Y Học -Sức Khỏe
 

Bác Sĩ
Nguyễn Vĩ Liệt


Ung Thư Vú  
Táo Bón Ở Người
    Cao Niên
  
 
Đời Sống Lành
    Mạnh

 
Cúm Ở Người Và
    Cúm Gia Cầm

 Viêm Và Loét Dạ
    Dày Do Vi Khuẩn
    HELICOBACTER
    PYLORI

 Dịch Tả (Cholera)
 
Bệnh Tiểu Đường
    Loại 2

 
Đại Dịch Cúm Heo
 Bảng Kiểm Tra
    Hoạch Định Về
    Đại Dịch Cúm Heo

 
Những Đợt Đại
    Dịch Cúm Heo

 
Đại Dịch Cúm Heo
    Hay Đại Chủng
    Ngừa Cúm Gà

 Những Căn Bản Về
    Di Truyền Học

 Viêm Gan Siêu Vi B
 Bệnh Tay, Chân,
    Miệng

 Sự Tiến Hóa Của
    Siêu Vi Cúm Gây
    Hại Và Bảo Vệ Loài
    Người

 Sự Lan Truyền Và
    Cơ Chế Gây a Bệnh
    Lao

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



  

  

  www.ninh-hoa.com

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

 

  

                           UNG THƯ VÚ
                     
         Bác Sĩ NGUYỄN VĨ LIỆT
                            
      Người Cầu Gỗ, Ninh Ḥa                                

_____________________________

(Bài này được viết vào năm 1993 và cập nhật hóa tài liệu vào năm 2003 và 2004)

Trong những năm gần đây, hệ thống thông tin và báo chí đề cập đến một vấn đề y-học đă làm cho giới phụ nữ tại Canada và Mỹ lo lắng. Đó là ung thư vú.

Một trong những nguyên do tử vong cao nhất của các loại ung thư ở phụ nữ. Ung thư vú ở đàn ông rất là hiếm và cũng rất là độc. Ngoài việc giết chết người bệnh, ung thư vú c̣n làm mất vẻ hấp dẫn của người phụ nữ sau khi được chữa trị lành mạnh. Là một y sĩ, tôi muốn chia xẻ kiến thức của ḿnh để giới phụ nữ hiểu rơ vấn đề và pḥng bệnh hữu hiệu.

Ai là người sẽ bị ung thư vú?:

Vào khoảng 175 ngàn người phụ nữ Mỹ được chẩn đoán có ung thư vú trong năm 1991. Có nghĩa là có 17 ngàn trường hợp ung thư vú tại Canada trong cùng năm đó. Số người mắc bệnh gia tăng rất chậm từ xưa đến 1980, số bệnh nhân gia tăng thật nhanh, khoảng 32% từ 1980 cho đến 1987. Có lẽ do nhiều nguyên do, và sự phát triển kỹ thuật về quang tuyến X (mammogram) có lẽ là nguyên do chính của sự chẩn đoán gia tăng nhanh. Mỗi 9 người phụ nữ ở Canada hay Mỹ có 1 người sẽ bị ung thư vú trong cuộc đời của họ; hay nói một cách khác là 11% phụ nữ tại xứ sở này sẽ có ung thư vú. Cho đến năm 1997, tỉ lệ vẫn không thay đổi. Cơ hội một phụ nữ mắc bệnh tăng nhanh với tuổi tác.

  • 1 trong 19.608 người phụ nữ bị mắc bệnh ở lứa tuổi 25

  • Vào lứa tuổi 30, 1 trong 2.525 người phụ nữ bị mắc bệnh ung thư vú.

  • Và tỉ lệ tăng nhanh lên đến 1 trong 50 người phụ nữ ở lứa tuổi 50

  • Tỉ lệ này lên đến 1 trong 8 người ở lứa tuổi 85 bị mắc bệnh ung thư vú.

Vậy ai sẽ là người mắc bệnh?

Theo những quan sát của các nhà chuyên môn về bệnh này, những phụ nữ có một hay nhiều điều kiện sau đây có nhiều cơ hội mắc phải bệnh (không có nghĩa là những người này sẽ hoặc đang có bệnh):

  • Tỉ lệ người phụ nữ mắc bệnh càng nhiều khi tuổi càng cao.

  • Những người có chị em ruột hay mẹ có ung thư vú.

  • Phụ nữ có những sang thương ở vú có thể biến thành ung thư.

  • Có con đầu ḷng khi tuổi đă ngoài 30.

  • Những người lớn tuổi và chưa bao giờ sanh đẻ.

Tôi xin nói rơ hơn là những phụ nữ có chị em gái hoặc mẹ bị ung thư vú, có thể có ung thư vú trước 65 tuổi. Nếu sau tuổi này th́ được sắp vào loại đầu tiên. Ung thư vú có liên quan đến số lượng kích thích tố sinh dục nữ (estrogen). Nhưng trên thực tế, estrogen dùng để điều trị chứng loảng xương (osteosporosis) và triệu chứng tắt kinh (menopause) ở phụ nữ lớn tuổi vẫn không gây ra bệnh, v́ số lượng estrogen dùng để trị liệu rất thấp. Chúng ta đă bàn qua ai là người mắc bệnh.

