện tại nghèo nàn, đói khổ mà c̣n kéo dài trong các kiếp vị lai nữa. Cho nên, nhân quả tham lam đem lại sự nghèo đói bất hạnh. Là con người, chúng ta phải tránh gieo nhân quả trộm cắp, cướp giựt của người khác. Do trong đời nay không tham lam trộm cướp của người khác th́ đời sống sẽ được no cơm ấm áo, nếu càng gieo nhiều nhân quả tham lam trộm cắp th́ đời sống sẽ đói khổ vô cùng và sẽ đói khổ trong nhiều kiếp.

 

Kẻ làm ác giết hại chúng sanh, ăn thịt chúng sanh th́ hậu quả sẽ bị tai ương, bệnh tật, khổ đau, hoạn nạn hoặc bị sự giết hại của kẻ khác, bằng cách này hoặc bằng cách khác, v. v…

 

Hành động thiện th́ hưởng được phước báo như: Cơm ăn áo mặc đầy đủ, cuộc sống gặp nhiều may mắn, trong nhà ḥa thuận vui tươi, con cái hiếu hạnh, biết vâng lời dạy bảo của cha mẹ. C̣n hành động ác th́ thọ khổ như: bệnh tật, tai nạn, trong nhà thường rầy rà, bất ḥa chẳng an, con cái căi lời cha mẹ, đi chơi bỏ học hành, trộm cắp tiền của cha mẹ, thường làm gia đ́nh khổ, người khác khổ.

 

Luật nhân quả rất công bằng và công lư không ai có thể lo lót, hối lộ tiền bạc mà hết khổ được, dù có quyền thế tiền bạc đến đâu luật nhân quả vẫn công bằng, không tư vị. V́ thế, người gieo nhân ác không thể cầu khẩn chư Phật, chư Bồ Tát hay Ngọc Hoàng Thượng Đế, cũng như các bậc Thánh Vạn Năng cứu giúp cho ḿnh được. Nên vấn đề cầu an, cầu siêu, cầu xin ban phước lành,… chẳng bao giờ có được, chỉ là một tṛ lừa bịp lường gạt người khác, chẳng có ích lợi ǵ mà c̣n hao tài tốn của vô lối chẳng mang lại lợi ích ǵ cho ai cả.

 

NHÂN QUẢ là một triết lư sống. Quy luật sống của cuộc đời rất phổ quát. Nhân quả không phải do Đức Phật đặt ra, mà Đức Phật khám phá ra, v́ thế nhân quả là một triết lư. Nhân quả không giới hạn trong đạo Phật.

 

II- NHÂN QUẢ TRONG CA DAO TỤC NGỮ VIỆT NAM

 

Trong đời sống dân gian Việt Nam, ta thường được nghe những câu ca dao tục ngữ, những câu chuyện cổ tích nói lên ư nghĩa của NHÂN QUẢ.

Ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ.

Có tật giật ḿnh.

* Nhân quả trong dân gian:

Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu.

* Trong lao động:

Có làm mới có ăn, ngồi không ai lại mang phần chia cho.

*Triết lư sống, giáo dục nhân quả

Ăn khế trả vàng. Tham th́ thâm.

Thạch Sanh Lư Thông, Thiện giả thiện báo, ác giả ác báo.

* Câu truyện nhân quả:

Lá lành đùm lá rách. Nghèo mà ḷng tốt

Nhà có ngạch, vách có tai. Câu chuyện cái lu vạn năng.

Quy luật NHÂN QUẢ. Gieo nhân gặt quả. Đó là chân lư cuộc đời.

Cá ăn kiến, kiến ăn cá. Câu chuyện Quan Huyện và Trùm Ṣ.

Nhân quả là tất yếu của nhân sinh.

