Trang Thơ và Truyện của Lê Ánh                |                 www.ninh-hoa.com

Bs LÊ ÁNH
Bút hiệu:
LÊ P Thọ


 
 
Quê làng Phú Thọ, Ḥn Khói, Ninh Ḥa,
Khánh Ḥa, Việt Nam
Cựu học sinh các trường Tiểu học Pháp Việt,Ninh Ḥa, Trung học Vơ Tánh
Nha Trang, Việt Nam
Tốt nghiệp Y Khoa Bác Sĩ tại Đại Học Y Khoa Sài G̣n

Làm việc tại Quân Y viện Pleiku, Bệnh viện
Nguyễn Tri Phương, Sài G̣n,

Làm việc tại Covenant Medical Center, Lubbock, Texas, Hoa Kỳ.

 

 

Hiện làm vườn tại Phoenix, Arizona, Hoa Kỳ.

 Tập ṭ viết lách dưới bút hiệu Lê Phú Thọ,
Anh Tư Ḥn Khói.

 

 

 

 

 


 

 BỆNH CAO HUYẾT ÁP
(Hypertension, High Blood Pressure)


Bs Lê Ánh
 

 
 

Bệnh cao huyết áp (high blood pressure) “căn bệnh thầm lặng” lặng lẽ làm tổn thương các cơ quan của cơ thể, đưa đến những biến chứng như tai biến mạch máu năo (stroke), chết cơ tim cấp tính (heart attack), suy tim, suy thận.  Cao huyết áp c̣n rút ngắn tuổi thọ.  Đa số trong các trường hợp, cao huyết áp không có triệu chứng.  Nhiều vị không biết ḿnh mang bệnh, t́nh cờ đi thăm bác sĩ v́ mơt bệnh ǵ khác, được bác sĩ cho biết có cao huyết áp.

I-             Định nghĩa :

Huyết áp là áp suất của máu lên thành động mạch chính khi máu được tim bom vào.   Huyết áp thay đổi tùy lúc, và tùy các hoạt động của cơ thể.   Huyết áp xuống thấp hơn lúc ta ngủ, nghỉ và lên cao hơn khi tinh thần bị kích động, buồn bực hoặc trong lúc ta tập thể dục, chơi thể thao.

Huyết áp (HA) được ghi nhận bằng milimét thủy ngân mmHg và đo bằng huyết áp kế đặt ở động mạch cánh tay là nơi áp suất giống như áp suất khi máu rời khỏi trái tim.  HA được diễn tả bằng 2 số, thí dụ: 140/90 mmHg.  Áp suất cao nhất 140 khi tâm thất co bóp (Huyết áp tâm thu-systolic) đẩy máu ra khỏi tim.   Áp suất thấp nhất khi tâm thất giăn ra (Huyết áp tâm trương-diastolic) để tiếp nhận máu.  Số trên tượng trưng áp suất cực đại maximum) trong ḷng động mạch, và số dưới tượng trưng áp suất cực tiểu (minimum) trong ḷng động mạch.

Theo sự phân loại của American Heart Association (AHA), áp suất systolic b́nh thường dưới 120 và áp suất diastolic b́nh thường dưới 80

Những vị có áp suất systolic trong khoảng 120 đến 139, hoặc áp suất diatolic từ 80 đến 89, được xem là tiền cao áp huyết (prehypertension), sau dễ tiến đến cao huyết áp.

Áp huyết từ 140/90 trở lên được xem là cao (một người đo trên cùng một máy, ít nhất 3 lần, vào 3 dịp khác nhau).

Cao độ 1: áp suất systolic:140 đến 159, áp suất diastolic: 90 đến 99.

Cao độ 2: áp suất systolic: từ 160 trở lên, áp suất diastolic: từ 100 trở lên.

I I-  Nguyên Nhân:

Cao huyết áp có thể là nguyên phát hay thứ phát.

A-  Thứ phát:

Do hậu quả của các bệnh như bệnh thận, bệnh nang thượng thận, bệnh nội tiết, bệnh về động mạch,…

Do uống thuốc viên ngừa thai, thuốc có thể gây nghiện như cocaine, amphetamine. 

B-  Nguyên phát: Có tới 90% các trường hợp cao huyết áp là nguyên phát và không biết rơ nguyên nhân.  Tuy nhiên, có một số yếu tố ảnh hưởng, khiến người nọ c̣ thể dễ mang bệnh cao huyết áp hơn người kia.

1-    Yếu tố gia đ́nh: Nếu trong gia đ́nh có người bị cao huyết áp, hoặc tai biến mạch máu năo th́ ta có thể bị cao huyết áp vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời.

2-    Giới tính: Đàn ông dễ bị cao huyết áp hơn phụ nữ.  Phụ nữ sau khi măn kinh, cũng dễ bị cao huyết áp hơn lúc c̣n kinh.  Khi các bà uống thuốc viên ngừa thai th́ nguy cơ cao huyết áp tăng.