Vậy ung thư độc hại như thế nào ?

Vào năm 1991, có 300 đàn ông và 44.500 phụ nữ ở Mỹ chết v́ ung thư vú. Có nghĩa là khoảng 30 nam giới và 4.500 nữ giới chết v́ bệnh này tại Canada trong cùng năm đó. Tỉ lệ tử vong của bệnh này chiếm 18% của tổng số các tử vong ở tất cả các loại ung thư. Có nghĩa là cứ 100 người phụ nữ chết v́ các loại ung thư th́ có 18 người đă mắc bệnh ung thư vú. So với các loại ung thư cả hai phái, nó chiếm 9% tử vong. Cứ 100 người cả nam lẩn nữ chết v́ ung thư vú, có 9 người phụ nữ đă mắc bệnh ung thư vú. Những con số này gây một ấn tượng sợ hăi cho giới phụ nữ. Nhưng sợ hăi có trị được bệnh không ?

Nếu chúng ta hiểu được nguyên do của bệnh th́ hi vọng ta có thể tránh được bệnh. Trước khi bàn luận về bệnh, tôi muốn tŕnh bày rơ về cơ cấu và sự phát triển của một cái vú lành mạnh. Vú hay nhũ hoa là một cơ quan sinh sản ở hai bên lồng ngực của loài người và chứa đựng tuyến vú bài tiết ra sữa. Tuyến vú phát nguồn từ tuyến mồ hôi. Bên ngoài là núm vú được bao bọc bởi một lớp da sậm màu hơn (pigmented areola). Trên bề mặt, có những tuyến tiết ra chất nhờn để núm vú khỏi bị khô và nứt khi người đàn bà cho con bú. Trước tuổi dậy th́, trai lẫn gái đều có cơ cấu của vú giống nhau. Ở nam giới, sự phát triển của vú rất có giới hạn ở tuổi dậy th́ (puberty). Ngược lại, vú của phụ nữ phát triển rất nhanh chóng dưới sự ảnh hưởng của kích thích tố sinh dục nữ (estrogen và progesterone) ở tuổi dậy th́. Sự phát triểnnày được kích thích bởi sự tăng và giăm của những kích thích tố này trong chu kỳ kinh nguyệt (menstrual cycle) và mỡ tích tụ (fat deposit) ở ngực phụ nữ là lư do tại sao vú của phụ nữ lớn hơn nam giới nhiều. Trong suốt thời kỳ mang thai, vú phụ nữ phát triển nhiều hơn nửa và thực sự ạo ra sữa để nuôi con.

mỗi phụ nữ, tuyến vú có từ 15-20 nan (lobes) nằm trong một lớp mỡ dày. Chính lớp mỡ này tạo ra h́nh dạng của vú. Mỗi nan tuyến vú có h́nh tháp và định hướng về núm vú và có một ống dẫn sữa. Ống dẫn sữa này ph́nh lớn dưới núm vú để chứa đựng sữa được tiết ra. Sự phát triển của vú trong thời kỳ mang thai được kích thích bởi estrogen tiết ra từ cái nhau (placenta). Ngoài ra, một kích thích tố sinh dục khác, progesterone cũng phụ vào việc phát triển này. Cùng lúc đó, mỡ cũng tích tụ nhiều hơn ở vú và làm cho vú của phụ nữ chảy xệ.

Tại sao có ung thư vú ? Ung thư là ǵ?

Ung thư là một bệnh mà sự phát triển của những tế bào trong một cơ quan không theo thứ tự và sự kềm chế của cơ thể. Những tế bào bất thường này lan rộng và xâm nhập vào các cơ quan khác trong cơ thể, làm xáo trộn và bế tắc sự hoạt động của những cơ quan này.

Sự thay đổi từ tế bào b́nh thường thành tế bào ung thư không đơn giản như tắt và mở đèn. Sự thay đổi trải qua 2 giai đoạn.

  • Giai đoạn đầu (Initiation phase) là sự thay đổi về đặc tính di truyền của tế bào (spontaneous mutation of the cellular DNA). Sự thay đổi này có tính cách vĩnh viễn và không trở lại như xưa được.

  • Giai đoạn sau (Promotion phase), tế bào tiếp xúc với chất gây ra ung thư (carcinogen). Hậu quả là gia tăng sự tổng hợp của nhân di truyền (gene DNA). Tế bào ung thư sanh sản lẹ. Giai đoạn thứ 2 mất nhiều năm để hoàn tất.

