Trang Thơ và Truyện của Lê Ánh                |                 www.ninh-hoa.com

Bs LÊ ÁNH
Bút hiệu:
LÊ P Thọ


 
 
Quê làng Phú Thọ, Ḥn Khói, Ninh Ḥa,
Khánh Ḥa, Việt Nam
Cựu học sinh các trường Tiểu học Pháp Việt,Ninh Ḥa, Trung học Vơ Tánh
Nha Trang, Việt Nam
Tốt nghiệp Y Khoa Bác Sĩ tại Đại Học Y Khoa Sài G̣n

Làm việc tại Quân Y viện Pleiku, Bệnh viện
Nguyễn Tri Phương, Sài G̣n,

Làm việc tại Covenant Medical Center, Lubbock, Texas, Hoa Kỳ.

 

 

Hiện làm vườn tại Phoenix, Arizona, Hoa Kỳ.

 Tập ṭ viết lách dưới bút hiệu Lê Phú Thọ,
Anh Tư Ḥn Khói.

 

 

 

 

 

 

 

PHẬT HỌC

T́m Hiểu TỨ DIỆU ĐẾ Trong Đạo PHẬT

 - Lê Ánh

 

 

I-                 TỨ DIỆU ĐẾ (Bốn Chân Lư)

 

Tứ Diệu Đế là Hán dịch từ chữ Phạn Catvary Aryasatyani. Arya là Diệu, cao quư, mầu nhiệm; Satya là Đế, là sự thật, là chân lư.Tứ Diệu Đế c̣n được gọi là Tứ Chân Đế, Tứ Thánh Đế, Bốn Chân Lư mầu nhiệm.

 

1- Khổ Đế (Dukkha): là thực trạng đau khổ của con người.

2- Tập Đế (Samudaya): là nguồn gốc hay nguyên nhân dẫn đến thực trạng đau khổ.

3- Diệt Đế (Nirodha): là sự kết thúc hay sự chấm dứt khổ đau.

4- Đạo Đế (Magga): là con đường hay phương pháp thực hành dẫn đến chấm dứt khổ đau.

Giáo lư Tứ Diệu Đế được nói đến trong các kinh đế phân biệt tâm kinh (Trung Bộ III), kinh Phân biệt thánh đế (Trung A Hàm), kinh Chuyển pháp luân (Tương Ưng & Tạp A Hàm), và rải rác trong kinh tạng Pàli cũng như Hán tạng.

 

II- NỘI DUNG TỨ DIỆU ĐẾ

 

1)- Khổ Đế (Dukkha): Khổ đau là một thực trạng mà con người cảm nhận từ lúc lọt ḷng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, không ai phủ nhận điều ấy. Con người luôn có xu hướng vượt thoát khổ đau, t́m kiếm hạnh phúc, nhưng v́ không hiểu rơ bản chất của khổ đau nên không t́m được lối thoát thực sự; đôi khi ngược lại, càng t́m kiếm hạnh phúc càng vướng vào khổ đau.

 

Khổ Đế là một chân lư, một sự thực về bản chất cái khổ. Đức Phật dạy: Này các Tỳ kheo, sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thương yêu mà biệt ly là khổ, mong cầu mà khôngđược là khổ. Tóm lại, chấp thủ năm uẩn là khổ.“ (Tương Ưng V). Như vậy, Khổ có thể chia làm 3 phương diện như sau:

 

a)- Về phương diện sinh lư: Khổ là một cảm giác khó chịu, bức xúc, đau đớn. Khi ta bị một gai nhọn đâm buốt bàn chân hay một hạt cát vào trong mắt khó chịu..., đây là sự bức bách đau đớn của thể xác. Sự đau đớn của thể xác rất lớn, như Lăo Tử nói: Ngô hữu đại hoạn do ngô hữu thân (Có thân nên có khổ). Con người sinh ra đă vất vả khốn đốn; lớn lên già yếu, bệnh tật khốn khổ vô cùng; và cuối cùng, cái chết: sự tan ră của thể xác đem đến khổ thọ lớn lao.

