Trang Thơ và Truyện của Lê Ánh                |                 www.ninh-hoa.com

Bs LÊ ÁNH
Bút hiệu:
LÊ P Thọ


 
 
Quê làng Phú Thọ, Ḥn Khói, Ninh Ḥa,
Khánh Ḥa, Việt Nam
Cựu học sinh các trường Tiểu học Pháp Việt,Ninh Ḥa, Trung học Vơ Tánh
Nha Trang, Việt Nam
Tốt nghiệp Y Khoa Bác Sĩ tại Đại Học Y Khoa Sài G̣n

Làm việc tại Quân Y viện Pleiku, Bệnh viện
Nguyễn Tri Phương, Sài G̣n,

Làm việc tại Covenant Medical Center, Lubbock, Texas, Hoa Kỳ.

 

 

Hiện làm vườn tại Phoenix, Arizona, Hoa Kỳ.

 Tập ṭ viết lách dưới bút hiệu Lê Phú Thọ,
Anh Tư Ḥn Khói.

 

 

 

 

 


 

 BỆNH TIỂU ĐƯỜNG
 (DIABETES MELLITUS)


Bs Lê Ánh
 

 

 

Trong bệnh tiểu đường, lượng đường trong máu lên cao hơn mức b́nh thường, nên được thận thải ra theo nước tiểu. V́ vậy trong nước tiểu có chất đường (b́nh thường nước tiểu không có đường).

Đây là một bệnh quan trọng nhiều người bị, đang có khuynh hướng gia tăng trên toàn thế giới, nên được y học rất chú ư không ngừng nghiên cứu. Trung b́nh, trong 100 người trong chúng ta, có một vị bị tiểu đường. Về lâu về dài, bệnh gây những biến chứng quan trọng ở mắt, thận, thần kinh và mạch máu. Bệnh tiểu đường cũng đưa dẫn đến bệnh hẹp tắc các động mạch vành tim (coronary artery disease). Nhiều trường hợp bệnh không gây triệu chứng, nên chúng ta không biết, t́nh cờ thử máu mới biết ḿnh có bệnh.

Tưởng cũng nên nhắc lại những kiến thức mới về căn bệnh để hiểu rơ về cơ chế của bệnh lư.

Đường (carbohydrates) là một trong những chất biến dưỡng căn bản của cơ thể, có trong cơm gạo, bánh ḿ, các thức ăn ngọt,... Các chất biến dưỡng căn bản khác là chất đạm (proteins), chất mỡ (lipids), sinh tố (vitamins), muối khoáng (minerals).

Gần như mọi tế bào của cơ thể đều cần có chất đường để hoạt động. Nhưng muốn sử dụng được chất đường vào những hoạt động cần thiết của ḿnh, các tế bào cần đến một chất gọi là insulin. Insulin giúp đưa chất đường từ máu vào trong các tế bào, và điều ḥa lượng đường trong máu để đường trong máu không bao giờ lên quá cao. Insulin tiết bởi tụy tạng (pancreas), một cơ quan nằm ở bụng trên, phía sau bao tử.

Tụy tạng giữ 2 nhiệm vụ: tiết các diệu tố (enzymes) giúp vào sự tiêu hóa, và tiết các chất như insulin, glucagon cần cho sự biến dưỡng của các tế bào. Insulin được tiết bởi các tế bào có tên beta (beta cells) trong tụy tạng. Khi các tế bào beta của tụy tạng không tiết đủ chất insulin cơ thể cần, đường trong máu lên cao, v́ không vào được trong các tế bào. Hoặc trong trường hợp chất insulin có đủ, song v́ một lư do nào đó, tế bào không sử dụng được chất insulin để đưa đường vào được bên trong tế bào, đường cũng tăng cao trong máu.

V́ thế, bệnh tiểu đường được chia ra thành 2 loại:

  loại I (loại thiếu chất insulin trong cơ thể) và

  loại II (loại có insulin trong cơ thể, nhưng tế bào không dùng được insulin.

Hai loại tiểu đường này có nhiều điểm khác biệt nhau. Trong số người bệnh tiểu đường, bệnh tiểu đường loại II chiếm tới 90%.

 TIỂU ĐƯỜNG LOẠI I
 (Diabetes Mellitus type I)

Tiểu đường loại I xảy ra ở các cháu bé và người trẻ, hay bắt đầu trong khoảng tuổi từ 4 đến 6 và khoảng tuổi 10 đến 14. Loại tiểu đường này có lẽ do di truyền. Nếu có cha, mẹ, hay anh chị em ruột mang bệnh tiểu đường loại này, cơ hội để một cháu bé trong gia đ́nh có thể bị bệnh là 5-10%. Nếu có anh em song sinh mang bệnh, nguy cơ bị tiểu đường c̣n cao hơn nữa. Các cháu trai mang bệnh tiểu đường nhiều hơn các cháu gái.

Bệnh tiểu đường loại I gây ra do sự hủy hoại của các tế bào beta có nhiệm vụ tiết insulin trong tụy tạng. V́ sao các tế bào beta này hư hỏng và không làm việc nữa, điều này c̣n nằm trong ṿng giả thuyết, chưa được biết rơ. Có thể v́ di truyền các tế bào beta của tụy tạng đă “yếu” sẵn, rồi sau bị những yếu tố bên ngoài, chẳng hạn như siêu vi (virus), tấn công, nên hư hoại luôn, không c̣n khả năng tiết ra insulin.

I- TRIỆU CHỨNG

Triệu chứng tiều đường loại I của các cháu bé và người trẻ có thể biểu hiện dưới 3 h́nh thái:

Thường nhất, các cháu đi tiểu nhiều, thấy khát nước luôn nên uống nước nhiều, xuống cân dù ăn nhiều, và trông không c̣n linh hoạt. Triệu chứng có thể đột ngột, có khi trong ṿng vài ngày. Một số các cháu chỉ có triệu chứng mơ hồ, như xuống cân, trông có vẻ lờ đờ, c̣n việc khát nước nhiều, đi tiểu nhiều, cha mẹ không để ư tới v́ nhiều cháu c̣n mang tả. Một số cháu nhỏ và cháu gái hay bị nấm vùng bộ phận sinh dục. Đường cao trong máu cũng khiến các cháu nh́n không rơ.

Cũng có cháu trước giờ khỏe mạnh, không có triệu chứng, nay đột nhiên hôn mê, bị một t́nh trạng gọi là diabetic ketoacidosis. Khi đưa vào bệnh viện và thử máu, mới thấy đường lên quá cao trong máu. Đo lượng insulin trong máu, thấy chất insulin trong máu rất thấp hoặc không thấy có insulin ǵ cả. Các cháu dưới 6 tuổi, chưa biết diễn tả nhiều về bệnh t́nh, chưa biết tự đi lấy nước uống, và những cháu trong gia đ́nh có lợi tức và tŕnh độ học thức thấp, ít để ư đến vấn đề sức khỏe, dễ bị t́nh trạng này.