Hầu hết (90%) các loại ung thư vú là sự đột biến về thể chất (somatic mutation) xảy ra ở vú (breast tissue) sau khi người phụ nữ đă ra đời. Sự thay đổi này có tính cách lẻ tẻ (sporadic). 10% c̣n lại là do sự di truyền (germline mutation). Sự đột biến (mutation) xảy ra từ người mẹ hay người cha. Điều này chứng tỏ rằng những người phụ nữ không có người thân bị ung thư vú cũng có cơ hội bị ung thư vú.

Các nhà khoa học đă t́m được 2 loại nhân di truyền về ung thư vú: BRCA 1 và BRCA 2 (breast cancer 1 & breast cancer 2). Các nhân di truyền này có nhiệm vụ ngăn chận sự phát triển ung thư vú. Cho nên khi 2 nhân di truyền này bị đột biến sẽ mất đi chức năng này. Hay nói một cách nôm na là 2 người cảnh sát canh chừng trộm cướp mất vũ khí. Kẻ cướp sẽ hoành hành không nể nang ai. Khi 2 nhân di truyền kể trên bị đột biến, có thể người phụ nữ c̣n có cơ hội bị ung thư buồn trứng (ovarian cancer). Người ta t́m ra nhân di truyền BRCA 1 trên chromosome 17 vào năm 1994 và nhân di truyền BRCA 2 trên chromosome 13 vào năm 1995. Ung thư vú ở đàn ông tạo ra bởi nhân di truyền BRCA 2 bị đột biến. Nhân di truyền BRCA 1 c̣n tạo ra ung thư ở tiền liệt tuyến (prostate cancer). Đôi khi những người mang nhân di truyền bị đột biến này lại không phát ra bệnh. Ngoài ra, các nhà khoa học c̣n t́m ra những nhân di truyền khác tạo ra ung thư vú và c̣n đang được nghiên cứu chắc chắn trước khi đưa vào sách vở.

Vậy ai cần được thử ?

Nhiều bác sĩ trên thế giới tin rằng: không ai cần được thử nghiệm về các nhân di truyền nói trên. Nếu không t́m được những nhân di truyền nói trên không có nghĩa là sẽ không mắc bệnh, v́ 90% sự đột biến xảy ra sau khi người bệnh đă ra đời. Tôi tin rằng không thử th́ tốt hơn. V́ thử nghiệm này tạo ra nhiều lo lắng hơn là ích lợi !

Nh́n qua sự phát triển của ung thư vú, chúng ta nhận ra một điều là ung thư có thể là di truyền hay tự trong cơ thể của người bệnh xảy ra chứ không truyền nhiễm hoặc lây lan từ một người sang người khác không cùng máu mủ.

Hầu hết, chúng ta đều biết mỡ làm người ta mập ra và gây ra bệnh tim mạch, nhung hầu hết chúng ta không nghĩ đến mỡ gây ra ung thư ruột già (đại tràng-colon) và ung thư vú. Một trong những chất gây ra ung thư vú là những loại mỡ (saturated & polyunsaturated fats). Có những bằng chứng mỡ gây ra ung thư được ghi nhận trong những nghiên cứu ở những người đàn bà Nhật sống tại nước Mỹ. Theo thống kê, cứ 100 ngàn người đàn bà Nhật sống tại nước Nhật (Japan) có 33 người bị ung thư vú. Và cứ 100 ngàn người đàn bà Nhật sống tại Mỹ có 187 người bị ung thư vú. Tỉ lệ ung thư vú ở người đàn bà Nhật sống tại Mỹ tăng lên 6 lần sau khi họ di cư sang Mỹ. Trung b́nh người Mỹ ăn nhiều hơn người Nhật là 1 ngàn calories mỗi ngày. Thực phẩm của Mỹ và Canada chứa vào khoảng 35-50% mỡ.

Làm sao để biết là có ung thư vú ?

Thường người phụ nữ phát giác có một chỗ khác thường (lump), hoặc được phát hiện bởi bác sĩ gia đ́nh trong lúc khám tổng quát (general check-up). Chụp quang tuyến X (mammogram) cho biết rơ hơn về tính chất và vị trí của bướu. Sau đó, bác sĩ giải phẩu dùng kim chích và hút một ít bướu ra để xác định trước khi làm trị liệu. Có những dấu hiệu báo cho ta biết là có thể có ung thư vú trên người phụ nữ:

Có chất bài tiết từ đầu núm vú (nipple discharge) không ở giai đoạn có thai hay cho con bú : Khi vú chảy sữa trong lúc không mang thai hoặc cho con bú làm nguời phụ nữ hoảng sợ. Không phải thấy dấu hiệu này, ta kết luận ngay là ung thư vú. Nếu chất bài tiết ra từ nhiều ống dẫn sữa ở đầu núm vú, thường là do bệnh chảy sữa (galactorrhea) tạo ra bởi sự gia tăng kích thích tố prolactin bài tiết từ năo thùy (hypophyse).

