Trang Thơ và Truyện của Lê Ánh                |                 www.ninh-hoa.com

Bs LÊ ÁNH
Bút hiệu:
LÊ P Thọ


 
 
Quê làng Phú Thọ, Ḥn Khói, Ninh Ḥa,
Khánh Ḥa, Việt Nam
Cựu học sinh các trường Tiểu học Pháp Việt,Ninh Ḥa, Trung học Vơ Tánh
Nha Trang, Việt Nam
Tốt nghiệp Y Khoa Bác Sĩ tại Đại Học Y Khoa Sài G̣n

Làm việc tại Quân Y viện Pleiku, Bệnh viện
Nguyễn Tri Phương, Sài G̣n,

Làm việc tại Covenant Medical Center, Lubbock, Texas, Hoa Kỳ.

 

 

Hiện làm vườn tại Phoenix, Arizona, Hoa Kỳ.

 Tập ṭ viết lách dưới bút hiệu Lê Phú Thọ,
Anh Tư Ḥn Khói.

 

 

 

 

 

 

 

PHẬT HỌC 44

Tứ Vô Lượng Tâm

 - Lê Ánh

 

 

 

I-                 TỔNG QUAN

 

 

 

Xả vô lượng tâm là tâm buông xả tất cả, trong ḷng không chấp chứa thị phi, nhân ngă, bỉ thử, phải quấy, tốt xấu, hơn thua, buồn vui, thương ghét. Nói cách khác, buông xả là một trạng thái thiền định sâu, chặt đứt tất cả mọi phiền năo vô minh mà an nhiên tự tại giữa ḍng đời. Đức Phật tu tập đạt được tâm xả vô lượng, trong ḷng Ngài thanh tịnh với tâm thường định nên không bấn loạn trước nghịch cảnh chướng duyên. Các vị Bồ tát xả chấp ngă, xả chấp pháp cho đến khi các Ngài xả cả địa vị tu chứng, tâm hoàn toàn buông thư không dính mắc thế gian và xuất thế gian nên được tôn xưng là bậc Vô trụ, Vô nhiễm.

Công cuộc giáo hoá độ sanh của Đức Phật thành tựu viên măn chính nhờ Ngài tu tập Tứ vô lượng tâm đạt đến vô lượng. Tứ vô lượng tâm là Bốn tâm vô lượng bao gồm: Từ vô lượng tâm, Bi vô lượng tâm, Hỷ vô lượng tâm và Xả vô lượng tâm.

1- Từ vô lương tâm.   “Từ” nguyên văn là

“Từ năng dữ nhất thiết chúng sanh chi lạc”.

Từ là ban vui, đem t́nh thương vô điều kiện đến cho tất cả chúng sanh. Trong cuộc sống, để tu tập đạt được Từ vô lượng tâm, trước tiên cần phải có ḷng trắc ẩn thương người thương vật, có xúc cảm thương yêu đồng loại th́ mới có khả năng đem an vui đến cho người khác bằng cách giúp đỡ vật chất hoặc tinh thần để họ vui sống an lạc. Với ḷng từ vô lượng, Đức Phật đă ban vui, ban lợi ích vô lượng cho tất cả chúng sanh. Tâm “từ” của Ngài là t́nh thương không điều kiện, không bị ràng buộc và t́nh thương đó không mưu cầu. Đức Thế Tôn hóa độ những người mạt hạng, người cùng khổ của xă hội và cứu vớt tất cả sinh linh, nên “từ” của Ngài là ban vui cùng khắp.