H́nh thái thứ ba của bệnh tiểu đường loại I là h́nh thái bệnh không gây triệu chứng ǵ cả. Các cháu vẫn khỏe mạnh, và bệnh được t́m ra khi các cháu có dịp đi bác sĩ khám tổng quát. H́nh thái bệnh này ít hơn so với hai h́nh thái bệnh trên.

 II - ĐỊNH BỆNH

 Bệnh tiểu đường được định theo tiêu chuẩn của American Diabetes Association (ADA-Hiệp Hội Tiểu Đường Hoa Kỳ), bằng1 trong 4 cách sau đây:

       ► Đường máu đo sau khi nhịn đói ít nhất 8 tiếng cao hơn 125mg/dl.

     ► Người bệnh có triệu chứng và đường đo lúc không nhịn đói cao hơn 200mg/dl.

    ► Oral glucose tolerance test (OGTT) bất thường: sau khi cho ăn đường glucose 1.75g/kg (tối đa 75g), 2 tiếng sau đo đường máu, thấy vẫn cao hơn 200mg/dl.

       ► Trị số HbA1C (biểu thị lượng đường trung b́nh trong máu trong ṿng 3 tháng qua) bằng hay cao hơn 6.5.

Nếu nghi bệnh tiểu đường, dùng 1 trong 4 cách định bệnh trên, và nếu thử lại lần nữa, vẫn bất thường như vậy, người bệnh được xem có bệnh tiểu đường.

 III- ĐIỀU TRỊ

Khi cháu bé hoặc người trẻ đă được chẩn đoán có bệnh tiểu đường loại I, sự chữa trị là dùng thuốc chích insulin, để thay thế cho chất insulin không có đủ trong cơ thể. Thuốc uống không chữa được bệnh tiểu đường loạí I.

 

 TIỂU ĐƯỜNG LOẠI II
 (Diabetes mellitus type II)

I- Cơ chế

 Tiểu đường loại II thường xảy ra ở người trên tuổi 40, song gần đây, cũng xuất hiện không ít ở trẻ con và người trẻ, v́ ngày càng nhiều trẻ con và người trẻ béo mập hơn trước.

Tại Mỹ, có khoảng 14 triệu người bị tiểu đường loại 2. Thêm vào đấy, có thể 8 triệu người khác mang bệnh nhưng không biết ḿnh đang mang bệnh.

80% số người bị tiểu đường loại II béo mập (obese) hoặc nặng cân hơn b́nh thường (overweight). Khi đo lượng insulin trong máu những người nặng cân và bị tiểu đường, người ta thấy insulin trong máu b́nh thường, hoặc có khi c̣n cao hơn b́nh thường.

Có đủ insulin trong người, mà vẫn bị tiểu đường? Chỉ v́, muốn dùng được insulin, trên mặt các tế bào phải có đủ những chỗ tiếp nhận insulin, gọi là “insulin receptors”. Trên mặt các tế bào mỡ của những vị bị tiểu đường loại II không có đủ những chỗ tiếp nhận hầu insulin có thể bám vào để tác động, đưa đường từ ngoài máu vào bên trong tế bào. Nên cơ chế chính gây tiểu đường loại II ở những vị béo mập là do các tế bào mỡ thiếu những chỗ tiếp nhận insulin, và sự chữa trị hàng đầu là xuống cân.

Sự di truyền trong trường hợp tiểu đường loại II c̣n mạnh hơn loại I. Nếu có anh em sinh đôi bị tiểu đường loại II, người kia trước sau ǵ cũng bị tiểu đường cùng loại. Nếu có bố mẹ bị tiểu đường loại này, gần như 1/3 con cái sinh ra sau này cũng bị tiểu đường, hoặc có những thử máu bất thường.

Một vài loại thuốc có tác dụng chống lại tác dụng của insulin (thuốc chứa chất steroid như Prednisone), hoặc ngăn cản sự tiết insulin từ tụy tạng (thuốc cao áp huyết như Tenormin, Inderal, các thuốc lợi tiểu thiazide diuretics, thuốc chữa kinh phong Dilantin,...) cũng có thể bất ngờ làm đường tăng cao trong máu. Khi đi khám bác sĩ, bao giờ cũng vậy, bạn nhớ đem tất cả các thuốc dùng ở nhà đến cho bác sĩ xem.

 II- Ai dễ bị tiểu đường loại II?

 Từ tuổi 45 trở đi, tiểu đường loại II dễ xuất hiện. Đấy là với người Mỹ trắng, với những người thuộc các thành phần sau (kể cả người Mỹ da vàng chúng ta), tiểu đường loại II có thể đến sớm hơn:

Người béo mập (sức nặng 20% trên sức nặng lư tưởng).

Có bố, mẹ, anh, chị, em ruột mang bệnh tiểu đường.

Người Á đông, da đen, da đỏ, và người gốc Hispanic.

Bị tiểu đường lúc mang thai.

Có cao áp huyết (áp huyết 140/90 trở lên).

Thực phẩm nhiều thịt đỏ (heo, ḅ, trừu), mỡ màng. Ngược lại, thực phẩm nhiều rau, trái cây, cá, gà vịt có thể giúp ngừa bệnh tiểu đường.

 Đời sống ít thể dục thể thao. 

Hút thuốc lá.

Trong các yếu tố kể trên, béo mập được xem là yếu tố quan trọng nhất.

 III- Triệu chứng

Nhiều trường hợp bệnh tiểu đường loại II, giống bệnh cao áp huyết, lặng lẽ tàn phá cơ thể ta, không gây triệu chứng khiến ta chú ư. Nhiều vị t́nh cờ thử máu, khi đi khám bác sĩ hay mua bảo hiểm sức khỏe, giật ḿnh thấy đường trong máu ḿnh sao cao thế.

Triệu chứng do căn bệnh nếu có, cũng từ từ, không đột ngột như trong trường hợp tiểu đường loại I. Người bệnh đi tiểu hoài, cả ban đêm, uống nước luôn v́ thấy khát quá, ăn không ngơi do thấy ngon miệng. Có vị xuống cân, mệt mỏi. Một khi triệu chứng xuất hiện, thường, tiểu đường đến đă vài năm.

 VI- Định bệnh

 Cũng như tiểu đường loại I, bệnh tiểu đường loại II được định theo tiêu chuẩn của American Diabetes Association (ADA, Hiệp Hội Tiểu Đường Hoa Kỳ), bằng 1 trong 4 cách sau:

Đường máu đo sau khi nhịn đói ít nhất 8 tiếng cao hơn 125 mg/dl

Người bệnh có triệu chứng của tiểu đường và đường máu đo lúc không nhịn đói thấy cao trên 200 mg/dl

Oral glucose tolerance test (OGTT) bất thường: sau khi cho ăn đường glucose 1.75 g/kg (tối đa 75 g), 2 tiếng sau đo đường máu, thấy vẫn cao hơn 200 mg/dl

Trị số HbA1C (biểu thị lượng đường trung b́nh trong máu chúng ta trong ṿng 3 tháng qua) bằng hay cao hơn 6.5.