Nếu chất bài tiết từ 1 ống dẫn sữa có màu hồng hay máu, thường có thể là ung thư. Nhưng nếu khám và chụp quang tuyến X (mammogram) mà không t́m được bướu th́ được coi là không có ung thư. Đó có thể là bướu lành (solitary intraductal papilloma).

Đau vú (breast pain) Thường do bướu lành như u-nang (cyst) hoặc u-nang-sơ (fibrocystic changes) hay do kinh nguyệt bất thường ở người đàn bà c̣n trẻ, hoặc do uống nhiều chất caffein (cà-phê, trà, coke, pepsi...), hoặc hút thuốc nhiều (nicotine), hoặc uống nhiều thuốc chống dị ứng (antihistamine). Ung thư vú hiếm khi bị đau ngoại trừ ung thư vú với phản ứng viêm sưng hay đến giai đoạn cuối (inflammatory carcinoma).

Da của vú bị lơm vào hay móp (skin dimpling) do sẹo h́nh ngôi sao (radial scar) bên trong của vú kéo xuống. Dấu hiệu này có thể là do sẹo thuần túy (benign scar) hoặc do ung thư. Thấy dấu hiệu này, người bệnh nên đi gặp bác sĩ càng sớm càng tốt.


Da của vú bị lơm vào

Sưng phù (edema) và da vú đỏ : Đó là dấu hiệu của ung thư vú viêm sưng (inflammatory carcinoma). Dấu hiệu này dễ lầm lẫn giữa ung thư vú và viêm vú cấp tính (acute mastitis). Ai có dấu hiệu này, tự họ cũng đi gặp bác sĩ v́ đau đớn.
 

Đầu núm vú bị lơm vào (nipple retraction): B́nh thường đầu núm vú lồi lên. Nếu tự nhiên đầu núm vú bị lơm vào 1 bên từ 1 tuần cho đến vài tháng, có thể gây bởi ung thư. Trường hợp ngoại lệ: sự lơm vào cả 2 đầu núm vú và đă nhiều năm th́ đây là sự hóa sợi (fibrosis) bên dưới núm vú. Và đây không phải là ung thư.
 

Núm vú bị ngứa và lỡ, ướt hay khô, đóng vảy và có thể lan rộng đến phần màu da đậm của vú (areola): Cũng có thể do ung thư vú c̣n được gọi là Bệnh của ông Paget (Paget’s disease), đặt tên theo người khám phá ra bệnh này, Sir James Paget 1874. Ung thư này phát ra từ phần ống dẫn sữa nở rộng ra dưới đầu núm vú. Nó lan lên lớp b́ (dermis) rồi đến biểu b́ (epidermis) của đầu núm vú. Nếu chỗ ngứa và lỡ phát xuất từ phần màu da đậm (areola) của vú rồi lan đến đầu núm vú sau.
Đó không phải là ung thư.
 


Đầu núm vú co lại

Da của vú thay đổi như da của trái cam có thể là ung thư.

Đường cong chung quanh vú thay đổi: Người phụ nữ chống tay lên bàn trước gương và chồm về phía trước. Nếu thấy đường cong của vú bị thay đổi hay bị méo đi, phải đi gặp bác sĩ ngay.

      
         
   Đầu núm vú bị lở           Da vú như da cam

Nếu có ung thư, trị liệu sẽ như thế nào ?

Thường bệnh này chia ra làm 4 thời kỳ. Thời kỳ 1-2 có nhiều hy vọng sống sót hơn thời kỳ 3-4. Khi bác sĩ chẩn đoán ung thư th́ tế bào ung thư đă đi vào trong máu và mạch bạch huyết. Nếu những tế bào này đă phát triển trong các cơ quan khác th́ hy vọng sống mỏng manh hơn. Ở thời kỳ 1-2, các tế bào này chưa phát triển hoặc phát triển rất ít ở ngoài vú và tỉ lệ sống sót khá hơn nhiều.

  • Thời kỳ 1 : bướu nhỏ hơn 2 cm, không lan tới da và không có hạch ở nách.

  • Thời kỳ 2 : bướu nhỏ hơn 2 cm và có hạch ở nách ; hoặc bướu lớn hơn 2-5 cm và không có hạch ở nách.

  • Thời kỳ 3 : bướu lớn hơn 5 cm hay khác thường hơn nữa.

  • Thời kỳ 4 : bướu đă lan qua các cơ quan khác.

Sự phân loại này dựa vào kích thước của bướu (Tumor), hạch ở nách (Node of lymph), và di căn của ung thư (Metastases). Ngoài ra ung thư vú có nhiều loại khác nhau. Có loại dữ nhiều và có loại hại ít hơn. Tôi cũng không muốn đi sâu hơn nữa, v́ chẳng giúp được nhiều cho mọi người.