Bồ tát ban vui cho chúng sanh có khi bằng vật chất, bằng tinh thần hoặc bằng đạo lư. Các Ngài ban tặng, khuyên răn hoặc đem đạo lư giáo hoá nhằm giúp chúng sanh bớt mê khai ngộ, tháo gỡ bế tắc tinh thần, giảm thiểu ràng buộc để chúng sanh có thể sống đời thong dong, tự tại và an vui trọn vẹn. Với nội tâm trong sáng, các Ngài phục vụ lợi ích chúng sanh có thể làm cho người khác bớt khổ được vui bởi ḷng vị tha vô ngă, v́ cảm nhận được đồng loại có niềm đau, có xúc cảm đau khổ khi gặp phải điều bức bách, ép ngặt làm cho hệ thống thần kinh và năo bộ của cơ thể phải cảm xúc đau đớn. Nếu quán chiếu được điều ấy, tâm từ sẽ nảy nở và phát triển rồi dần h́nh thành được ḷng trắc ẩn để có thể thương yêu đồng loại, thương yêu chúng sanh, đó là ư nghĩa của “Từ”. V́ thế, chúng ta cần phải tu tập hạnh trang trải tâm từ mà không mưu cầu lợi ích, không điều kiện để có thể xoa dịu niềm đau nhân thế bằng chất liệu yêu thương và đem lại an vui trong mọi hoàn cảnh.

2- Bi vô lượng tâm.- Chữ Hán có câu: “Bi năng bạt nhấtthiết chúng sanh chi khổ.” Đạo Phật là đạo từ bi, đạo cứu khổ, thương người, thương vật và thương tất cả chúng sanh. H́nh ảnh Đức Phật với nhân dáng toàn mỹ, tinh thần Ngài với trí tuệ, uy dũng, hùng lực và từ bi. Khi chúng sanh bị vướng vào trói buộc, Ngài t́m mọi cách tháo gỡ để tâm hồn họ được thanh lương, không c̣n bị phiền năo chi phối và tham sân si dằn vặt trong ḷng. Diệt khổ là tác dụng của tâm bi đạt đến vô lượng, khi thấy người thiện hay kẻ ác, bạn hay thù, giàu hay nghèo, sang hay hèn, người hay vật cho dù gặp khổ bất cứ hoàn cảnh nào, Đức Thế Tôn đều sẵn ḷng cứu giúp để chúng sanh được an vui, hạnh phúc bởi đó là ḷng trắc ẩn cao thượng của Ngài trước nỗi khổ niềm đau của chúng sanh.V́ vậy, nỗi khổ của chúng sanh vô cùng th́ tâm bi của Bồ tát cũng vô tận.

Những vị Bồ tát cứu khổ độ sanh như: Bồ tát Quan Âm, Bồ tát Phổ Hiền, Bồ tát Địa Tạng... với tâm bi đă phát đại nguyện lăn xả vào cuộc đời ô trược để cứu khổ độ sanh. Các Ngài ḥa quang đồng trần để từng bước tháo gỡ những vướng mắc, đau khổ cho chúng sanh.Người ở thế gian thấy ai đau khổ th́ bị xúc cảm làm chấn động thân tâm. Ngược lại, các vị Bồ tát với ḷng thương vô bờ  mà chẳng bị xúc cảm thường t́nh của thế gian làm chấn động, v́ xúc cảm của các Ngài đă được tịnh hoá nên mang tính trong sáng. Để tôn vinh các Ngài, chúng ta cần tu tập, biết thương yêu những người bất hạnh lầm than trong cuộc sống, tuỳ hỷ và không đố kỵ khi gặp người thành công, thành đạt, thành danh hay hạnh phúc. Cần nói năng, suy nghĩ và hành động thiện lành, gieo nhân tốt để tránh quả khổ, dần dần tâm bi phát triển đến mọi người, mọi giới trong xă hội và lan toả đến vô lượng để tất cả đều đạt được an vui hạnh phúc.