Nếu nghi bệnh tiểu đường, chúng ta dùng một trong 4 cách định bệnh trên, và nếu thử lại lần nữa, vẫn bất thường như vậy, người bệnh được xem có bệnh tiểu đường.


 BIẾN CHỨNG CỦA TIỂU ĐƯỜNG

.Tiểu đường gây nhiều biến chứng. Có biến chứng cấp thời, đe dọa tính mạng, có những biến chứng xa, làm giảm tuổi thọ, làm ta thấy đời kém vui. Bệnh xảy ra càng sớm, càng gây nhiều biến chứng.

A- Biến chứng cấp thời

1. Hôn mê do đường máu lên quá cao:

Đường trong máu lên cao quá có thể gây hôn mê, nguy đến tính mạng.

Hôn mê do đường máu quá cao hay xảy ra ở người tiểu đường loại I, khi họ quên chích insulin. Hôn mê có khi cũng xảy ra khi người bệnh gặp những căng thẳng về tinh thần (buồn bực, âu lo) hay thể chất (bị bệnh nhiễm trùng, sau khi giải phẫu,...), dù vẫn đang dùng thuốc chích insulin đều mỗi ngày. Hôn mê do đường máu lên quá cao được báo hiệu bằng các triệu chứng tiêu hóa: ăn không ngon miệng, buồn nôn, ói mửa, đau bụng, đi tiểu nhiều. Người bệnh cần được nhập viện ngay để chữa trị, nếu không, sẽ đâm mất sáng suốt rồi đi dần vào hôn mê. Khi thử máu, thường thấy đường máu cao đến 500 mg/dl.

Người tiểu đường loại II cũng có khi bị hôn mê khi đường máu lên quá cao (thường 1.000 mg/dl), tuy theo một cơ chế khác.

2. Hôn mê do đường máu xuống quá thấp:

Đường máu xuống quá thấp cũng gây hôn mê. Đường xuống thấp do ta dùng thuốc, nhưng có hôm vui quá, quên cả ăn, hoặc có hôm hăng quá, vận động hơi nhiều. Có khi đường xuống thấp chẳng v́ lư do nào rơ rệt.

Nếu đường xuống thấp ban ngày, ta thấy đói lắm, đến toát mồ hôi, run cả tay chân, nóng nảy, nổi quạu. Đường xuống thấp ban đêm, có khi không gây triệu chứng, có khi khiến ta gặp ác mộng, toát mồ hôi, hoặc bị nhức đầu buổi sáng lúc mới thức. Rủi đường xuống thấp thêm nữa, đầu óc ta bắt đầu mất sáng suốt, có những hành vi khác thường, và rồi hôn mê, hoặc giật kinh phong.

Sự chữa trị cần khẩn cấp. Nếu c̣n tỉnh, hăy dùng ngay bất cứ thứ ǵ có đường: kẹo, các thức uống ngọt. Nếu không c̣n tỉnh, trong môi trường nhà thương, bác sĩ sẽ truyền ngay vào tĩnh mạch cho ta một ống thuốc chứa nước đường. Vị nào đường máu hay xuống thấp, nên trữ sẵn ở nhà thuốc chích glucagon. Khi chưa kịp gọi 911, một mũi thuốc chích glucagon 1 mg thường rất được việc, giúp ta qua cơn nguy khốn. (Glucagon là chất có tác dụng ngược với insulin, làm đường tăng lên trong máu).

B- Các biến chứng xa 

Có người may mắn không bao giờ bị những biến chứng xa, về lâu về dài của tiểu đường, ngược lại có vị bị, và nhiều biến chứng xảy ra cùng lúc. Nói chung, các biến chứng thường xảy ra 15-20 năm sau khi bệnh được định ra.

1. Biến chứng tim mạch:

Tiểu đường hay làm hư hoại các mạch máu, đưa đến bệnh ở nhiều cơ quan khác nhau. Nếu bệnh làm hư hoại những mạch máu ngoại biên dẫn máu đến nuôi chân, các mạch máu này tắc nghẽn, gây chứng đau các bắp thịt chân khi đi đứng, chứng hoại thư (gangrene) bàn chân. Nếu bệnh làm hỏng mạch máu dẫn máu đến cơ quan sinh dục, sẽ gây chứng bất lực ở đàn ông.

Hậu quả hẹp tắc các động mạch vành tim (coronary artery diseases) và tai biến mạch máu năo (stroke) cũng hay xảy ra. Bệnh hẹp tắc các động mạch vành tim dẫn máu đến nuôi tim có thể đưa đến chết cơ tim cấp tính (hay được gọi nôm na “heart attack”). Thường chết cơ tim cấp tính gây đau ngực dữ dội, song, người tiểu đường có khi không cảm thấy đau v́ những thần kinh dẫn truyền cảm giác từ tim cũng đă hư hoại mất rồi. Sự định bệnh chết cơ tim cấp tính ở người tiểu đường khó khăn hơn ở người không mang bệnh tiểu đường. Tiểu đường c̣n có thể làm viêm cơ tim, gây suy tim.

Bạn biết rồi, thuốc lá, cao áp-huyết cũng gây bệnh hẹp tắc động mạch tim. Thuốc lá làm nghẽn luôn các mạch máu ngoại biên. Người tiểu đường, đă có sẵn những hư hoại gây do tiểu đường, tuyệt đối nên giă từ thuốc lá. Nếu người tiểu đường cũng có cao áp huyết, việc chữa trị bệnh cao áp-huyết cần sớm và mạnh. Tiểu đường và cao áp huyết lại hay đi đôi với nhau. Thuốc chữa cao áp huyết nhiều loại. Có loại làm đường cao thêm trong máu, do ngăn cản sự tiết insulin từ tụy tạng. Có loại làm mỡ trong máu (cholesterol, triglycerides) lên cao. Thường bác sĩ sẽ tránh dùng những loại thuốc này cho bạn, nếu bạn vừa cao áp huyết, vừa bị tiểu đường.

2. Biến chứng ở mắt:

Mắt giống một máy ảnh, giúp ta nh́n thấy các h́nh ảnh của thế giới bên ngoài. Trong mắt có một màng lót nằm ở phía sau gọi là vơng mạc (retina), hoạt động như phim của máy ảnh. Vơng mạc nối liền với thần kinh thị giác. Các h́nh ảnh khi vào mắt, chiếu lên vơng mạc. Vơng mạc thu nhận các h́nh ảnh, và thần kinh thị giác biến những h́nh ảnh này thành những tín hiệu truyền về óc. Nếu phim trong máy ảnh xấu, hư, ảnh rửa ra tất nḥa, không rơ. Tương tự như vậy, nếu vơng mạc bị hư hoại, các h́nh ảnh thu nhận trên vơng mạc bị mờ. Thần kinh thị giác dù tốt, cũng chỉ trung thực truyền những tín hiệu mờ trên vơng mạch về óc, và kết quả là ta không nh́n thấy rơ. Khi vơng mạc hư hoại nhiều quá, ta bị mù. Ở Mỹ, xứ không có chiến tranh và ít các bệnh nhiễm trùng mắt nguy hiểm, tiểu đường là nguyên nhân dẫn đầu gây mù ḷa. Khám đáy mắt có thể thấy những tổn thương do tiểu đường gây trên vơng mạc.