 

b)- Về phương diện tâm lư: Là sự khổ đau do không toại ư, không vừa ḷng v.v... Sự không vừa ư sẽ tạo nên nỗi đau đớn về tâm lư.Những mất mát, thua thiệt trong cuộc đời làm ḿnh khổ. Người ḿnh thương muốn gần mà không được, người ḿnh ghét mà cứ gặp gỡ hoài, ḿnh muốn tiền tài, danh vọng, địa vị nhưng nó cứ vụt qua ngoài tầm tay của ḿnh. Cuộc đời như muốn trêu ngươi, những ước mơ không toại ư, ḷng ḿnh luôn trống trải, bức bách v.v...

Đây là nỗi khổ thuộc về tâm lư.

 

c)- Khổ là sự chấp thủ năm uẩn (Upadana-skandhas): Cái khổ thứ ba này bao hàm hai cái khổ trên, như trong kinh đă dạy: Chấp thủ năm uẩn là khổ”.

Năm uẩn là 5 yếu tố nương tựa vào nhau để tạo thành con người, gồm có: thân thể vật lư và cấu trúc tâm lư như: cảm giác, niệm tưởng, hành và thức (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Nói một cách tổng quát, khi ta bám víu vào 5 yếu tố trên, coi đó là ta, là của ta, là tự ngă của ta, th́ sự khổ đau có mặt. Ư niệm về “thân thể tôi”, t́nh cảm tôi”, tư tưởng tôi”, tâm tư tôi”, nhận thức của tôi”... h́nh thành một cái tôi ham muốn, vị kỷ; từ đó, mọi khổ đau phát sinh. Mọi khổ đau, lo lắng, sợ hăi, thất vọng, điên cuồng đều gắn liền với ư niệm về cái tôi” ấy.

 

Tóm lại, cái khổ về mặt hiện tượng là cảm giác khổ về thân, sự bức xúc của hoàn cảnh, sự không toại nguyện của tâm lư. Về mặt bản chất, khổ đau là do sự chấp thủ, ngă hóa năm uẩn.

2)- Tập Đế (Samudaya): Tập là tích tập, các phiền năo tụ hội tạo thành năng lực đưa đến khổ đau; đây là nguyên nhân, là nguồn gốc của các khổ. Khi nhận thức được bản chất của khổ một cách rơ ràng, ta mới có thể đi vào con đường đoạn tận khổ đau (Đạo Đế).

 

Cuộc đời là khổ đau hay không khổ? Câu trả lời là tùy thuộc vào thái độ tâm lư, cảm thọ và nhận thức của mỗi người; nguyên nhân của khổ có nguồn gốc sâu xa trong tâm tưởng của con người.Phật giáo cũng nh́n thấy các nguyên nhân của đau khổ; có cái phát sinh từ vật chất hay hoàn cảnh xă hội, nhưng nguyên nhân thật sự vẫn là tâm thức.

 

Nguyên nhân của khổ thường được các kinh đề cập chính là tham ái, do tham ái mà chấp thủ, bám víu vào các đối tượng của tham ái.Sự khao khát về dục lạc sẽ dẫn đến khổ đau, bởi v́ ḷng khao khát ấy không bao giờ thỏa măn.

 

Nguyên nhân sâu hơn và căn bản hơn chính là vô minh, tức là si mê không thấy rơ bản chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh khởi, đều vô thường và chuyển biến, không có cái chủ thể, cái bền vững độc lập ở trong chúng. Do không thấy rơ nên sinh tâm tham muốn, ôm giữ lấy các đối tượng lạc thú. Do không thấy rơ mới lầm tưởng rằng “cái tôi” là quan trọng nhất, là cái có thực cần phải bám víu, củng cố và thỏa măn nhu cầu của nó. Nói cách khác, do vô minh mà có chấp thủ cái tôi” và cái của tôi” như thân tôi, t́nh cảm tôi, tư tưởng tôi..., người yêu của tôi, tài sản của tôi, sự nghiệp của tôi... Do những chấp thủ ấy mà có những nỗi thống khổ của cuộc đời.

 

Chúng ta có thể nhận thấy một cách rơ ràng, khổ hay không là do ḷng ḿnh; ḷng ḿnh đầy tham lam, chấp thủ, nhận thức sai lầm th́ khổ là chắc chắn. Nói cách khác, do cái nh́n của mỗi người đối với cuộc đời mà có khổ hay không nếu không bị sự chấp ngă và dục vọng vị kỷ hay phiền năo khuấy động, chi phối, ngự trị trong tâm th́ cuộc đời đầy an lạc, hạnh phúc.