 

III- THỬ T̀M HIỂU SÂU RỘNG LƯ NHÂN QUẢ

 

Trong thế gian c̣n có nhiều vấn đề rất phức tạp. Tính cách nhân quả là chân lư, không thần thánh, thượng đế nào can thiệp vào. Đức Phật giác ngộ ra Lư NHÂN QUẢ, tất cả mọi pháp đều chịu sự chi phối của nhân quả. Theo duy thức học Phật Giáo:

 

1- Dị thời nhi thục: khác thời gian mà chính. Trong xă hội, ta có thấy người tốt lại bị nạn, người ác sống nhợn nhơ. Hiện báo, sanh báo, hậu báo. Trên thực tế đời sống:

Ta làm giá có kết quả 5 ngày,

Làm lúa có kết quả 3 tháng,

Trồng xoài phải 5 năm mới có trái.

Có Nhân th́ phải có Quả. Không bao giờ có Nhân mà lại không có Quả và cũng chẳng bao giờ có Quả mà lại không có Nhân. Và Nhân nào th́ quả nấy. Nhân tốt th́ Quả tốt, Nhân xấu th́ Quả xấu. Không hề có chuyện Nhân tốt lại có Quả xấu hay Nhân xấu mà lại có Quả tốt bao giờ.


Ai gieo Nhân th́ đích thân người ấy phải hái Quả. Hiện tượng kẻ gieo, người hái không bao giờ xẩy ra. Phước ai nấy hưởng, họa ai nấy mang. Không ai có tài ǵ mà đem họa, phước của ḿnh san sẻ cho người khác được, ngay cả đến liên hệ huyết thống chí thiết nhất như giữa cha mẹ với con cái cũng vậy. Những câu như "đời cha ăn mặn, đời con khát nước" hay "cha mẹ hiền lành để đức cho con" chỉ là những nhận định vội vàng, hời hợt mà thôi. Nghiệp Báo không giống như tài sản, không thể đem chia ra và truyền lại cho con cháu được. Nghiệp Báo hoàn toàn có tính cách cá nhân và bất khả chuyển nhượng.

 

Câu chuyện Ngộ Đạt Quốc sư trong Từ Bi Thuỷ Sám (có chỗ viết là Tam Muội Thuỷ Sám), dùng nước từ để sám hối, được chứng minh cho điều đó.

 

2- Dị loại nhi thục: khác loại nhau để hỗ trợ cái chính. Ví dụ: bông vạn thọ từ hạt giống sinh ra bông vạn thọ. Nhánh hồng được cắm xuống đất, đất nước, không khí, ánh sáng mặt trời, săn sóc (nhất nước, nh́ phân, tam cần, tứ giống). Chánh nhân, trợ duyên, thuận duyên, nghịch duyên. Dị loại tác động một cách khách quan để cho được cái chính là vậy.

 

3- Biến dị nhi thục: biến đổi khác đi mà trở lại chính. Câu chuyện vị hoà thượng làm con đường và chàng hiệp sĩ là kẻ thù nhau quyết trả thù trước kia.

Nhân quả là một quy luật không thể mất đi.

 

Đức Phật dĩ nhiên không mang họa đến cho ai, nhưng Ngài cũng không ban phước cho ai. Phước họa là do ta. Chính ta mới là tác nhân tạo nên phước họa. Đức Phật chỉ phát hiện con đường hạnh phúc rồi trong một t́nh thương bao la, cùng khắp, Ngài chỉ cho chúng sinh biết con đường ấy mà đi. Biết rồi, đi hay không, đi nhanh hay đi chậm th́ tùy mỗi người. Đi th́ chắc chắn an vui, hạnh phúc. C̣n không đi mà gặp phiền năo, khổ đau, sợ hăi có cầu xin Ngài cứu giúp, th́ Ngài cũng không thể xót thương người này ít mà giảm khinh cho, và kẻ kia nhiều mà xóa sổ dùm.


Đă có Nhân th́ chắc chắn sẽ có Quả, và thời gian từ Nhân đến Quả dài ngắn không chừng.