Trị liệu tùy thuộc mỗi thời kỳ của bệnh. Tuy nhiên, trên phương diện tổng quát, cắt bỏ ung thư và trị bằng thuốc hay quang tuyến trị liệu (radiotherapy), kích thích tố trị liệu (hormonotherapy), và trị bằng thuốc (chemotherapy). Cắt hết vú (mastectomy, radical mastectomy) hay chỉ cắt bỏ phần ung thư (lumpectomy) là đề tài đang bàn căi giữa các bác sĩ chuyên môn về ung thư vú. Hiện nay, phương pháp cắt bỏ phần ung thư theo sau bởi các trị liệu khác đang thịnh hành tại Canada. Hi vọng di truyền học trong tương lai sẽ hiệu quả hơn và người phụ nữ không mặc căm là mất đi phần quan trọng của ḿnh.

Một trị liệu không kém phần quan trọng là trị liệu về phương diện tinh thần. Người phụ nữ bị ung thư vú trải qua khủng hoảng của tinh thần. Đó là đối diện cái chết và mặc cảm nếu c̣n sống sót. Do đó, sự an ủi tinh thần và giúp đỡ của chồng con hay người t́nh và những người thân thuộc rất là quan trọng. Một người bị trầm căm hay suy nhược thần kinh (depression) có hệ thống pḥng thủ (immunity) của cơ thể suy giảm đi. Trong cơ thể của mỗi người có khả năng trấn áp những tế bào ung thư. Nếu cơ thể mạnh th́ sự lan tràn của ung thư khó khăn hơn, và cơ hội sống sót sẽ cao hơn.

Tôi có một bệnh nhân bị ung thư tuyến tụy (pancreatic cancer) lúc 25 tuổi. Không ăn không ngủ, anh ta nằm liệt giường. Tôi khuyến khích anh ta thực hiện nguyện vọng cuối cùng là nh́n thấy băi cát trắng của Florida. Trong thời gian 2 tuần lễ nghỉ mát, anh ta ăn ngủ thoải mái, lái xe đi đây đó và lên cân, 15 cân Anh (lbs.). Nhưng khi anh ta trở lại Canada, anh ta lại đi nằm bệnh viện trở lại và chết sau đó 1 tháng. Trong giấy khai tử (death certificate), tôi đă ghi : bệnh nhân chết v́ trầm căm (depression) và ung thư tuyến tụy.

Trường hợp này đă chứng tỏ sự quan trọng của trị liệu về tinh thần. Trong vấn đề trị liệu này, chúng ta tránh nói dối bệnh nhân và giúp họ chấp nhận thực tại. Sống với những cái ǵ đang có hơn là đi t́m cái hoàn mỹ. Giúp họ thụ hưởng những giây phút c̣n lại trong đời rất là quan trọng trong việc trị liệu ung thư. Khi người bệnh đương đầu với cái chết, họ muốn thấy những người thân thuộc mạnh dạn và sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn. Có như vậy, người bệnh vừa là người phụ nữ mới yên tâm mà dưỡng bệnh.

Tóm lại, vai tṛ của người thân thuộc là sự hiện diện và mạnh dạn (Be there and be strong).

Mục đích chính của tôi là mọi người hiểu rơ về ung thư vú và pḥng bệnh hơn chữa trị. Pḥng bệnh có 2 loại, phát hiện bệnh sớm và đừng để bệnh xảy ra. Phát hiện bệnh sớm có nhiều cơ hội sống sót hơn. Trong phần này có 3 phương pháp khác nhau.

Người phụ nữ tự khám vú của ḿnh (self breast examination) :

Phương pháp này đơn giản và không tốn kém. Nếu người phụ nữ được hướng dẫn nhiều lần phương pháp này có hiệu quả hơn, nhưng tự nó có nhiều giới hạn. Xưa kia, khi chưa có sự khám sức khỏe hàng năm và quang tuyến X (mammogram), phương pháp này phát hiện 90% các trường hợp ung thư vú. Nhưng thường là ung thư vú đă lan ra khỏi vú rồi, và có tỉ lệ tử vong cao. Những nghiên cứu mới đây cho thấy phương pháp tự khám vú không làm giảm tỉ lệ tử vong. Tuy nhiên, nếu được huấn luyện kỹ càng, người phụ nữ có thể phát hiện 20% số ung thư vú.

Và trong số ung thư được phát hiện bằng phương pháp này, 35% ung thư ở giai đoạn 1 và 2. Có 2 điều hại của tự khám là:

  • Cảm giác an toàn giả tạo và không phát hiện bệnh sớm

  • Tốn kém cho nền y tế nhiều: đi khám bệnh và thử nghiệm nhiều khi người phụ nữ nghi ngờ có ung thư vú (false positive)

Cho nên phương pháp này chỉ có giá trị cho những người có trách nhiệm đối với sức khỏe của bản thân họ. Nhưng về phương diện cho mọi người, nó không phải là một phương pháp tốt. Làm thế nào để tự khám ḿnh, xin qúi vị hỏi bác sĩ gia đ́nh của ḿnh. Hàng năm, các cô và các bà nên thực tập cách khám nghiệm với bác sỉ của ḿnh để được chính xác hơn.