3-    Chủng tộc: Người da đen hay cao huyết áp hơn người da trắng, và bệnh cao huyết áp ở người da đen cũng nặng hơn.

4-    Béo mập: Khi sức nặng của ta trên sức nặng lư tưởng so với chiều cao và vóc người 30% trở lên.

5-    Bệnh tiểu đường: Tiểu đường và cao huyết áp hay đi đôi với nhau, lại cùng nhau phá hoại tim và thận mạnh hơn.

6-    Căng thẳng tâm thần: Nhiều nghiên cứu cho hay khi tâm thần luôn luôn căng thẳng th́ cũng dễ bị cao huyết áp và bệnh tim hơn là những người có thân tâm an lạc.

7-    Muối Sodium và Potassium:  Một số người ăn nhiều muối Na cũng đưa đến cao huyết áp. Potassium giữ thăng bằng muối  Na trong cơ thể.  Thiếu Potassium, tế bào giữ Na lại và đưa đến cao huyết áp.

8-    Đời sống thiếu vận động:  Thiếu vận động dễ gây béo mập, và khi lên cân th́ huyết áp cũng lên theo.

9-    Thuốc lá:  Hoá chất của thuốc lá làm tổn thương lớp màng lót thành động mạch, chất béo bám vào đó, tăng sức cản của mạch máu và huyết áp sẽ lên cao.

10-           Rượu:  Các khảo cứu cho thấy rượu uống nhiều và thường xuyên có thể đưa đến cao huyết áp, đồng thời cũng làm tăng tỷ lệ bị tai biến mạch máu năo và bệnh thận.

I I I- Biến Chứng :

Nếu không được chữa trị, bệnh cao huyết áp làm hại cơ thể ta nhiều cách.  Huyết áp cao hơn b́nh thường khiến tim và mạch máu làm việc nhiều hơn.  Con tim thường xuyên gắng sức, từ từ sẽ mệt mỏi và yếu dần.  Cho đến một lúc, con tim suy yếu sẽ không c̣n bom đủ máu, không đáp ứng được nhu cầu của các cơ quan trong cơ thể, nhất là khi người bệnh vận động, gây các triệu chứng mau mệt, choáng váng, khó thở,…

Áp suất cao trong các  mạch máu có thể làm tổn thương thành của các mạch máu. Những chỗ tỗn thưong trong ḷng các mạch máu dễ bị các chất mỡ cholesterol và các tế bào tiểu cầu (platelet) luôn luôn có sẵn trong máu bám vào.  Với thời gian, cơ chế dây chuyền này làm cho   ḷng các mạch máu tổn thương thêm nữa và dần dần nhỏ hẹp lại.   Nếu các mạch máu dẫn  máu đến nuôi tim càng lúc càng tổn thương và nhỏ hẹp lại, đến một ngày nào đó, sẽ không c̣n mang  đủ máu đến để nuôi tim.   Nếu một phần tim thiếu máu nuôi trầm trọng, phần tim đó có thể chêt và gây ra hiện tượng chết cơ tim cấp tính (heart attack).

Cao huyết áp lâu ngày làm tổn thương các mạch máu nuôi óc, nuôi thận, nuôi mắt,... gây ra các biến chứng tai biến mạch máu năo, suy thận, giảm thị giác,...

So với người b́nh thường, người cao huyết áp, nếu không chữa, dễ bị hẹp tắc các động mạch tim khiến tim thiếu máu nuôi gấp 3 lần, dễ suy tim gấp 6 lần, và dễ bị tai biến mạch máu năo gấp 7 lần.

I V- Định Bệnh:

Đa số người cao huyết áp không có triệu chứng rơ rệt.  Một số vị than phiền những triệu chứng mơ hồ như nhức đầu, hồi hợp (cảm thấy tim đập mạnh), chóng mặt, . . .

Một bệnh nhân xem là có cao huyết áp, nếu huyết áp cao từ 140/90 mmHg trở lên, đo 3 lần vào 3 dịp thăm khám khác nhau (người bệnh không nên dùng cà phê, hút thuốc lá trước đó, nên ngồi nghỉ ít nhất 15 phút, rồi huyết áp được đo ở tư thế ngồi hay nằm).

Sau khi xác định bệnh nhân có cao huyết áp, để t́m xem các cơ quan bên trong cơ thể có bị tổn thương do cao huyết áp hay chưa, để từ đó, sẽ hoạch định đường hướng điều trị.   Bác sĩ sẽ khám kỹ mắt, tim, các mạch máu, .  Đồng thời, bác sĩ cho thử máu, thử nước tiểu, làm tâm điện đồ, chụp phim ngực (chest X-ray).   Những thử nghiệm và phim ngực giúp bác sĩ t́m hiểu thêm được người bệnh có cao cholesterol trong máu hay không, tim, thận đă bị tổn thương v́ cao huyết áp hay chưa.   Đây là tất cả những yếu tố quan trọng cần nắm vững trước khi bác sĩ quyết định trị liệu bằng phương cách nào.