 

Nhân một khi đă gieo th́ cứ nằm đó. Nhân không tự hoại. Nếu không bị hoại th́ Nhân cứ măi măi nằm đó để chờ duyên. Khi nào hội đủ thuận duyên th́ Nhân liền trổ Quả. Trong kinh, tổ Quy Sơn nói: "Dă sử bá thiên kiếp, sở tác nghiệp bất vong, nhân duyên hội ngộ thời, quả báo hoàn tự thọ". Nghĩa là người tạo ra một nghiệp ǵ dầu trải qua trăm ngàn kiếp cũng không mất. Khi Nhân duyên chin mùi, Quả Báo này phải lănh. Câu chuyện ông chủ nô và người nô lệ.
Người nô lệ gieo Nhân xấu kiếp nào nay Duyên đến phải hái Quả xấu. Người chủ nô đang gieo Nhân xấu, đến một thời điểm nào đó sau này khi hội đủ thuận duyên cũng sẽ phải hái Quả xấu, nếu như đương sự sau đó không sám hối hay không gieo trồng nhiều Nhân tốt để vô hiệu hóa hay triệt tiêu Nhân xấu này.


Tất cả Nhân mà một người đă gieo trồng đều được lưu giữ. Lưu giữ ở chỗ nào th́ không ai biết, nhưng y như có một cái kho tồn trữ vô h́nh tuyệt đối an toàn dung chứa tất cả số Nhân của một người. Cái kho ấy Phật Giáo gọi là A-Lại-Da-Thức hay Đệ Bát Thức. A-Lai-Da-Thức theo sát người chủ nó từ kiếp này sang kiếp khác như bóng với h́nh, "như bánh xe lăn theo dấu chân con ḅ kéo xe", theo măi cho đến lúc không c̣n Nghiệp Nhân, nghĩa là cho tới khi đoạn tận Nghiệp Quả, tức thoát ṿng luân hồi sinh tử mới thôi.

 

Một ví dụ cho dễ hiểu: Một nắm muối bỏ vào một ly nước. Muối tượng trưng cho nghiệp ác, nước tượng trưng cho nghiệp thiện. Lượng nước càng nhiều, tính chất của muối nhạt dần. Cùng một hành động gieo nhân, tuỳ phước báo của mỗi người, luật nhân quả có thay đổi đôi chút.
                                                                   &

 

IV- LƯ NHÂN QUẢ CHI PHỐI CẢ VŨ TRỤ NHÂN SINH

 

Đức Phật khám phá lư nhân quả, vô thường, duyên sinh, cuối cùng đạt đến chỗ siêu nhiên, tức phi thiện phi ác, là cảnh giới của người giải thoát. Đến với Đạo Phật, học hiểu đạo lư để chuyển hóa bản thân, bớt những đắm nhiễm, đam mê vật chất.

 

Thuyết nhân quả của nhà Phật, nói đủ là nhân-duyên và quả là một triết lư mang tính khoa học, qui luật tự nhiên của vũ trụ, không mang tính chất h́nh thức của sự thưởng phạt từ một đấng quyền năng nào. Hiểu vậy, trong cuộc sống, chúng ta vui vẻ đón nhận những khổ đau bất thường xảy đến với ḿnh như một kết quả do chính ḿnh tạo nhân từ trước. Từ đó suy nghiệm ra, lư nhân quả chi phối cả vũ trụ nhân sinh. Nếu tin sâu nhân quả, chúng ta sẽ được thăng hoa trên đời sống tâm linh, trở nên hiền thiện đạo đức. Ngược lại, nếu không tin nhân quả, cuộc sống chúng ta trở nên liều lĩnh và càn bừa, bất chấp hậu quả.

 

Nói về lĩnh vực khoa học, từ nhân đến quả là sự chuyển biến tự nhiên. Đức Phật khám phá lư nhân quả cũng chính là khám phá lư khoa học tự nhiên để áp dụng tu hành, đạt đến lư tưởng siêu nhiên. Cho nên, Đạo Phật vừa mang tính khoa học tự nhiên, vừa là khoa học siêu nhiên như nhà bác học Einstein đă nói: “Đạo Phật là khoa học vừa mang tính tự nhiên vừa siêu nhiên”.