 

3)- Diệt Đế (Nirodha): Diệt là chấm dứt, là dập tắt. Diệt đế là sự chấm dứt hay dập tắt phiền năo, nguyên nhân đưa đến đau khổ và sự chấm dứt khổ đau; cũng có nghĩa là hạnh phúc, an lạc.Diệt đế đồng nghĩa với Niết bàn (Nirvana/ Nibbàna).

Đạo Phật xác nhận cuộc đời đầy dẫy những đau khổ, đồng thời cũng xác định có một sự thật khác nữa là an lạc, hạnh phúc.V́ vậy mà có sự tu tập để đạt được hạnh phúc.Hạnh phúc là ǵ?Hạnh phúc có các mức độ khác nhau.

 

a)- Hạnh phúc tương đối: Một khi bạn đă làm lắng dịu ḷng tham ái, chấp thủ, th́ những nỗi lo âu, sợ hăi, bất an giảm hẳn, thân tâm của bạn trở nên thanh thản, đầu óc tỉnh táo; bạn nh́n mọi vấn đề trở nên đơn giản và rộng lượng hơn. Đó là một h́nh thức của hạnh phúc. Kinh Trung Bộ có một ví dụ: Có một người con trai đang yêu một cô gái. T́nh cờ, anh ta bắt gặp cô gái nói chuyện, cười đùa với một chàng trai khác. Tâm hồn của người con trai đang yêu ấy bị xáo trộn mạnh mẽ, khó chịu, bực bội và đau khổ. Thời gian sau, người con trai ấy không c̣n yêu thương cô gái ấy nữa; lần này, anh ta gặp cô gái ấy đang nói chuyện, cười đùa với những chàng trai khác, nhưng h́nh ảnh ấy không làm tâm hồn anh ta đau đớn nữa. Cũng vậy, nhờ tâm trí không bị chi phối bởi những tư tưởng chấp thủ, nhờ không bị đun nóng bởi các ngọn lửa phiền muộn, lo lắng, sợ hăi, mà tâm ư của bạn trầm tĩnh và sáng suốt hơn, khả năng nhận thức sự vật hiện tượng sâu sắc và chính xác hơn, bạn tạo nên một phép lạ: thân tâm được chuyển hóa, thái độ ứng xử của bạn đối với mọi người độ lượng, bao dung và khiêm tốn; đối với của cải, tài sản, danh vọng trở nên thanh thản hơn, không c̣n bị áp lực của nó đè nặng lên trái tim ḿnh. Trên cơ sở ấy, bạn hưởng thụ đời sống có phẩm chất hơn.

 

Tùy vào khả năng giảm thiểu ḷng tham, sân và vô minh đến mức độ nào th́ đời sống của bạn sẽ được tăng phần hạnh phúc lên mức độ ấy.

 

Nếu bạn phát triển hạnh phúc tinh thần cao hơn bằng cách tu tập thiền định th́ bạn sẽ có sự an lạc tuyệt vời. Đức Phật dạy: Có người có thể không bị bệnh về thể xác trong một năm hay có thể đến cả trăm năm, nhưng thật hiếm có người không bị bệnh về tinh thần, dù chỉ trong mộtphút.” 

 

Những tâm lư được coi là bệnh của tinh thần gồm có 5 trạng thái tâm lư, thường gọi là 5 triền cái: tham lam, sân hận, hôn trầm ngủ nghỉ, dao động và hối hận, hoài nghi và do dự. Khi 5 loại tâm lư này có mặt, nó sẽ trói buộc và ngăn che tâm trí bạn; loại trừ chúng th́ tinh thần sẽ sáng tỏ thanh tịnh và an lạc như mặt trăng thoát khỏi mây che. Các trạng thái hạnh phúc tinh thần này được gọi là Tứ thiền.