Biến chứng hư hoại vơng mạc mắt tùy thuộc vào tuổi của người bệnh lúc mới bị tiểu đường, cũng như thời gian mang bệnh. Càng sớm bị, thời gian mang bệnh càng lâu, càng nguy. Khoảng 85% người tiểu đường sau sẽ có biến chứng tổn thương vơng mạc. Tổn thương vơng mạc do tiểu đường có cách chữa: bắn tia Laser đốt những vết thương trên vơng mạc (photocoagulation). Bị tiểu đường, nên đi khám bác sĩ mắt hàng năm.

Ngoài hư hoại vơng mạc, tiểu đường c̣n gây bệnh tăng áp suất trong mắt (glaucoma), đục thủy tinh thể (cataract). Dù các biến chứng vừa kể không xảy ra, khi đường lên cao, mắt cũng hay mờ.

Mang bệnh tiểu đường, chúng ta nên đi khám mắt hàng năm, và thường xuyên thay kính; kính quan trọng ở người tiểu đường, v́ giúp mắt nh́n rơ hơn trong việc tự săn sóc cho ḿnh hàng ngày (lấy thuốc uống, chích insulin, tự khám bàn chân mỗi ngày,...). (Các vị có Medi-Medi nay phải gia nhập các tổ hợp y tế như Eassy Choice, Central Health, Health Net mới đi khám mắt làm kính được.)

3. Biến chứng suy thận:

Ở Mỹ, khoảng nửa số người suy thận là do tiểu đường. Suy thận là nguyên nhân dẫn đầu gây tử vong và tàn tật cho những vị bị tiểu đường.

Suy thận thường xảy ra 12 năm sau khi tiểu đường bắt đầu xuất hiện. Bệnh thận càng tiến triển mau lẹ nếu có cao áp huyết đi cùng. Suy thận ở giai đoạn cuối cần lọc thận hay thay thận. Chữa trị tiểu đường cẩn thận có thể làm chậm tiến triển của suy thận. Bị thêm cao áp huyết, cao áp huyết cần được kiểm soát chặt chẽ. Một số thuốc chữa cao áp huyết có thêm tác dụng làm giảm sự tiến triển của bệnh thận gây do tiểu đường.

Nhiễm trùng đường tiểu (urinary tract infection) làm thận người tiểu đường suy nhanh hơn, nên nếu xảy ra, cần được chữa trị tới nơi tới chốn. Một vấn đề nữa: các thuốc có thể hại cho thận, như những thuốc chống đau nhức Advil, Ibuprofen, Motrin, Naprosyn,..., nên tránh dùng nếu không thực sự cần thiết.

4. Tổn thương ở hệ thần kinh:

Tiểu đường c̣n làm thương tổn hệ thần kinh ở khắp nơi trong cơ thể, có lẽ chỉ trừ trên óc. Các tổn thương tuy không thực sự nguy hiểm, nhưng khiến ta khó chịu:

Khi các thần kinh nhỏ ở tay, chân tổn thương, sẽ gây tê, đau ở tay hay chân, thường là cả hai bên. Cái đau như điện giật, cảm thấy sâu trong xương, nặng hơn về đêm.

Sự chữa đau không dễ. Đầu tiên, chúng ta nỗ lực đưa đường máu xuống mức b́nh thường. Nếu không ăn thua, dùng các thuốc như Elavil, Tegretol, Neurontin, Lyrica có thể giúp giảm đau. Những thuốc này có tác dụng xoa dịu những cái đau gây do thần kinh. Với những cơn đau dữ dội, có khi phải cần đến thuốc giảm đau mạnh chứa chất nha phiến.

Người tiểu đường cũng có thể bất ngờ liệt bàn chân, bàn tay, không nhấc bàn chân, bàn tay lên được, hoặc mắt tự nhiên lé. Những biến chứng này từ từ sẽ bớt. 

Khi các thần kinh tự động (autonomic nervous system) điều khiển sự hoạt động của các cơ quan bên trong cơ thể bị tổn thương, nhiều triệu chứng xảy ra. Thường nhất là các triệu chứng tiêu hoá: khó nuốt, đầy hơi sau khi ăn, bón hoặc tiêu chảy. Tiêu chảy hay xảy ra về đêm, ảnh hưởng đến giấc ngủ. May thay, các thuốc cầm tiêu chảy thường dùng có thể kiểm soát được tiêu chảy do tiểu đường. Với tiểu đường, bệnh dội ngược bao tử - thực quản (gastro-esophageal reflux, các thức trong bao tử dội ngược lên thực quản sau khi ăn) cũng hay xảy ra.

B́nh thường, khi ta đứng lên ngồi xuống, hệ thần kinh tự động nhanh chóng điều chỉnh hệ thống tim mạch, để áp huyết luôn ở trạng thái cân bằng, và lúc nào cũng có đủ máu lên óc ta. Khi hệ thần kinh tự động đă hư hoại v́ tiểu đường, cơ chế điều chỉnh áp huyết bị xáo trộn. Đang nằm hoặc ngồi mà đột ngột đứng lên, áp huyết hay bất ngờ hạ thấp, khiến người bệnh thấy chóng mặt, có khi ngất xỉu. Trường hợp này, người bệnh được khuyên nằm ngủ với đầu giường nâng cao (bằng cách chèn gỗ hoặc vật cứng dưới đầu giường). Người bệnh cũng nên tránh đứng dậy nhanh buổi sáng lúc mới thức. Ngược lại, nên ngồi dậy chầm chậm, và ngồi ở cạnh giường một lát trước khi đi lại. Các vớ chân đặc biệt (giúp máu từ chân về tim nhiều hơn) cũng giúp làm giảm triệu chứng. Khi hệ thần kinh tự động hư hoại, bọng đái hay làm việc bất thường, gây khó tiểu hoặc không kiểm soát được nước tiểu.

5. Các vết loét và nhiễm trùng ở chân:

Một trong những biến chứng quan trọng khác của tiểu đường là những vết loét ở chân và bàn chân. Tiểu đường làm hư hoại các dây thần kinh cảm giác ngoại biên, nên chân người tiểu đường ít, hoặc không cảm thấy đau khi bị vật lạ đâm vào. Chân dễ thương tổn, do người bệnh không cảm thấy đau nên không để ư, t́m cách tránh né các vật làm hại. Giầy không vừa chân cũng hay làm bỏng phồng, trầy lở da chân, gây các vết loét. Phần khác, như ta đă biết, tiểu đường làm hỏng các mạch máu ngoại biên dẫn máu đến nuôi chân và bàn chân. Các vết loét v́ thế lâu lành và hay bị nhiễm trùng. Nhiễm trùng nếu nặng, có thể đưa đến cưa bàn chân hay chân.