 

Vũ trụ nhân sinh luôn chuyển biến vận hành trong mọi thời khắc. Có thể nói, bản thân chúng ta, hoạt động tâm lư và tất cả các pháp đang chuyển biến liên tục, không dừng trụ dầu chỉ một sát na. Quá khứ, hiện tại và vị lai luôn chuyển biến theo chiều hướng nhân quả. Nhân quả cũng tức là vô thường, là chiều thời gian chuyển biến liên tục trong tự thân của vật thể và trong hoạt động tâm lư. Vũ trụ nhân sinh chuyển biến vận hành theo một quy luật chung, đó là luật nhân quả. Nó vận hành một cách âm thầm, chỉ những người nào đầy đủ quán trí sẽ thấy rằng quy luật chi phối cả đời sống vật chất, vật lư, sinh lư và tâm lư.

 

Đức Phật khám phá lư nhân quả, vô thường, duyên sinh, cuối cùng đạt đến chỗ siêu nhiên, tức phi thiện phi ác, là cảnh giới của người giải thoát. Đến với Đạo Phật, học hiểu đạo lư để chuyển hóa bản thân, bớt những đắm nhiễm, đam mê vật chất. Khoa học ngày càng tân tiến, khám phá những quy luật của tự nhiên để tạo ra sản phẩm cung ứng cho ḷng tham vô bờ của con người. C̣n Đạo Phật cũng khám phá về nhân quả, vô thường, duyên sinh nhưng giúp con người hiểu đạo lư, sống biết cách đối nhân xử thế, làm đẹp bản thân, gia đ́nh và xă hội. Cho nên, đến với Đạo Phật là đến với đời sống tâm linh. Khi chúng ta có chánh kiến về nhân quả, chắc chắn đời sống chúng ta sẽ được thăng hoa. Nghĩ, nói và làm có lợi cho ḿnh, cho người, không nghĩ điều quấy, nói lời xấu và làm việc ác.

 

Có thể nói, phương pháp giáo dục phổ thông của Đạo Phật được t́m thấy ở đạo lư nhân quả. Khi chúng ta làm một việc sái quấy, có hại cho người khác, có khi trốn được ṭa án ở thế gian nhưng không trốn chạy được chính lương tâm của ḿnh. Ḿnh chính là gương nghiệp in bóng trước đài, là quan ṭa xử án công minh cho những hành vi tội lỗi nơi bản thân. Giáo dục về nhân quả giúp ḿnh sửa đổi cái hư dở nơi lương tâm chúng ta chứ không phải giúp ḿnh trốn chạy trước pháp luật bên ngoài. Nhân quả nhà Phật chú trọng đến động cơ luận hơn là kết quả luận, pḥng cháy chứ không chờ chữa cháy. Giáo dục của Đạo Phật là giáo dục từ ban đầu khi khởi tâm niệm bất thiện, trước khi xảy ra điều tệ hại, khuyên mọi người ăn hiền ở lành, hiểu biết nhân quả, tội phước, th́ tự nhiên trở thành người tốt. V́ vậy, người nào hiểu được nhân quả th́ đời sống người đó được b́nh yên. Một người ác có thể trở thành người hiền, một người xấu xa hèn hạ có thể trở thành một người tốt. Từ đó từng bước cải hóa trở thành bậc Hiền, bậc Thánh.

 

Đối với nhà Thiền, khi niệm thiện niệm ác đều quét sạch, trực giác phát sinh, con người sống trong trạng thái phi thiện phi ác, nhưng việc thiện ác trên thế gian vẫn quán xuyến, không lầm. Đó là người đang ở trong trạng thái thiền định, có đời sống không niệm khởi.

 

Đức Phật dạy, trên cuộc đời này có bốn hạng người:

Hạng người thứ nhất, từ tối vào nơi tối.

Hạng người thứ hai, từ tối đi ra sáng.

Hạng người thứ ba, từ nơi sáng đi vào tối.

Hạng người thứ tư, từ nơi sáng đi đến sáng.