Khám nghiệm bởi bác sĩ gia đ́nh hay bác sĩ chuyên khoa (clinical breast examination):

Phương pháp này phổ biến nhất trong việc khám phá ung thư vú (cancer screening). Có một thí nghiệm dùng vú giả bằng silicone, các bác sĩ khám phá ra 87% các cục bướu lớn hơn 1 cm. Nhưng họ chỉ khám phá 13% các bướu lớn hơn 0.3 cm. Khám nghiệm lâm sàng rất hữu ích cho phụ nữ dưới 40 tuổi, v́ tuổi này mammogram thường cho kết quả sai lầm (false negative). Trong những năm vừa qua, báo chí thường đề cập đến những việc làm bậy bạ của một thiểu số bác sĩ đă gây những nghi ngờ của bệnh nhân và sự quá cẩn thận của một số bác sĩ, đă làm cho phương pháp này giảm sự chính xác. Đă có những nghiên cứu vai tṛ của phương pháp này của chính phủ Canada trong sự giảm chi tiêu của hệ thống y tế. Nhưng kết quả cho thấy phương pháp này tiết kiệm được nhiều tiền cho chính phủ và không kém phần chính xác khi kết hợp với quang tuyến X khi cần thiết. 90% trường hợp ung thư vú được phát hiện bởi 2 phương pháp vừa đề cập trên.

Chụp quang tuyến X (mammogram):

Là phương pháp có thể t́m thấy ung thư trước khi bác sĩ và bệnh nhân có thể phát hiện. Có nghĩa là ung thư nhỏ hơn 1 cm thường được chẩn đoán bằng phương pháp này. Như tôi đă đề cập, ung thư càng nhỏ càng dễ điều trị.

Có nghi vấn là quang tuyến X cũng gây ra ung thư và phương pháp này có an toàn không? Tôi xin thưa là rất an toàn v́ những lư do sau. Kỹ thuật hiện nay rất là tiến bộ nên những máy chụp quang tuyến X hiếm khi gây ra tai hại cho bệnh nhân. Vả lại, thời gian tiếp xúc với quang tuyến X chỉ có vài phần trăm của một tích tắc và số lượng phóng xạ của máy chụp h́nh quá thấp (0.2-0.3 rads) để gây ra thiệt hại cho cơ thể.

 Nhưng dùng những máy tối tân này vú của người phụ nữ phải bị đè nén (breast compression) và gây ra cảm giác khó chịu cho nhiều người. Khó chịu một chút nhưng an toàn hơn.

Tôi có thể tóm tắc như sau:

  • Mỗi phụ nữ từ 15 đến 75 tuổi nên tự khám vú của ḿnh mỗi tháng một lần. Khám như thế nào, các cô và bà nên học và hỏi ở bác sĩ của ḿnh để làm cho đúng cách.

  • Theo hội Bác Sĩ Gia Đ́nh của Mỹ (American Family Physician College), các bà, các cô trên 40 tuổi nên có khám nghiệm lâm sàng (clinical breast examination) của vú trong lúc khám sức khỏe tổng quát hàng năm

  • American College of Physicians đề nghị các bà trên 50 tuổi nên chụp quang tuyến X của vú (mammogram) hàng năm.

  • Theo ư kiến của tôi, các bà và các cô nên hỏi ư kiến của bác sĩ gia đ́nh của ḿnh để có một chương tŕnh chính xác cho trường hợp của ḿnh. Mỗi người một vẻ, nhưng mười phân phải vẹn mười như cụ Nguyễn Du đă viết.

Phát hiện bệnh sớm vẫn chưa phải là phương pháp pḥng bệnh hoàn hảo. Khi nói đến pḥng bệnh, mọi người nghĩ đến cách làm sao để bệnh đừng xảy ra. Tôi xin đi xa hơn nữa và bàn đến cách đừng để bệnh xảy ra.

Tạo hóa sinh ra loài người và cũng cho loài người một môi trường để sinh sống và tồn tại. Chúng ta có tay chân để chạy nhảy và hoạt động. Và chúng ta không hoạt động, chúng ta sẽ ốm yếu và không đi đứng vững. Chúng ta nghịch với thiên nhiên, thay đổi môi sinh và gặt hái kết quả là bệnh đau. Ung thư vú cũng là sự mất quân b́nh trong môi sinh và cơ thể của người phụ nữ. Chúng ta có thể ngừa được bệnh bằng cách giữ quân b́nh những ǵ chúng ta có được.

Đó là vấn đề ăn uống và những hoạt động.