 

b)- Hạnh phúc tuyệt đối: Trên nền tảng hạnh phúc tinh thần, bạn phát triển tuệ quán, hướng tâm đến đoạn trừ toàn bộ phiền năo vi tế, thâm sâu, bạn có thể đạt hạnh phúc tuyệt đối, tối thượng là Niết bàn. Diệt Đế chính là Niết bàn.Niết bàn là sự thanh tịnh, là hạnh phúc tuyệt đối. Đức Phật dạy: Vô bệnh lợi tối thắng, Niết bàn lạc tối thắng.” (K.Magandiya, TBK II).

 

Niết bàn c̣n được diễn tả dưới nhiều danh từ khác nhau, tiêu biểu như: vô sanh, giải thoát, vô vi, vô lậu, đáo bỉ ngạn, tịch tịnh, chân như, thực tướng, pháp thân... Niết bàn không phải là đối tượng của tư duy, khái niệm hay ngôn ngữ.Đây là trạng thái an lạc, hạnh phúc tuyệt đối khi tâm ư đă vắng mặt tham, sân, si.

 

Chúng ta thường quan niệm Niết bàn như một cảnh giới, một cơi nào đó cao cấp hơn cơi người, như là cơi thiên đường của các tôn giáo khác; đó là một sai lầm lớn. Niết bàn vượt thoát mọi khái niệm đối đăi về thời gian, không gian, có, không, lớn, nhỏ... Dù vậy, Niết bàn không phải là hư vô, mà là một thực tại thanh tịnh, siêu việt, không nằm trong phạm vi phân biệt của ư thức, hay nói cách khác, không thể nhận thức được Niết bàn khi đang c̣n tham, sân, si. Một vị Thiền sư nói: Hăy nh́n những rặng núi, những con suối chảy, những rừng cây xanh ngắt đẹp tuyệt vời kia. Khi biết nh́n mọi vật với một nhăn quan mới, một nhăn quan không bị chi phối bởi thamsân si, th́ cảnh đẹp kia chính là Niết bàn đó !Niết bàn không phải là một nơi chốn nào khác biệt với thế gian, một cảnh giới nào mà người ta có thể t́m đến.Niết bàn chính là ở đây.”Đức Phật và các vị Bồ Tát, A La Hán đă đạt Niết bàn ngay trong đời sống này. Điều đó nghĩa là Niết bàn nằm ngay trong tầm tay của mỗi người. Biểu hiện của Niết bàn là không c̣n tạo nghiệp và không c̣n tái sinh.

 

4)- Đạo Đế (Magga): Đạo là con đường, là phương pháp thực hiện để đạt được an lạc, hạnh phúc trong đời sống hằng ngày hay hạnh phúc tuyệt đối Niết bàn. Như vậy, toàn bộ giáo lư mà Đức Phật đă dạy đều là Đạo Đế, tổng quát và căn bản gồm có 37 pháp, thường gọi là 37 phẩm trợ đạo. Đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, đây là những Pháp do ta chứng ngộ và giảng dạy, các con phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập, truyền bá rộng răi để chánh pháp được trường tồn, v́ hạnh phúc cho chúng sinh, v́ an lạc cho chúng sinh, v́ ḷng thương tưởng cho đời, v́ hạnh phúc, v́ an lạc cho chư Thiên và loài người. Đó là Bốn Niệm Xứ, Bốn Chánh Cần, Bốn Thần Túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ Đề phần, Tám Thánh Đạo phần. (kinh Đại Bát Niết Bàn).

 

Trong 37 pháp th́ Tám Thánh Đạo được coi là tiêu biểu và căn bản nhất của Đạo Đế. Tám Thánh đạo, c̣n gọi là Tám Chánh Đạo - con đường chân chính - có 8 chi phần:

 

1)- Chánh Kiến (Sammà Ditthi): Thấy và hiểu đúng đắn, nghĩa là nhận thức đúng về đạo đức của cuộc sống, cái nào là thiện, cái nào là ác. Nhận biết đúng về bản chất của sự vật là vô thường, vô ngă, duyên sinh.Nhận thức rơ bản chất của khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến hết khổ.