Thế nào gọi là từ tối đến tối? Nghĩa là người đó sanh trong một gia đ́nh nghèo khổ, kém văn hóa, không có đạo đức, lại không học hiểu đạo lư, với ư nghĩ ác, miệng nói ác, thân làm ác, nên gọi là từ tối mà đến tối.

 

Hạng người thứ hai, từ tối đến sáng, nghĩa là người này sanh trong một gia đ́nh nghèo khổ, không có văn hóa, không có đạo đức, nhưng tự thân người đó nỗ lực tu hành, ư nghĩ điều lành, miệng nói điều lành, thân làm việc lành, ngày càng thăng hoa trên đời sống đạo đức, nên gọi là người từ tối mà đến sáng.

 

Hạng người thứ ba, từ nơi sáng đi vào tối, nghĩa là họ sanh trong một gia đ́nh khá giả, có văn hóa, có đạo đức, nhưng bản thân lại nghĩ điều ác, miệng nói ác, thân làm ác, không biết đến đạo lư, nên gọi là từ sáng đi đến tối.

 

Hạng người thứ tư, từ sáng đi đến sáng, nghĩa là người này được sanh ra trong một gia đ́nh khá giả, có đạo đức, văn hóa, lại biết tu học, ư nghĩ điều lành, miệng nói lành, thân làm lành. Đây là hạng người hữu phước, gọi là từ sáng đến sáng.

 

Tất cả chúng ta sống trong cuộc đời này đều do nghiệp quả biểu hiện từ những kiếp trước. Mọi hậu quả chúng ta đang mang đều chính do bản thân chúng ta tạo tác. Các pháp chuyển biến từ trạng thái này sang trạng thái khác, tâm lư chuyển biến từ trạng thái này đến trạng thái khác, th́ nghiệp cũng chuyển biến từ trạng thái này đến trạng thái khác, không có cái ǵ đứng yên một chỗ. V́ vậy, nghiệp có thể chuyển, từ người ác có thể thành người hiền, từ người hiền nếu không tu cũng có thể trở thành người ác.

 

Trong cuộc sống b́nh thường, nếu chỉ có một Nhân duy nhất, tốt hoặc xấu, th́ chắc chắn sẽ có quả, tốt hoặc xấu, tương xứng với Nhân. Nhưng thông thường th́ có cả một tập hợp Nghiệp Nhân tốt, xấu, lành, ác, lẫn lộn. Chúng tác động qua lại để hoặc gia tốc hay tŕ hoăn quá tŕnh Nhân đến Quả hoặc giảm thiểu hay triệt tiêu luôn Nghiệp Quả.


Con người trong cuộc sống thường đă gieo trồng Hằng hà sa số là Nhân, tốt có, xấu có, lành có, ác có. Có người Nhân tốt, Nhân lành nhiều. Có người Nhân xấu, Nhân ác nhiều. Tốt, xấu, lành, ác trộn lẫn vào nhau thành một tập hợp vô cùng phức tạp. Lại thêm, trong quá tŕnh từ Nhân đến Quả th́ chính Nhân và Quả cũng biến thành duyên vừa thuận, vừa nghịch để tạo điều kiện thích hợp gia tốc hay tŕ hoăn quá tŕnh. Cái phức tạp này phàm trí ta không thể nghĩ bàn.


Tuy phức tạp là thế nhưng có một bộ máy lưu trữ, lựa chọn, sàng lọc, cân đo, bù trừ, theo dơi đâu vào đấy, không sai, không lẫn, tuyệt đối vô tư, tuyệt đối công b́nh để định nên phước, họa của một người. Bộ máy ấy có nhiều tên gọi như Thượng Đế, Đấng Tối Cao, Đấng Toàn Năng, Đấng Cao Xanh v. v... Trong Phật Giáo th́ gọi là Tâm. Việc làm này của Tâm th́ đúng là ngoài sức tưởng tượng của thế nhân. Đúng vậy, đây là một việc làm vô cùng phức tạp vô cùng huyền diệu, phức tạp và huyền diệu đến chỗ chẳng biết gọi là ǵ, nên gọi là Định Mệnh.