Những phương cách sau được xem là hữu hiệu để ngừa các vết loét và nhiễm trùng bàn chân khi bị tiểu đường: mỗi ngày bạn nên tự thăm khám chân, bàn chân và để ư những dấu chứng:

Sưng, đỏ, đau, có mủ, có đường đỏ chạy dài từ bàn chân lên chân.

Các chỗ da chai cứng (corns, calluses): da dưới những chỗ này hay bị thương tổn.

Móng chân dài quá, cần cắt ngắn bớt.

Những vùng đau ở chân gây do giầy chật. Những vùng hay bị sót, thường không được để ư kỹ là vùng gót chân và giữa các ngón chân.

Nếu mắt bạn kém, nh́n không rơ, bạn có thể nhờ người nhà xem xét bàn chân hộ. Đồng thời, nhờ bác sĩ khám chân cho bạn ít nhất mỗi năm 1 lần.

Mỗi ngày bạn rửa chân với xà-bông nhẹ và nước ấm, sau đó dùng lotion chống khô da thoa chân giúp da chân khỏi khô (da khô dễ tổn thương và nhiễm trùng). Bạn tránh dùng nước nóng, và nhớ dùng tay thử trước, xem nước nóng đến mức độ nào trước khi nhúng chân vào bồn tắm. Đừng đi chân đất bạn ạ, dù ở nhà, và nên đi giầy thật vừa vặn hầu tránh bị trầy lở chân, hoặc có những chỗ chai cứng gây do giầy. Bạn nhớ bỏ giầy ra ít nhất 1 lần mỗi ngày. Khi mang giầy mới, những ngày đầu, bạn chỉ nên mang giầy tối đa 1 tiếng mỗi ngày để khỏi phồng da chân. Có nhiều loại giầy được chế tạo đặc biệt để bảo vệ chân, tốt cho chân của người tiểu đường. Nếu không, bạn có thể dùng các giầy thể thao cũng tốt. Trước khi xỏ chân vào giầy, bạn nhớ xem xét cẩn thận, t́m các vật lạ trong giầy có thể làm thương tổn chân bạn. Vớ nên thay mỗi ngày. Dùng những loại vớ đặc biệt giúp tránh phồng da càng tốt. Khi cắt móng chân, bạn nên cắt ngang các móng chân, thay v́ cắt vanh tṛn. Cắt vanh tṛn theo ngón chân dễ phạm phải thịt.

Với bệnh tiểu đường, có nhiều vấn đề về bàn chân chúng ta phải cần đến podiatrist (bác sĩ chuyên săn sóc bàn chân). Podiatrist giúp cắt bỏ các chỗ da bàn chân dầy cứng, những móng chân mọc bất thường, đâm sâu vào thịt. (Các vị có Medi-Medi nay phải gia nhập các tổ hợp y tế như Eassy Choice, Central Health, Health Net mới đi khám podiatrist được.)

6. Các biến chứng nhiễm trùng khác:

Ngoài những nhiễm trùng ở chân, người tiểu đường cũng dễ bị nhiễm trùng ở những nơi khác trong cơ thể, v́ sức kháng cự của cơ thể giảm. Một vài bệnh nhiễm trùng, do vi trùng hay nấm, ít xảy ra ở người b́nh thường, hay xảy ra nơi người tiểu đường. Chẳng hạn, bệnh lao, bệnh nấm âm đạo (gây ngứa âm đạo), bệnh viêm tai ngoài rất nguy hiểm do vi trùng Pseudomonas.

Như ta thấy, bệnh tiểu đường đưa đến nhiều biến chứng quan trọng. Sự chữa trị ngoài mục đích làm giảm các triệu chứng do tiểu đường gây ra (mệt mỏi, xuống cân, tiểu nhiều, tiểu đêm, khát nước,...), c̣n nhắm ngăn ngừa các biến chứng.


ĐIỀU TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG:
ĂN KIÊNG, VẬN ĐỘNG

Cùng với thuốc dùng, thực phẩm ăn uống hằng ngày và thường xuyên vận động rất quan trong trong việc kiểm soát 3 vấn đề thiết yếu của người tiểu đường: HbA1C, Huyết áp và Cholesterol.

Có 2 loại tiểu đường: loại I (loại thiếu chất insulin trong cơ thể, thường xảy ra ở người dưới 40 tuổi) và loại II (loại có insulin trong cơ thể, nhưng v́ hiện tượng “lờn insulin”, tế bào không dùng được insulin, thường xảy ra ở người trên 40 tuổi).

Chữa trị tiểu đường loạí I, bắt buộc phải chích thuốc chứa chất insulin, để thay thế cho insulin thiếu trong cơ thể. Chữa tiểu đường loại II, có nhiều cách thế hơn. Ăn kiêng và vận động rất quan trọng cho tiểu đường loại II. Một số trường hợp nhờ ăn kiêng và vận động, chúng ta tránh được việc phải dùng đến thuốc.

I - MỤC ĐÍCH CHỮA TRỊ:

Sự chữa trị nhằm mục đích làm thuyên giảm các triệu chứng nếu có (nhiều vị bị tiểu đường không hề có triệu chứng), tạo cảm giác khoẻ mạnh cho người bệnh, đồng thời ngăn ngừa các biến chứng cấp tính cũng như các biến chứng lâu dài của tiểu đường.

Khi ta đưa được đường máu nhịn đói buổi sáng (fasting blood sugar) xuống dưới 200mg/dl, các triệu chứng tiểu nhiều, uống nước nhiều sẽ thuyên giảm. Tuy nhiên, khi đường máu nhịn đói xuống dưới 150mg/dl, người bệnh mới thấy khỏe.

Muốn ngừa được các biến chứng dài lâu, lư tưởng, đường máu nhịn đói cần được đưa xuống khoảng 70-130mg/dl và trị số HbA1C đưới 7. Ở các vị cao niên, đường máu có khi không cần phải kiểm soát gắt gao, v́ sợ sẽ làm đường máu xuống thấp (đường máu xuống thấp quá có thể gây hôn mê, nguy đến tính mạng), v́ thế trị số HbA1C thường được giữ cao hơn so với người trẻ, trong khoảng 7 đến 8.