 

2)- Chánh Tư Duy (Sammà Sankappa): Suy nghĩ đúng đắn, nghĩa là đừng để đầu óc của ḿnh nghĩ ngợi những vấn đề bất thiện như tham dục, tức tối giận hờn, bạo động hăm hại... dẫn tư duy của ḿnh hướng về tâm cao thượng như tư duy về sự buông thả, sự giải thoát, về thương yêu giúp đỡ chúng sinh, về sự bất bạo động, nhẫn nhục, trầm tĩnh.

 

3)- Chánh Ngữ (Sammà Vàcà): Ngôn ngữ đúng đắn, nghĩa là không nói những lời đưa đến đau khổ, chia rẽ, hung bạo, căm thù. Nói những lời lẽ đưa đến xây dựng niềm tin, đoàn kết ḥa hợp, thương yêu và lợi ích.

 

4)- Chánh Nghiệp (Sammà Kammanta): Hành vi đúng đắn, nghĩa là không có hành vi giết hại, trộm cướp, hành dâm phi pháp. Thực hành sự thương yêu, cứu giúp, không ham muốn thú vui bất thiện.

 

5)- Chánh Mạng (Sammà Ajivà): Đời sống đúng đắn, nghĩa là phương tiện mưu sinh, nghề nghiệp chân chính, không sống bằng những nghề phi pháp, độc ác, gian xảo.

 

6)- Chánh Tinh Tấn (Sammà Vàyàma): Nỗ lực đúng đắn, nghĩa là nỗ lực đoạn trừ điều ác, nỗ lực thực hành điều thiện.

 

7)- Chánh Niệm (Sammà Sati): Nhớ nghĩ đúng đắn, nghĩa là đừng nhớ nghĩ các pháp bất thiện, đừng để cho các đối tượng bất chính dẫn dắt ḿnh đi lang thang. An trú tâm ư vào thiện pháp, không quên thiện pháp.

 

8)- Chánh Định (Sammà Samàthi): Tập trung tư tưởng đúng đắn, nghĩa là đừng để tâm thức bị rối loạn, tập trung tư tưởng làm an tịnh tâm thức một cách đúng đắn, có hiệu quả phát triển tuệ giác.

Mối quan hệ giữa các chi phần Bát Chánh Đạo là không thể phân ly, chi phần này có trong chi phần kia, cái kia hỗ trợ cho cái này. Tám Chánh Đạo có thể chia làm 3 bước là Giới, Định và Tuệ.

 

Giới là Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng;

Định là Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định;

Tuệ là Chánh Kiến, Chánh Tư Duy.

Xác định Bát Chánh Đạo là con đường đưa đến giải thoát, Đức Phật dạy: Này Subhadda, trongpháp luật nào không có Bát Thánh Đạo th́ ở đấy không có Tứ quả Sa môn. “(kinh Đại Bát Niết bàn, TB I). Đức Phật dạy thêm: Nếu những Tỳ kheo sống chân chính (theo Bát Chánh Đạo) th́ cơi đời này không thiếu vắng những vị A La Hán.”

 

III- Giáo lư Tứ Đế là nền tảng của hệ thống giáo lư đạo Phật.

Ngay sau khi thành Phật, Đức Thế Tôn đi t́m những vị Bà La Môn đă truyền đạo cho Ngài, tất cả các vị thầy đều viên tịch.  Ngài đến Vườn Nai, nơi trú ngụ của năm anh em Kiều Trần Như, những bạn đồng tu khổ hạnh với Ngài trước đây, thuyết pháp đầu tiên cho họ lănh hội, đó là bài pháp “Tứ Diệu Đế”.  Bài pháp này gọi là bài pháp Chuyển Pháp Luân.  Từ đó, xuyên suốt hành tŕnh hoằng hoá của Đức Thế Tôn, giáo lư Tứ Diệu Đế được triển khai dưới mọi h́nh thức phù hợp với mọi căn cơ của mỗi con người.  Đức Thế Tôn đă nhiều lần xác định về tầm quan trọng và siêu việt của giáo lư Tứ Đế.

Một hôm, Đức Thế Tôn đang ngụ tại Kosambi trong rừng cây simsàpa, Ngài nhặt một ít lá simsàpa đưa lên hỏi:

Này các Tỳ Kheo, các ông nghĩ thế nào? Lá simsàpa ở trong tay ta nhiều hay là ở trong rừng simsàpa nhiều?”.