Trong cơi Ta Bà này, nơi nào cũng có cảnh ấm no, sung túc, cao sang, hạnh phúc xen lẫn với cảnh đói rét, thiếu thốn, hạ tiện, khổ đau. Cảnh trên dành cho những người đă giác ngộ lư Nhân Quả và ra sức gieo trồng nhiều Nhân tốt, c̣n cảnh dưới dành cho những người v́ quá tham, sân, si đă gieo cấy nhiều Nhân xấu. Dĩ nhiên hai cảnh ấy biến hóa khôn lường và có vô số mức độ khác nhau v́ số Nhân tốt, xấu gieo trồng chẳng ai giống ai. Nhân đă thế, duyên đă thế th́ cuộc sống phải thế chứ. không thể khác được, trừ trường hợp ta đă ra sức nghĩ tốt, nói tốt, làm tốt, để tự ḿnh chủ động đổi thay cuộc sống của bản thân.


Người viết đă thốt nhiên thực chứng điều này vào năm 1976 khi c̣n là 1 tù nhân trong trại PleiBông, Pleiku. Trong một căn pḥng giam nhốt 60 người tù, nhưng chẳng ai giống ai. Tuy cùng là thân phận tù đày, tuy được Cộng Sản gọi chung một tên là Ngụy Quân, cùng chịu chung một chế độ lao tù khắc nghiệt, nhưng mỗi người mỗi khác. Ngoại h́nh khác nhau, gia cảnh khác nhau, sức khỏe khác nhau, việc làm khác nhau (người phải làm việc nặng, kẻ được làm việc nhẹ), no đói khác nhau (Người có vợ con thăm nuôi, no nê quanh năm, kẻ chẳng có thân nhân nào ngó tới, đói rụng, đói rời). Người được tương đối b́nh an trong khám, kẻ th́ bệnh hoạn rê rề, lại c̣n vướng vào chuyện nọ, chuyện kia, bị lôi ra, kéo vào, cùm kẹp, biệt giam, đánh đập, bỏ đói v. v... Thời gian ở tù cũng kẻ dài, người ngắn. Tóm lại chẳng ai giống ai, mỗi người mỗi cảnh, tựu trung chỉ tùy vào tương quan Nhân Quả nơi mỗi cá nhân, nghĩa là tùy vào số Nhân tốt, xấu mà một người đă tự ư gieo trồng. Cái gọi là định mệnh thiên sai vạn biệt của nhân sinh chính là tập hợp những Quả đa dạng của số Nhân này. Đức Phật cũng dạy: "Chính v́ cái Nghiệp riêng của mỗi người mỗi khác, nên mới có cảnh dị đồng giữa chúng sinh".


Nhân quả thể hiện qua ba phạm trù thời gian, gọi là hiện báo, sanh báo và hậu báo. Hiện báo là kết quả trổ ngay trong hiện kiếp, có thể ngay tức khắc, hoặc một ngày, một tháng, một năm, nhiều năm…trong một đời này. Sanh báo là kết quả trổ ở kiếp sau khi vừa thọ nhận một thân mới. V́ vậy, có những người tạo việc lành bây giờ mà vẫn gặp điều không tốt v́ nhơn ác đă tạo từ kiếp trước. Hậu báo là khi ḿnh tạo việc lành hay việc dữ ở kiếp này, quả không trổ liền ở kiếp này hay kiếp tiếp theo mà nhiều kiếp về sau mới trổ, v́ duyên chưa đủ. Y cứ về lư nhân quả mà nói ba thời, ba khía cạnh của nhân quả.

 

Nhà Phật có nói: “Phàm làm việc ǵ phải nghĩ đến kết quả của nó”. Con người chúng ta làm việc đôi khi do bản năng, tính háo thắng hoặc thiếu suy nghĩ mà không lường trước những hậu quả của nó. Phần lớn những sự thất bại trong công việc đều do những yếu tố chủ quan trên mà ra. V́ vậy, áp dụng đạo lư nhân quả vào các công việc xă hội, chúng ta sẽ có được những thành công trong lao động. Người hiểu luật nhân quả sẽ không cho phép ḿnh suy nghĩ, nói năng và làm việc xấu. Nếu mọi người ai cũng được vậy th́ đất nước sẽ văn minh, xă hội có văn hoá, gia đ́nh sẽ hạnh phúc. V́ thế, giáo dục con người biết suy nghĩ tốt, làm việc lành là một nhiệm vụ cao cả và thiết yếu.