Bác sĩ theo dơi đường máu bằng cách thử máu, thường là đo đường máu lúc nhịn đói buổi sáng. Nhưng đo đường máu như vậy, ta chỉ biết được đường máu trong ngày hôm ấy cao hay không. Ngộ nhỡ bạn muốn bác sĩ vui ḷng, cẩn thận ăn ít đi, vận động nhiều hơn chỉ một vài ngày trước khi thử máu, nên khi thử, thấy đường máu trong hôm thử rất tốt th́ sao? Một phương pháp thử nghiệm khác, dùng đo chất “glucohemoglobin” trong máu (trị số HbA1C), có thể ước định đường máu trung b́nh trong ṿng 3 tháng qua, nhờ đó ta biết được tiểu đường của bạn trong 3 tháng qua có thực sự được kiểm soát hay không. V́ vậy, mỗi 3-6 tháng, ta nên thử trị số HbA1C một lần, và có cần tăng thuốc thêm để kiểm soát đường máu hay không, chúng ta sẽ dựa vào trị số HbA1C này.

Như vậy, ngoài những lúc thử máu ở văn pḥng bác sĩ, làm thế nào để theo dơi đường máu ở nhà. Cách hiện nay được xem là tiêu chuẩn để theo dơi đường máu ở nhà là dùng máy đo “glucometer”. Máy nhỏ, gọn, có thể đo đường máu với một giọt máu chích từ đầu ngón tay. Máy đặc biệt cần thiết cho những vị có đượng máu lên xuống như nước thủy triều, lúc quá cao, lúc lại quá thấp. khi có triệu chứng ǵ bất thường hoặc khi thuốc chữa bệnh vừa được tăng hay giảm. Nên đo đường máu với máy glucometer trước các bữa ăn và lúc đi ngủ trong ṿng vài ngày. Khi bệnh đă được ổn định, chỉ cần đo đường máu lúc nhịn đói buổi sáng và lúc đi ngủ 2 lần mỗi tuần. Hiện các máy đo đường máu ở nhà chưa đo được “glucohemoglobin”, để biết được đường máu trung b́nh trong ṿng 3 tháng vừa qua.

II- CẦN PHẢI XUỐNG CÂN:

Cứ 10 người bị tiểu đường loại II, hết 8 người nặng cân. Khi đo lượng insulin trong máu những người tiểu đường nặng cân, người ta thấy lượng insulin trong máu b́nh thường hoặc có khi c̣n cao hơn b́nh thường.

Có đủ insulin trong người mà vẫn bị tiểu đường. Muốn dùng được insulin, trên mặt các tế bào phải có đủ những chỗ tiếp nhận insulin gọi là “insulin receptors”. Trên các mặt tế bào mỡ không có đủ những chỗ tiếp nhận để insulin bám vào rồi tác động, đưa đường từ ngoài máu vào bên trong tế bào. V́ thế nên việc chữa trị tiểu đường loại II bao giờ cũng cần xuống cân. Xuống đến sức nặng lư tưởng (tính theo chiều cao và vóc người), là nhất. Nếu việc này khó quá, bạn cũng nên xuống ít nhất 10-20 cân (4.5-9 kg). Cố xuống 1 cân (1 pound) mỗi tuần.

Sức nặng lư tưởng được ước tính theo công thức Hamwi:

Nam giới: 106 lbs chọ 5 ft đầu và 6 lbs cho mỗi inch tiếp theo. Ví dụ: người cao 5.8ft (5 ft tính 106lbs; 8inchx 6= 48lbs). Tức là người nam cao 5, 8ft có sức nặng lư tưởng là 106+48=154lbs.

Nữ giới: 100 lbs cho 5 ft đầu và 5 lbs cho mỗi inch tiếp theo. Ví dụ người cao 5.6ft (5 ft tính 100lbs, 6inchx5= 30lbs). Người nữ cao 5, 6ft có sức nâng lư tưởng là 100+30=130lbs.

Thực phẩm ăn hàng ngày nên chứa 50-60% chất đường (carbohydrates), 25-35% chất mỡ (lipids), 15-20% chất đạm (proteins). Ăn rau trái chứa nhiều chất bă (fiber, 20-30 grams mỗi ngày) cũng rất tốt. Trong sự chữa trị bệnh tiểu đường ở Mỹ, các bác sĩ hay nhờ đến một vị gọi là “dietician”, chuyên tính toán thực phẩm dùng hàng ngày cho người bị tiểu đường. Người cần xuống cân sẽ được “chuyên viên ẩm thực- dietician” này khuyên dùng những thực phẩm ít chứa năng lượng: sáng nên ăn ǵ, trưa ăn ǵ, tối ăn ǵ. Mỗi món thức ăn Mỹ đă được tính sẵn xem chứa bao nhiêu năng lượng. Thức ăn Việt Nam ta có lẽ chưa được ai chính thức nghiên cứu, tính xem một tô phở, một tô bún ḅ Huế chứa bao nhiêu năng lượng. Một người nặng 180 cân, nay cần xuống đến 150 cân theo lời khuyên của bác sĩ, th́ mỗi tuần chỉ được ăn bao nhiêu tô phở hay bún ḅ Huế.

Nếu đang dùng thuốc chữa tiểu đường, việc ăn uống nên đúng giờ giấc v́ ăn uống thất thường có thể khiến đường máu xuống thấp không tốt.

Vận động, như ăn kiêng, cũng quan trọng không kém, để giúp xuống cân. Vận động c̣n giúp đường dễ vào các bắp thịt hơn, khiến lượng đường trong máu đỡ cao. Tuy vậy, cần thận trọng khi chơi thể thao, nhất là cho những người có bệnh hẹp tắc các động mạch tim hoặc những vị từ trước đến nay vẫn làm việc trong văn pḥng, ít thể dục thể thao. Nên đo tâm điện đồ (EKG), và nếu cần, thử tim bằng “EKG stress test” (tim được theo dơi trong lúc đi nhanh dần, để xem tim có những thay đổi ǵ bất thường không) trước khi chơi các môn thể thao mạnh bạo. Những người có mạch máu ngoại biên đă hư hoại nặng do tiểu đường, nên tránh chạy, v́ chạy có thể làm tổn thương chân, gây các vết trầy lở lâu lành. Đi bộ là vận động nhẹ nhàng, ít tốn kém, gần như ai cũng có thể làm được. Đi bộ đều được ít nhất 30 phút mỗi ngày th́ tốt quá, không th́ cũng 5 lần mỗi tuần, tức ít nhất 150 phút/ mỗi tuần.

Với những người bị tiểu đường mập trên 100 cân so với sức nặng lư tưởng, tiểu đường khó kiểm soát nếu họ không xuống cân được. Có khi phải dùng đến biện pháp mạnh để giúp họ xuống cân: giải phẫu thu nhỏ bao tử (gastric reduction surgery). Nhờ đến dao kéo để giải quyuết vấn đề là cùng bất đắc dĩ, do giải phẫu thu nhỏ bao tử thường gây nhiều biến chứng không tốt, có khi đưa đến chết người.