Bạch Đức Thế Tôn, lá trong tay Thế Tôn quá ít, c̣n lá trong rừng simsàpa th́ quá nhiều.”

Phậtdạy:Cũng vậy, này các Tỳ kheo, điều ta biết th́ quá nhiều, nhưng những ǵ ta dạy cho các ông th́ rất ít; nhưng đó là những ǵ cần thiết và căn bản cho sự giải thoát. Những ǵ ta đă dạy cho các ông? Chính là Đây là Khổ”, Đây là Khổ Tập”, Đây là Khổ Diệt”, Đây là con đường đưa đến Khổ Diệt.” (Tương Ưng V).

Ngài lại dạy: Những bậc A La Hán Chánh ĐẳngGiác ở trong quá khứ, ở trong tương lai hay hiện tại, được coi là vị Chánh Đẳng Giác đúng nghĩa là Chánh Đẳng Giác về Bốn Thánh Đế.” (Tương Ưng V).

 

Mục đích của đạo Phật là giải thoát mọi đau khổ, v́ vậy các pháp môn được thiết lập, mọi nỗ lực tu tập đều hướng về mục tiêu ấy.Giáo lư Tứ Diệu Đế được coi là thiện pháp tối thắng. Ngài Xá Lợi Phất nhận định: Ví như tất cả dấu chân của mọi loài động vật đều bị nhiếp trong dấu chân voi, v́ dấu chân này lớn nhất trong tất cả dấu chân. Cũng vậy, chư hiền giả, tất cả các thiện pháp đều tập trung trong Tứ Thánh Đế.”(Trung Bộ kinh I).

 

Trước khi nhập Đại Niết Bàn, Ngài thiết tha căn dặn chúng đệ tử: “Này các Tỳ Kheo, nay những Pháp do ta chứng ngộ và giảng dạy cho các thầy, các thầy phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn vĩnh cữu, v́ hạnh phúc cho chúng sinh, v́ an lạc cho chúng sinh, v́ ḷng thương tưởng cho đời, v́ lợi ích, v́ hạnh phúc, v́ an lạc cho loài Trời và Người; đó là bốn Niệm Xứ, bốn Chánh Cần, bốn Thần Túc, năm Căn, năm Lực, bảy Bồ Đề Phần, và tám Thánh Đạo phần.” (Kinh Đại Niết Bàn).

 

Đức Phật cũng dạy: Này các Tỳ kheo, nếu có ai nói rằng không cần xây dựng tầng dưới của ngôi nhà, tôi sẽ xây tầng trên củangôi nhà, sự kiện này không thể xảy ra. Cũng vậy, nếu có ai nói rằng không cần giác ngộ Tứ Thánh Đế, ta sẽ đoạn diệt khổ đau, sự kiện này không thể xảy ra.”(Tương Ưng V).

 

Cho đến lúc sắp nhập Đại Niết Bàn dưới cây sa la song thọ, một lần cuối, Ngài nhắc lại giáo lư Tứ Đế cho các Tỳ Kheo quây quanh: Các thầy Tỳ Kheo, đối với Bốn Chân Lư, các thầy c̣n hoài nghi chỗ nào th́ có thể chất vấn tức khắc, không nên giữ sự hoài nghi mà không cầu giải đáp “(Kinh Đại Bát Niết Bàn).

Trong kinh Đại Bảo Tích, tập 9, phần 61, Phẩm Bồ Tát Vô Tận Ư, Ngài Xá Lợi Phất giảng giải về sự tu tập của hàng Bồ Tát, nhấn mạnh:  “Bát Thánh Đạo đều là Đạo của tất cả chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại, Bồ Tát ấy hiểu rơ, rồi diễn nói khai thị phân biệt, hiển hiện thành tựu Phật Đạo.”

 

Trong kinh Trường A Hàm, phẩm Đại Điền Tôn, Đức Thế Tôn có dạy:  “Pháp tu Bát Chánh khiến cho chúng sinh thoát khỏi tam giới, vượt khỏi luân hồi, sanh tử.”