Trước hết tôi bàn đến vấn đề dinh dưỡng. Như chúng ta đă biết qua mỡ, phóng xạ nguyên tử, và hóa chất giúp cho tế bào biến hóa về di truyền, phát triển ung thư trong giai đoạn thứ 2 của sự tạo ra ung thư vú. Phóng xạ nguyên tử và hóa chất, chúng ta dễ tránh, nhưng mỡ có trong hầu hết các thực phẩm th́ làm sao tránh được?

Đây là trọng tâm vấn đề, tôi phải bàn luận sâu sắc hơn. Không phải thực phẩm nào cũng gây ra ung thư. Không phải mỡ nào cũng nguy hiểm.

  • Mỡ động vật chứa nhiều saturated và polyunsaturated fats. Linoleic fatty acid là một unsaturated fatty acid cần bàn đến, có tên là Omega-6-fatty acid. Nó là nguyên nhân tạo ra ung thư vú. Các nhà khoa học nhận thầy rằng có sự gia tăng ung thư vú nếu có sự gia tăng loại mỡ này trong thực phẩm của chúng. Nếu omega-6-fatty acid tăng lên đến 4%, dù chúng ta tăng polysaturated và saturated fats vào trong thực phẩm của những con vật thí nghiệm, tỉ lệ ung thư vú của những con vật này cũng gia tăng. Ngược lại, ung thư vú giảm đi khi có sự gia tăng của omega-3-fatty acid. Loại mỡ này có nhiều trong mỡ của các loài cá. Theo sự nghiên cứu, tỉ lệ omega-3-fatty acid/omega-6-fatty bằng 1 là tốt nhất, và tỉ lệ ung thư vú thấp nhất. Nói một cách khác chúng ta ăn nhiều cá hơn thịt tốt nhất.

Có người sẽ hỏi uống dầu cá có tốt không?

Câu trả lời một cách rơ ràng là không, ngoại trừ người bệnh thiếu Vitamin A và D. Vitamin A có tác dụng trong việc ngăn ngừa ung thư ở da, phổi, thực quản, bàng quang (bọng đái), và cổ tử cung, nhưng không giúp ích ǵ cho ung thư vú. Hiện nay các nhà khoa học nhận thấy rằng thể tiền sinh tố A (betacarotene có trong carrot) có những tác dụng pḥng ngừa ung thư vú. Sinh tố D không có tác dụng trong việc ngăn ngừa ung thư nói chung. Nếu chúng ta lạm dụng dầu cá, chúng ta sẽ bị ngộ độc sinh tố A và D. Sự ngộ độc này biểu hiện bằng sự gia tăng áp lực trong năo và đưa đến ói mữa và mất cân. Ngoài ra c̣n nhiều biến chứng khác. Tôi không chủ trương người bệnh tự chữa bệnh cho ḿnh. Thuốc bổ hay thuốc chữa bệnh đều có cái lợi và cái hại của chúng. Hỏi bác sĩ gia đ́nh là phương pháp tốt nhất của sự dùng thuốc. Nếu ta ăn các loại thực phẩm khác nhau trong mỗi bữa cơm là một phương pháp ngừa bệnh tốt nhất. Ăn một thực phẩm nào đó nhiều cũng có vấn đề về sức khỏe. Ăn theo tổ tiên ta chỉ dạy là một cách ngừa bệnh hay nhất. Đây là kinh nghiệm của hơn 120 ngàn năm (từ lúc giống người Homo Sapien Sapien xuất hiện: người Việt)!

  • Ngoài ra những chất chứa trong thực phẩm ta ăn hàng ngày như phenol, indoles và aromatic isothiocyanates. Phenol đă được chứng minh là ngăn cản sự tạo thành ung thư trong cả 2 giai đoạn (mutagenesis và promotion phases). Chúng cũng làm tăng gia lượng phân hóa tố (enzyme) glutathione-S-transferase. Phân hóa tô này khử độc các chất gây ra ung thư. Phenol có trong gia vị (food addictives) gọi là butylated hydroxanisole (BHA) và butylated hydroxytoluene (BHT). Indoles có trong rau cải thuộc nhóm cruciferous vegetables như brussel sprout (giá), cabbage (bắp cải), broccoli và cauliflower gia tăng sự hoạt động của microsomal monooxygenase oxidase, một loại phân hóa tố ngừa ung thư phổi và vú. Aromatic isothiocynates cũng có trong các loại rau cải kể trên và giúp gia tăng phân hóa tố glucothione-S-transferase. Chúng giúp ngăn ngừa các loại ung thư gây ra bởi các chất hydrocyclic aromatic hydrocarbons. Do đó, theo sự đề nghị của Health&Welfare of Canada và National Cancer Institude của Mỹ, chúng ta tiêu thụ mỡ ít hơn 30% của tổng số thực phẩm mỗi ngày. Theo ư kiến của tôi, chúng ta ăn 20-25% dầu và mỡ mỗi ngày (10% dầu thực vật+10% mỡ động vật) tốt nhất.

Tóm lại tôi xin tóm tắc vấn đề dinh dưỡng như sau:

  • Giảm chất béo và mỡ trong thực phẩm.