C̣n những thuốc giúp xuống cân? Nhiều năm trước, thuốc giúp xuống cân được dùng nhiều lắm, gần như thành một phong trào (nhiều người chỉ hơi tṛn, muốn xuống vài cân cho thêm đẹp cũng muốn đ̣i thuốc), nhưng rồi v́ chúng gây ra nhiều vấn đề quá, nên nay bác sĩ nào cũng ngại dùng, chờ sự ra đời của những thuốc giúp xuống cân mới, hữu hiệu mà không mấy hại, lại dùng được ve lau ve dài.

CÁC THUỐC CHỮA BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

.Bệnh tiểu đường nguy hiểm, nên gần đây, các tài liệu y khoa khuyên chúng ta mạnh tay với nó hơn trước, dùng thuốc ngay khi định ra bệnh tiểu đường, không chờ một thời gian xem ăn kiêng và vận động có đưa được đường máu xuống lại mức b́nh thường, nếu không, mới dùng thuốc.

Xin nhắc lại một chút, có hai loại tiểu đường: loại I, thường xảy ra ở người dưới 40 tuổi (loại thiếu chất insulin trong cơ thể), và loại II, thường xảy ra ở người trên 40 (loại vẫn có insulin trong cơ thể, song insulin không thể tác động, đưa đường từ máu vào trong các tế bào). Chữa trị tiểu đường loại I, phải dùng thuốc chích chứa chất insulin (nay sắp có thêm thuốc xịt), để thay thế cho insulin thiếu trong cơ thể. Chữa tiểu đường loại II, có nhiều cách thế hơn: ăn kiêng để xuống cân nếu nặng cân quá, vận động, dùng thuốc uống hoặc thuốc chích. Mọi chữa trị đều nhắm mục đích cố đưa đường máu trở về mức b́nh thường: giữ đường máu sáng chưa ăn trong khoảng 70-130 mg/dl, trị số đường máu trung b́nh 3 tháng HbA1C dưới 7 (tuy nhiên, ở các vị cao niên, HbA1C có thể giữ ở mức từ 7 đến 8).

Trong sự chữa trị căn bệnh, chúng ta cũng nên để ư đến yếu tố tài chánh, theo đúng 4 tôn chỉ chữa trị của y khoa: hữu hiệu, ít tác dụng phụ, tiện lợi, tiết kiệm. Nhiều thuốc tiểu đường rất đắt, chúng ta cố chọn thuốc nào vừa tiền, hữu hiệu, ít gây tác dụng phụ và cũng tiện lợi, không phải dùng nhiều lần trong ngày.

A-Các thuốc chữa tiểu đường loại II

 Các thuốc uống chữa tiểu đường loại II tác dụng qua nhiều cơ chế khác nhau: có thuốc thúc tụy tạng tiết thêm insulin (ba nhóm thuốc sulfonylureas, meglitinides, sitagliptin), có thuốc giúp insulin hoạt động hữu hiệu hơn (hai nhóm thuốc biguanides và thiazolidinediones), có thuốc ngăn ruột bớt hấp thu chất đường khi chúng ta ăn (nhóm thuốc alpha-glucosidase inhibitors).

1. Thuốc nhóm biguanides:

Nhóm này có một thuốc metformin (Glucophage), khiến insulin tác dụng mạnh hơn, đưa đường từ máu vào các cơ quan nhiều hơn. Thuốc c̣n ngăn sự tạo đường máu từ gan (đường trong máu một phần được tạo từ gan). Glucophage cũng làm giảm khẩu vị, giúp xuống cân.

Thuốc nên tránh dùng ở các vị trên 80, người suy thận (có trị số creatinine hơn 1.5 mg/dl ở đàn ông và hơn 1.4 mg/dl ở đàn bà), người bệnh gan, bệnh tim, uống rượu nhiều.

Glucophage có thể làm tiêu chảy. Để tránh phản ứng tiêu chảy do thuốc, ta dùng thuốc từ từ thôi, tăng chầm chậm cho đến khi lên đến lượng ta muốn. Ăn kém ngon, mau no, đầy hơi, buồn nôn là những phản ứng phụ khác của thuốc, hay xảy ra khi ta mới dùng nó, sau sẽ giảm dần, hoặc khi ta giảm bớt lượng thuốc đang dùng.

Thuốc Glucophage không nên uống lúc bụng đói. Lượng tối thiểu của thuốc là 500 mg mỗi ngày, tối đa 2550 mg mỗi ngày.

Thuốc metformin thường được dùng đầu tiên khi bệnh tiểu đường được định ra, v́ thuốc hữu hiệu, không làm lên cân, và giá cũng vừa phải.

2. Thuốc thuộc nhóm sulfonylureas:

Thuốc thuộc nhóm sulfonylureas được dùng để chữa tiểu đường gần 40 năm qua. Các thuốc cũ ra đời từ lâu: Diabenese, Orinase, Tolinase, Dymelor; các thuốc mới hơn, được dùng nhiều trong thời gian gần đây: Micronase, Diabeta, Glynase, Glucotrol, Amaryl.

Cơ chế tác dụng chính của thuốc là thúc đẩy tuyến tụy tạng ráng tiết thêm insulin, để cơ thể có thêm insulin đưa đường từ máu vào các tế bào, giúp đường trong máu giảm xuống. Thuốc thuộc nhóm sulfonylureas có thể gây buồn nôn, đầy hơi vùng bụng trên, nóng ngực, lên cân (2-7 cân), làm các trị số của gan tăng cao (liver enzyme elevations).

Đa số người bị tiểu đường loại II (khoảng 2/3), khi dùng thuốc sulfonylureas, đường trong máu sẽ xuống. (Với một số vị, ngay từ đầu, thuốc đă không có tác dụng, dùng cũng như không, đường máu cao vẫn hoàn cao). Tiếc thay, ở nhiều người (đến 20%), sau một thời gian dùng thuốc có kết quả tốt, đường máu từ từ lên lại.

Trong sự chữa trị, khi thuốc metformin đă uống đến lượng tối đa song vẫn không hữu hiệu, các bác sĩ thường dùng thêm thuốc thuộc nhóm sulfonylureas.

3. Thuốc thuộc nhóm troglitazones:

Gồm hai thuốc Actos và Anvandia, khá đắt tiền (có thể đến trên 200 đô-la một tháng thuốc).

Thuốc thuộc nhóm troglitazones có tác dụng làm các tế bào bắp thịt và tế bào mỡ của người tiểu đường loại II nhạy cảm hơn với insulin, khiến insulin tác dụng mạnh hơn, đưa đường từ máu vào trong các tế bào này khỏe hơn, đánh đúng vào cơ chế “lờn insulin” của tiểu đường loại II.

Dùng đến hai thuốc metformin và thuốc thuộc nhóm sulfonylureas mà đường vẫn chưa xuống đến mức chúng ta mong muốn, các bác sĩ thêm vào thuốc thuộc nhóm troglitazones (Actos hay Avandia), hoặc chuyển sang thuốc chích insulin (nếu thấy đường c̣n quá cao, có uống thêm thuốc Actos hay Avandia cũng không ích ǵ, hoặc v́ Actos, Avandia quá đắt, người bệnh không đủ tài chánh để dùng). 