Trong kinh Trung A Hàm, phẩm Thánh Đạo, Phật dạy:  “Có một con đường khiến chúng sinh được thanh tịnh, xả bỏ ưu sầu, than khóc, dứt hết buồn khổ, ảo năo, chứng được như Pháp, đó là Chánh Định, có tập, có trợ, cũng có cụ, bao gồm bảy chi c̣n lại trong Bát Chánh Đạo.”

 

Trong phẩm Bồ Tát Sư Tử Hống, kinh Đại Bảo Tích, giảng về Ngũ Âm, Phật dạy:  “Phá ḷng tham, nên tu Bát Chánh Đạo.  Tu Bát Chánh Đạo không sinh tử, nên gọi là được giải thoát.”

Xuyên suốt qua các kinh với những lời Phật dạy, Giáo lư Tứ Diệu Đế được coi là pháp môn căn bản, là thiện pháp tối thắng cho sự tu tập tiến đến giải thoát.

 

Giáo lư Tứ Diệu Đế đă được Đức Thế Tôn thiết lập trên phương thức biện chứng bốn bước:

 

1-                Xác định vấn đề:  Đời sống đau khổ của con Người;

2-                Nguyên nhân gây ra sự đau khổ: Ái dục;

3-                Giải pháp chấm dứt sự đau khổ: TuBát Chánh Đạo;

4-                Kết quả của giải pháp: Chấm dứt khổ đau, đưa đến giải thoát.

Như vậy, tầm quan trọng của giáo lư Tứ Diệu Đế đă được xác định bởi chính Đức Phật và những đệ tử xuất sắc của Ngài.Trải qua hơn 2.500 năm, giáo lư Tứ Diệu Đế vẫn được tất cả các bộ phái Phật giáo, Nguyên thủy hay Đại thừa, đều xiển dương và hành tŕ.

Con đường tu tập của Đạo Đế là con đường nỗ lực tự thân của mỗi hành giả Phật tử; con đường ấy vừa thực tiễn vừa có hiệu quả ngay tại đời sống này.

 

o0o

 

IV-HÀNH TR̀ TU TẬP

 

Giáo lư đạo Phật không phải là một học thuyết, mà là một công tŕnh tu tập, có thực hành mới biến lư thuyết thành thực tiễn, thành chất liệu sống trong mỗi con người, như ăn cơm mới no, uống nước mới hết khát. Đó là chỗ khó khăn của người Phật tử, không thể nhờ cậy vào ai tu giúp cho ḿnh, hoặc ai ban cho ḿnh được giải thoát, hết khổ.

 

Trong kinh đưa ra 3 giai đoạn nhận thức và hành tŕ đối với Bốn Chân Lư, thuật ngữ gọi là Tam chuyển: Thị chuyển, Khuyến chuyển, Chứng chuyển.

1)- Đối với Khổ Đế:Thị chuyển là nhận thức, hay nhận diện cái khổ. Thấy được khổ là bước đầu tiên; nếu không thấy, không biết th́ sẽ không có hành động diệt khổ.Khuyến chuyển là đi sâu hơn vào bản chất cái khổ, khởi lên ước muốn đoạn trừ khổ.Chứng chuyển cảm nhận một cách sâu sắc và toàn diện về bản chất của khổ đau.

2)- Đối với Tập Đế: Thị chuyển là nhận diện nguyên nhân đưa đến đau khổ. Khuyến chuyển là khởi lên ước muốn đoạn trừ các nguyên nhân ấy.Chứng chuyển là tu tập, nỗ lực để đoạn trừ chúng.

3)- Đối với Diệt Đế: Thị chuyển là nhận thức được sự vắng mặt của đau khổ là hạnh phúc, là không có đau khổ, ta phải thấy điều ấy. Khuyến chuyển là khởi lên ước muốn được hạnh phúc, hưởng được niềm vui, thanh thản an lạc của đời sống.Chứng chuyển là đạt được, hưởng thụ thật sự trạng thái an lạc ấy.

4)- Đối với Đạo Đế: Thị chuyển là nh́n thấy con đường, thấy được phương pháp diệt khổ, thấy rơ rằng đây là con đường đưa đến giải thoát; nói cách khác, thấy được lối thoát ! Khuyến chuyển là khởi lên ước muốn đi trên con đường ấy, khởi hành trên lộ tŕnh ấy. Chứng chuyển là đi trên con đường ấy một cách trọn vẹn.