  • Ăn nhiều cá hơn thịt.

  • Ăn nhiều trái cây và rau cải, nhất là giá, bắp cải, broccoli, và cauliflowers.

  • Ăn nhiều thực phẩm khác nhau để giữ quân b́nh thực phẩm trong thiên nhiên.

  • Nhớ đọc nhản hiệu các loại thực phẩm để biết các thành phần trong thực phẩm và loại thực phẩm cần thiết cho cơ thể.

Ngoài ra tập thể dục để giảm mỡ trong cơ thể người phụ nữ và làm giảm cơ hội cho ung thư vú phát triển. Mới đây, có một bác sĩ nghiên cứu và nhận thấy rằng: người phụ nữ tập thể dục 1 giờ mổi ngày giảm được ung thư vú lên đến 40%. Về vấn đề thể dục, aerobic exercises như đi bộ, chạy, đạp xe đạp, aerobic dance… làm giảm mỡ và tăng sức dẽo dai cho mọi người. Nhưng chúng ta tập một cách vội vă và tập nhiều quá làm cho cơ thể yếu đi và dễ bị cảm cúm. Ngoài ra, người phụ nữ tập tạ nhẹ (light weight lifting) cũng giúp cho cứng xương, tăng sức mạnh, và sự quân b́nh của cơ thể cũng rất là hữu ích, nhất là ở những phụ nữ lớn tuổi. Nếu có thể được, mỗi người nên có một huấn luyện viên về thể dục. Mọi người nên được khám sức khỏe trước khi tập thể dục. Chúng ta chia 1 giờ thể dục ra làm những phần sau đây:

  • Khởi đầu với những động tác dăn gân cốt từ 1-5 phút (warm up).
  • Sau đó tập aerobic exercises 15-20 phút.
  • 20-30 phút với tạ nhẹ (weight lifting)
  • Và kết thúc với 15 phút aerobic exercises (cool down)

Trong khi tập, nếu thấy mệt (tired), hay khó thở (short of breath), hay chóng mặt (dizziness), chúng ta phải ngừng tập ngay. Có rất nhiều phụ nữ Việt tại Canada vừa đi làm, vừa nấu nướng, vừa nuôi con, tập thể dục cũng giúp ích rất nhiều cho sức khỏe. Tôi hy vọng người phụ nữ Việt Nam không đi vào thống kê ung thư vú như người phụ nữ Nhật Bản tại Bắc Mỹ này.

Chúng ta làm hết những ǵ chúng ta biết, phần c̣n lại cứ phó mặc cho tạo hóa. Mỗi người chúng ta đă có một số phận ghi rơ trong di truyền chúng ta từ lúc lọt ḷng mẹ. Sống vui, sống có ư nghĩa sẽ giúp sức khỏe nhiều hơn là lo lắng.

 

Tham Khảo:

  1. Sabiston’s Textbook of Surgery 15th edition, Published by Saunders in Toronto 1993
  2. Cecil’s Textbook of Medicine 21st edition, published by Saunders in Toronto 2002
  3. Guyton’s Textbook of Medical Physiology 8th edition, Published by Saunder in Toronto 1990
  4. Anatomy and Physiology by Seely-Stephens-Tate, Published by Times Mirror/Mosby College, Publishing in Toronto 1989
  5. Primary Care - Cancer Diagnosis and Treatment, December 1992, Volume 19, Number 4, Published by Saunders in Toronto
  6. Primary Care-Cancer Epidemiology, Prevention and Screening, Volume 19, Number 3, Published by Saunders in Toronto 1992
  7. Canada’s Food Guide to Healthy Eating of Health & Welfare of Canada 1994
  8. Manual Nutritional Therapeutic, David H. Alpers M.D., Ray E. Clouse M.D., William F. Stenson M.D., Published by Little, Brown and Co. in Toronto
  9. Harrison’s Principle of Internal Medicine 12th edition, Published by McGraw Hill in Toronto 1992
  10. Sabiston’s Textbook of Surgery, 16th edition, Published by W. B. Saunders in Toronto 2001.
  11. Abeloff: Clinical Oncology, 2nd edition, 2000, Published by Churchill Livingstone Inc.
  12. Cyber Round (TM) 2003: Genetics of Breast Cancer, Susan C. Stewart, M.D., FACP, Review Date 10/9/1997, Release Date 18/9/1997, End Date 18/9/2000.
  13. From Donegan WL, Spratt JS, Cancer of Breast, 3rd Edition, Philadelphia, W.B. Saunders 1988
  14. Advances in Breast Cancer Detection and Management, Lisa A. Newman, M.D. and Michael Sabel, M.D., The Medical Clinics of North America, Published by Saunders in September 2003.

 

 

       Bác Sĩ Nguyễn Vĩ Liệt
        
 Vancouver, April 2004


                                                                                                              

 

     

 

                                                   www.ninh-hoa.com