 

Những ai có niềm tin xác tín về nhân quả, thiện ác, dĩ nhiên khi suy nghĩ, nói năng hay hành động ǵ đều phải có thái độ thận trọng. Một tách nước trà lỡ đổ xuống đất, muốn lấy lên lại không dễ. Một ư nghĩ, lời nói, hành động xấu ác buông ra lỡ lầm, mang lại một hậu quả ghê gớm khôn lường. Một bài kệ nói về nhân quả như sau:

“Dục tri tiền thế nhân

Kim sanh thọ giả thị

Dục tri lai thế quả

Kim sanh tác giả thị. ”

Tạm dịch:

“Muốn biết nhân đời trước

Xem thọ nhận đời này

Muốn biết quả đời sau

Xem tạo tác đời này. ”

 Cái thọ dụng trong cuộc sống này, chánh báo và y báo của ḿnh, xem thử ḿnh mang thân như thế nào, con người có hạnh phúc hay không, nghèo hay giàu, ngu hay trí… cứ nghiệm lại mà biết rằng nhân đời trước ḿnh tạo là nhân ǵ. Nho giáo có câu:“Nhất ẩm nhất trác, giai do tiền định”. Một cái ăn, một cái uống, một cái mặc cũng đều do tạo nhơn lành hay dữ ở kiếp trước. Muốn biết kết quả kiếp sau ra sao, nơi kiếp này hăy suy xét sự tạo tác của thân - khẩu - ư của ḿnh ra sao. Nếu chúng ta có chánh kiến về nhân quả sẽ có thể biết được quá khứ, hiện tại, vị lai của ḿnh và người như thế nào, từ đó quyết chí tiến tu để mỗi ngày được thăng hoa hơn trên lộ tŕnh tu tập.

 

V- ĐỂ KẾT LUẬN

 

Qua thuyết nhân quả của Đạo Phật cho chúng ta thấy có sự tái sanh, luân hồi, có quả báo khổ vui trong các kiếp sống. Các vị Đạt Lai Lạt Ma bên Tây Tạng đă nói đến thuyết tái sinh, đi t́m hậu thân và các cơi sống. Thân ngũ uẩn của chúng ta đều do nghiệp lực mỗi người vẽ ra mà có sự sai biệt về h́nh dáng, tính cách, hoàn cảnh. Cho nên, ḿnh là Thượng đế của chính ḿnh, tự tạo ra hoàn cảnh chánh báo và y báo cho chính ḿnh. Người hiểu đạo lư, niềm tin này làm cho họ tự ư thức dè dặt, thận trọng trong mọi ư nghĩ, lời nói, việc làm của ḿnh, chuyên tu ba nghiệp cho được thanh tịnh, ngơ hầu chuyển hóa bản thân, gia đ́nh và xă hội đều dứt ác hành thiện.

 