Người bệnh cũng nhớ cho bác sĩ biết có hút thuốc lá không, có uống rượu, hoặc đang dùng bất cứ thuốc ǵ không, kể cả những thuốc mua không cần toa bác sĩ.

Cách tốt nhất, cứ hằng năm, dù chẳng cảm thấy ḿnh có bệnh ǵ, bạn cũng nên đi khám bác sĩ và nhờ đo huyết áp, nhất là nếu bạn lại có những yếu tố rủi ro có thể đưa tới cao huyết áp đă kể trên.

V- Chữa Trị:

Cao huyết áp cần được chữa trị cẩn thận, để giảm thiểu những biến chứng, giúp ta sống lâu hơn và vui hơn.  Sự chữa trị tùy vào mức độ của căn bệnh và cũng tùy vào các yếu tố khác.

1-    Phương pháp chữa trị chưa cần dùng đến thuốc:

Nếu béo mập, t́m cách xuống cân, bằng cách ăn một thực phẩm ít mặn và ít chất béo, bỏ thuốc lá, bớt uống rượu, thường xuyên vận động thể dục thể thao.   Nếu người cao huyết áp có sức nặng trên sức nặng lư tưởng, người bệnh được khuyên t́m cách xuống cân bằng ăn kiêng (Diet) và vận động (Exercise).

Sức nặng lư tưởng được ước tính theo công thức Hamwi:

Nam giới: 106 lbs chọ 5 ft đầu và 6 lbs cho mỗi inch tiếp theo.  Ví dụ: người cao 5.8ft (5 ft tính 106lbs; 8inch. 6= 48lbs).  Tức là người nam cao 5,8ft có sức nặng lư tưởng là 106+48=154lbs.

Nữ giới: 100 lbs cho 5 ft đầu và 5 lbs cho mỗi inch tiếp theo.  Ví dụ người cao 5.6ft (5 ft tính 100lbs, 6inch.5= 30lbs).  Người nữ cao 5,6ft có sức nâng lư tưởng là 100+30=130lbs.

2-    Về việc chữa trị bằng thuốc, có rất nhiều điều bác sĩ cần suy tính trước khi biên toa.  Cố đưa huyết áp xuống dưới 140/90 (ở người tiểu đường, người suy thận, nên dưới 130/80), với một thuốc rẻ, không gây phản ứng phụ (side effects), ngày chỉ dùng 1 lần cho tiện.

Hiện nay có 8 loại thuốc chữa cao huyết áp:  Diuretics, ACE inhibitors, Angiotensin I I receptor blockers, Calcium channel blockers, Beta blockers, Alphablockers, Direct vasodilators, Centrally acting agents, tác dụng theo những cơ chế khác nhau, giá cả cũng khác biệt.  Mỗi thuốc có mặt lợi và hại, cùng các tác dụng phụ của nó.  Những tài liệu hiện nay tại Mỹ đều khuyên chúng ta, trong đa số các trường hợp cao huyết áp, nên thử điều trị thuốc loại Diuretics trước.   Nhiều loại thuốc cao huyết áp có tác dụng chữa được bệnh khác, chẳng hạng như các thuốc Propanolol, Timolol ngừa được các cơn nhức đầu một bên (migraine); hai thuốc Hytrin, Cardura làm giảm các triệu chứng của bệnh to nhiếp hộ tuyến.

Điều trị cao huyết áp, cần dùng thuốc đều đặn, không nên tự thay đổi lượng thuốc hoặc ngưng thuốc khi thấy huyết áp đă xuống lại b́nh thường, và nhớ trở lại tái khám đúng hẹn với bác sĩ, cùng làm các thử nghiệm bác sĩ đă cho.   Các kết quả của thử nghiệm cho bác sĩ biết dùng thuốc có ảnh hưởng ǵ đến các cơ quan nội tạng không.  Cao huyết áp là bệnh kinh niên, suốt đời ta cần chữa cẩn thận.

Bệnh cao huyết áp “căn bệnh thầm lặng”, cứ lặng lẽ làm tổn thương các cơ quan nội tạng của cơ thể và rút ngắn tuổi thọ.  Khám phá anh chàng thầm lặng này, đặt anh ta vào ṿng kiểm soát, ta cứu văn được nhiều việc.

 

Tài liệu tham khảo:

1-    www.understanding-High-Blood-Pressure.com

2-    http://www.mayoclinic.com/high-blo od-pressure/DS00100

 

 

 

 


Bác sĩ LÊ ÁNH
1/2016

 

 

 

 

 

 

Trang Thơ và Truyện của Lê Ánh              |                 www.ninh-hoa.com