3- Hỷ vô lượng tâm c̣n gọi là Đại hỷ, là niềm vui không bờ mé. Những niềm vui thế gian rồi cũng qua đi, nỗi buồn nào rồi cũng dần nhạt phai theo năm tháng, v́ niềm vui đến ngập tràn rồi cũng phải tắt lịm. Riêng niềm vui trong ḷng Đức Thế Tôn và các vị Bồ tát dù gặp phải trở ngại khó khăn hoặc chướng duyên nghịch cảnh vẫn không bao giờ lay động, v́ các Ngài đă tu tập viên măn Hỷ vô lượng tâm, niềm vui đó xuất phát từ tu tập Giới-Định-Huệ, do làm các hạnh lành, giữ giới, thiền định, sống lành mạnh tự do hoá tâm hồn và thấy được đạo lư chân thật. V́ thế, các Ngài cho rằng không phải chỉ có ánh sáng của ngũ dục lục trần là niềm vui tối thượng trên cuộc đời này. Bởi lẽ, cuộc sống dồi dào tiền bạc, tài sản và của cải vật chất th́ tất nhiên gặp nhiều thuận lợi hơn, nhưng có biết bao người giàu có bỗng chốc trở nên hư hỏng, ăn chơi trác táng, trụy lạc, sa vào tệ nạn xă hội rồi trở thành những phạm nhân. Niềm vui của ngũ dục lục trần chính là nhân đau khổ, c̣n niềm vui của người thấu hiểu đạo lư th́ cuộc đời được xây đắp bằng những hạnh lành, công huân giữ giới, thiền định và chuyển mê khai ngộ, có thể xua tan phiền năo và tạo được niềm vui chân thật tận cơi ḷng. Cho nên người có đức tuỳ hỷ th́ tâm thanh thản, nhẹ nhàng, không vướng bận, c̣n người có ḷng vị kỷ thường hay ganh tỵ và đố kỵ khi thấy người khác giàu có hoặc hạnh phúc hơn ḿnh.V́ thế, Tăng Ni, phật tử cần tu tập đạt Hỷ vô lượng tâm th́ mới có thể làm cho phật pháp xương minh, người người an lạc.

4- Xả vô lượng tâm là tâm buông xả tất cả, trong ḷng không chấp chứa thị phi, nhân ngă, bỉ thử, phải quấy, tốt xấu, hơn thua, buồn vui, thương ghét. Nói cách khác, buông xả là một trạng thái thiền định sâu, chặt đứt tất cả mọi phiền năo vô minh mà an nhiên tự tại giữa ḍng đời. Đức Phật tu tập đạt được tâm xả vô lượng, trong ḷng Ngài thanh tịnh với tâm thường định nên không bấn loạn trước nghịch cảnh chướng duyên. Các vị Bồ tát xả chấp ngă, xả chấp pháp cho đến khi các Ngài xả cả địa vị tu chứng, tâm hoàn toàn buông thư không dính mắc thế gian và xuất thế gian nên được tôn xưng là bậc Vô trụ, Vô nhiễm.

 Tóm lại, với bốn đức tính Đại từ, Đại bi, Đại hỷ và Đại xả, c̣n gọi là Tứ vô lượng tâm, Đức Thế Tôn đă trở thành Phật như trong kinh đă nói: Ngài là Bậc Thiên nhân chi Đạo sư, Tứ sanh chi Từ phụ (Bậc Đạo sư dẫn đường cho cơi Trời, cơi Người và cha lành của cả bốn loài). Người tu tập cần tinh tấn theo lời Phật dạy, lấy tâm từ bi hỷ xả làm lợi ích cho vạn loại, chan ḥa t́nh thương chân thật khắp nơi nơi để giúp đời, giúp người, xả bỏ mọi chấp trước để nội tâm an trú chánh niệm, lấy hạnh phúc làm chất liệu chuyển hóa thân tâm và thành tựu viên măn Bốn tâm vô lượng. Và chính Bốn tâm vô lượng này là cương lĩnh, là phương châm xử thế của người đệ tử phật chân chính.

 

 

 

 

  

LÊ ÁNH
  (01/2021)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trang Thơ và Truyện của Lê Ánh              |                 www.ninh-hoa.com