Nghiệp Báo đă là cội gốc của Luân Hồi. Vậy muốn thoát Luân Hồi th́ phải quét sạch Nghiệp Báo. Nhưng Nghiệp Báo do đâu mà có? Phật học định nghĩa Nghiệp là những hành động có tác ư (cetanà) của thân, miệng, ư. Tuy nói là thân, miệng, ư, nhưng ư mới thật là chính danh thủ phạm gây tạo Nghiệp nhân. V́ ư có khởi suy nghĩ th́ miệng mới nói năng, chân tay mới hành động. Ư có tham, sân, si th́ miệng mới nói những điều gian dối; độc ác; thêu dệt (bé xé ra to, ít xít thành nhiều); dục bị, xui nguyên và thân mới chém giết, trộm cắp, tà dâm. Có tác ư nghĩa là có tư tưởng xen vào. Cứ có tư tưởng là có Nghiệp Nhân, hay nói khác đi th́ tư tưởng là đầu dây, mối nhợ, gốc gác, cội nguồn của Luân Hồi, chứ không c̣n ǵ khác nữa. Cũng v́ vậy Phật Giáo đề cao Sám Hối. Sám hối là sau khi làm một điều chẳng lành liền biết ăn năn, hối hận và quyết tâm không tái phạm nữa. Sám hối tùy theo mức độ thành khẩn có hiệu lực to lớn như giảm thiểu ảnh hưởng hoặc triệt tiêu Nhân xấu. Sám hối là sự chuyển hướng của tư tưởng. Tư tưởng chuyển th́ Nghiệp Báo chuyển. Tư tưởng dứt th́ Nghiệp Báo dứt.


Hành động của chư Phật, chư Bồ Tát không tạo Nghiệp Nhân v́ các Ngài luôn sống trong Chánh Niệm, một trạng thái phi tư tưởng. C̣n chúng sinh th́ hành động nào cũng bị tư tưởng chi phối nên cũng đều gieo cấy Nghiệp Nhân. C̣n có mặt của tư tưởng trong mọi hành động th́ con người, Nghiệp Báo c̣n dài, và c̣n phải măi măi trôi lăn, ch́m đắm, luân hồi chẳng biết đến bao giờ. V́ vậy trong nhà Phật đă có câu “Bồ Tát sợ NHÂN, chúng sanh sợ QUẢ” là vậy.


Cũng v́ thế trước sau hai pháp cao tột, rốt ráo mà người Phật Tử nên tinh tấn hành tŕ vẫn chỉ là Chánh Niệm và Tứ Niệm Xứ. Thực hành Chánh Niệm hay Tứ Niệm Xứ là sống trọn vẹn với hiện tiền, tức phi tư tưởng vậy. Trong tức th́, phi tư tưởng giúp ta giải thoát khỏi phiền năo, khổ đau và sợ hăi, nghĩa là đưa ta vào cảnh giới giải thoát, vào Hữu Dư Niết Bàn ngay trong cuộc sống này, ở thế gian này. Một khi đă giải thoát th́ tâm thái mới trở nên an nghỉ, tĩnh lặng, sáng suốt, t́nh yêu thương chân chính mới ló dạng, và từ đó gia đ́nh mới thật sự hạnh phúc, xă hội mới thật sự an lạc và thế giới mới thật sự ḥa b́nh. Về lâu, về dài phi tư tưởng sẽ đưa ta ra khỏi luân hồi sinh tử, nhập vào cảnh giới Vô Dư Niết Bàn, một cơi hạnh phúc tuyệt đối, vĩnh hằng chỉ dành cho những người đă dũ sạch Nghiệp Báo.


Là người Phật tử chân chính, ta phải có sự tin tưởng tuyệt đối về lư nhân quả v́ là một lẽ thật, một CHÂN LƯ sống. Chúng ta có thể kiểm nghiệm ở nơi hiện tượng hữu sanh hữu diệt theo chiều nhân quả, từ đó áp dụng tu tập cho bản thân ḿnh và mọi người, chuyển đổi những hư dở, xấu ác nơi ḿnh, góp phần vào đời sống gia đ́nh và xă hội được b́nh an, phúc lạc. Tin nhân quả, chúng ta tự ư thức dè dặt từng bước đi trong cuộc sống này, chính bản thân ḿnh sống có ư nghĩa. Và, chúng ta đem cái ư nghĩa đó làm những việc hữu ích cho mọi người. Giáo dục con người biết tin nhân quả th́ bản thân họ được an vui, gia đ́nh họ được hạnh phúc và xă hội được ổn định trật tự, làm nền tảng xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh.

 

 

 

 

 

 

 

 

LÊ ÁNH
(tháng 1 năm 2019)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trang Thơ và Truyện của Lê Ánh              |                 www.ninh-hoa.com