4. Thuốc nhóm meglitinides:

Gồm hai thuốc Prandin và Starlix, tác dụng giống các thuốc thuộc nhóm sulfonylureas, có thể dùng để thay cho các thuốc sulfonylureas, trường hợp vị nào không dùng được thuốc sulfonylureas v́ nhạy ứng với chất sulfa. Thuốc tác dụng nhanh, uống ngay trước hoặc trong lúc đang dùng bữa ngày 2-4 lần.

Nhóm thuốc này đắt tiền, so với thuốc sulfonylureas cũng không lợi hơn, nên thường ít được dùng.

5. Thuốc nhóm sitagliptin:

Nhóm này có hai thuốc Januvia và Onglyza ra đời thời gian gần đây, tác dụng tương tự các thuốc thuộc nhóm sulfonylureas, làm tăng sự tiết insulin. Thuốc có thể dùng riêng hoặc dùng chung với các thuốc thuộc các nhóm khác.

Hai thuốc này khá đắt tiền, tác dụng cũng nhẹ, nên ít được dùng hơn thuốc metformin và thuốc thuộc nhóm sulfonylureas. 

6. Thuốc thuộc nhóm alpha-glucosidase inhibitors:

Gồm hai thuốc Precose và Glyset, hoạt động ngay trong ruột non, ngăn cản những diếu tố (enzymes) có nhiệm vụ phân hóa chất đường (carbohydrates) ta ăn vào. Như vậy, chất đường trong ruột chậm được hấp thụ vào cơ thể, khiến đường ngay sau khi ta ăn không lên cao trong máu.

Thuốc hay gây đầy hơi, tiêu chảy. Thuốc không nên dùng cho người có những xáo trộn đường ruột: viêm ruột (inflam matory bowel disease), tắc ruột bán phần (partial intestinal obstruction), lở ruột già (colonic ulceration),... Thuốc cũng có thể độc cho gan, trong năm đầu khi mới dùng thuốc, nên thử máu mỗi 3 tháng xem gan có sao không, sau đó lâu lâu cần thử lại.

Hai thuốc Precose và Glyset không làm đường máu xuống quá thấp (hypoglycemia), song nếu cho dùng chung với thuốc thuộc nhóm sulfonylureas, thuốc có thể làm đường máu xuống thấp dưới 70 mg/dl, gây nguy hiểm. Khổ cái, nếu chỉ dùng thuốc sulfonylureas không thôi, khi đường máu xuống thấp quá, ta có thể mau chóng giúp nó lên lại b́nh thường bằng cách uống ngay nước trái cây (fruit juice) hoặc ăn thức ngọt, nhưng khi dùng thêm thuốc Precose hoặc Glyset, ta không chữa biến chứng đường xuống thấp bằng những cách giản dị này được. Mà phải dùng những viên thuốc hoặc nước chứa chất đường gọi là “glucose tablets”, “glucose liquid”, hoặc chích một thuốc có tên “glucagon”, để đưa đường máu lên lại mức b́nh thường. 

7. Thuốc chích insulin:

Về lâu về dài, ở nhiều người tiểu đường loại II dùng thuốc uống, căn bệnh đâm lờn thuốc. Thuốc uống hết mức song đường máu vẫn cao, không chịu xuống, chúng ta dùng đến thuốc chích insulin. Hoặc có vị đường máu cao quá, từ đầu, bác sĩ đă quyết định dùng ngay thuốc chích để nhanh chóng đưa đường máu xuống.

Quyết định sử dụng thuốc chích insulin c̣n tùy thuộc vào một số yếu tố khác nữa: thuốc uống quá đắt, tuổi tác người bệnh, các triệu chứng đang có, các biến chứng muốn tránh, các bệnh khác đang bị, và tuổi thọ tiên đoán (overall life expectancy).

B-Các cách chữa phối hợp

 Ngày xưa, chữa tiểu đường loại II, các thuốc thuộc nhóm sulfonylureas (Diabenese, Orinase, Tolinase, Dymelor, Micronase, Diabeta, Glynase, Glucotrol, Amaryl) thường được các bác sĩ đem ra thử trước. Nhưng nay, với những kiến thức mới, việc chữa trị đă được đổi lại, thuốc metformin thường được dùng trước.

Dùng đến lượng tối đa thuốc metformin, đường chưa xuống đến mức mong muốn, ta có thể dùng thêm thuốc thuộc nhóm sulfonylureas, hoặc thuốc thuộc nhóm troglitazones đắt hơn (Actos hay Avandia), nếu v́ lư do nào đó, không thể dùng được thuốc sulfonylureas.

Dùng đến hai thuốc metformin và thuốc thuộc nhóm sulfonylureas mà đường vẫn cao, chúng ta thêm vào thuốc thuộc nhóm troglitazones (Actos hay Avandia), hoặc chuyển sang thuốc chích insulin (nếu thấy đường c̣n quá cao, có uống thêm thuốc Actos hay Avandia cũng không ích ǵ, hoặc v́ Actos, Avandia quá đắt, chúng ta không đủ tài chánh để dùng). 

Các thuốc đắt tiền như Prandin, Starlix, Januvia, Onglyza có khi cũng phải dùng đến, nhưng nếu v́ chúng quá đắt, bảo hiểm, Medicare không cho, chúng ta dùng thuốc chích insulin lợi hơn.

Một cách phối hợp khác: dùng thuốc uống, kèm thuốc chích insulin ngày một lần.

Dẫu vậy, chung cuộc, nếu đă phối hợp nhiều thuốc uống, hoặc uống ban ngày, chích insulin ban tối, nhưng tiểu đường vẫn cứng đầu, đường máu vẫn cao, th́ rồi cũng đành trông nhờ vào thuốc chích insulin vậy. Đôi khi cần dùng đến 100-200 đơn vị insulin mỗi ngày.

Với những thuốc uống mới, cuộc chiến chống tiểu đường của chúng ta đă bớt phần gay go. Khéo léo phối hợp các thuốc uống, sự sử dụng thuốc chích insulin có thể tránh được trong nhiều trường hợp, hoặc số lần chích insulin trong ngày sẽ giảm thiểu.

Mặc cho những quảng cáo trên trời dưới biển, bệnh tiểu đường chưa thể chữa khỏi đâu bạn. Mặt trận chống tiểu đường vẫn chưa yên tĩnh, các khảo cứu vẫn không ngừng tiếp diễn. Hy vọng, vào một ngày đẹp trời, tin vui sẽ đến, các nhà y học sẽ bảo: đă t́m ra thuốc trị tuyệt tiểu đường. Từ giờ đến ngày ấy, bạn đừng tin vào những tiên tri giả khiến bạn tốn tiền vô ích.

 

 

 

 

 


Bác sĩ LÊ ÁNH
9/2016

 

 

 

 

 

 

Trang Thơ và Truyện của Lê Ánh              |                 www.ninh-hoa.com