 

Tóm lại, đối với mỗi chân lư, chúng ta đều phải nhận thức rơ ràng. Từ nhận thức thông suốt sẽ dẫn đến ước muốn hành động, và cuối cùng đạt được mục đích. Chúng ta phải thấy rơ diễn biến của hành vi, ngôn ngữ và tư duy của chính ḿnh, cái nào có đau khổ, gây ra đau khổ, ta phải nhận diện và diệt trừ chúng; ta chuyển hóa nó để hưởng được niềm an b́nh hạnh phúc của Diệt Đế. Hạnh phúc hay đau khổ đều xuất phát từ nơi thân tâm của chúng ta.

 

o0o

 

Con người đau khổ không phải v́ thiếu thốn vật chất, tiền của, danh vọng, mà chính là v́ vô minh. Sự mê muội làm cho con người chưa nhận thức đúng đắn bản chất của cuộc đời. Đạo Phật chỉ dẫn cho con người một hướng đi, một lối thoát, cung cấp phương tiện để cho con người khai mở kho tàng trí tuệ của chính ḿnh. Định nghĩa về vô minh, Đức Phật dạy: Chính là không biết rơ khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến diệt khổ, này các Tỳkheo, đấy gọi là vô minh.” (Tương Ưng V). Và ngược lại vô minh, là trí tuệ.Dưới cái nh́n của trí tuệ, mối quan hệ duyên sinh của Bốn chân lư hiển lộ rơ ràng, thấy được một chân lư là thấy được toàn bộ chân lư. Đức Phật dạy: Này các Tỳ kheo, ai thấy khổ, người ấy cũng thấy nguyênnhân của khổ, thấy khổ diệt, thấy con đường đưa đến khổ diệt. Ai thấy được nguyên nhân củakhổ, cũng thấy được khổ, thấy được khổ diệt và con đường đưa đến diệt khổ. Ai thấy được khổ diệt, cũng thấy được khổ, nguyên nhân của khổ, con đường đưa đến khổ diệt. Ai thấy được con đường đưa đến khổ diệt, th́ cũng thấy được khổ, nguyên nhân của khổ và sự diệt khổ.(Tương Ưng V). Nhận thức đúng như thế là Chánh Kiến, nó đóng vai tṛ rất quan trọng trong quá tŕnh tu tập Bốn Chân Lư; nói cách khác, Chánh Kiến đi hàng đầu trong mọi pháp môn. Nhận thức sáng tỏ ấy c̣n gọi là Kiến Đạo.

 

Giáo lư Bốn Chân Lư vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh.Một giáo lư hoàn chỉnh đầy tính nhân bản đem lại niềm tin, sức sống cho con người, xă hội đương thời và vẫn thiết thực lợi ích cho con người và xă hội hiện đại.

 

Đặc tính của giáo lư Tứ Diệu Đế là con đường Trung đạo, không rơi vào cực đoan hưởng thụ dục lạc hay khổ hạnh ép xác.Giáo lư Tứ Diệu Đế bao hàm tất cả các giáo pháp mà Đức Phật đă dạy. Giáo lư Tứ Diệu Đế có thể thực hành cho người xuất gia cũng như tại gia, ai cũng tu tập được, ai cũng có thể nếm hương vị giải thoát, đáp ứng được nhu cầu thoát khổ cho cá nhân và chuyển hóa xă hội.

 

 

Nguồn Tham Khảo:

 

1-https://thuvienhoasen.org/a1636/bai-1-bon-chan-ly-tu-dieu-de

2-https://hoasenphat.com/kien-thuc-phat-giao/y-nghia-bon-chan-ly-cua-tu-dieu-dehtml

3-https://wi.wikipedia.org/wiki/Tu-dieu-de

4-daophatnguyenthuy.com/media/book/sach-ve-giao-ly/nhung-dieu-phat-da-day-Chuong-2

5-dieuphapam.net/dpa/tu-dieu-de-tu-vo-luong-tam.3978

 

 

 

 

 

  

LÊ ÁNH
(04/2020)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trang Thơ và Truyện của Lê Ánh              |                 www.ninh-hoa.com