Y Học -Sức Khỏe

Bác Sĩ
Nguyễn Vĩ Liệt


Ung Thư Vú  
Táo Bón Ở Người
    Cao Niên
  
 
Đời Sống Lành
    Mạnh

 
Cúm Ở Người Và
    Cúm Gia Cầm

 Viêm Và Loét Dạ
    Dày Do Vi Khuẩn
    HELICOBACTER
    PYLORI

 Dịch Tả (Cholera)
 
Bệnh Tiểu Đường
    Loại 2

 
Đại Dịch Cúm Heo
 Bảng Kiểm Tra
    Hoạch Định Về
    Đại Dịch Cúm Heo

 
Những Đợt Đại
    Dịch Cúm Heo

 
Đại Dịch Cúm Heo
    Hay Đại Chủng
    Ngừa Cúm Gà

 Những Căn Bản Về
    Di Truyền Học

 Viêm Gan Siêu Vi B
 Bệnh Tay, Chân,
    Miệng

 Sự Tiến Hóa Của
    Siêu Vi Cúm Gây
    Hại Và Bảo Vệ Loài
    Người

 Sự Lan Truyền Và
    Cơ Chế Gây a Bệnh
    Lao

 

 

 



  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  

 www.ninh-hoa.com

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

  
 

Bác Sĩ NGUYỄN VĨ LIỆT
Người xóm Cầu Gỗ, Ninh Ḥa
Phụ Trách

 

BNH TAY, CHÂN, MIỆNG

(HAND, FOOT, AND MOUTH DISEASE)

_____________________________

 

Năm nay, Tết Nhâm th́n đến sớm hơn một tháng dương lịch, tôi cũng đă chuẩn bị bài viêm gan siêu vi C để nộp bài cho sớm. Vào trước lễ giáng sinh của năm 2011, tôi đă khám cho 3 em bé dưới một tuổi với bệnh viêm miệng-cổ họng (herpangina) do siêu vi đường ruột (enteroviruses ) gây ra trong ṿng một tuần. Nh́n cảnh những ấu nhi (infants) này không bú được, nóng sốt mệt mỏi và rên ư ử. Ḷng tôi chùng xuống và cơ giận dâng trào lên khi tôi biết được cha mẹ của những trẻ này vừa mới du lịch ở những quốc gia Đông Nam Á hay người thân với gia đ́nh vừa đi du lịch ở những nơi này về, đă đến thăm những gia đ́nh của những bé này. May mắn, tôi nén cơ giận xuống kịp thời và nghỉ lại. Những người này vô t́nh và không hiểu biết về những bệnh này hay có biết nhưng không hiểu bệnh lây lan như thế nào! Bỏ dở bài viết về viêm gan C, tôi bắt đầu đi t́m những tài liệu về những siêu vi gây bệnh tay chân miệng.

Nhiều trận dịch bùng phát lớn và nhỏ của bệnh tay chân miệng đi đôi với bệnh tay chân miệng do siêu vi đường ruột EV71 (enterovirus 71) đă được tường tŕnh khắp thế giới từ những năm 1970s. Những trẻ con là những đối tượng bị bệnh nhiều nhất trong những trận dịch bùng phát. Những triệu chứng điển h́nh như sốt, những phát ban trên da ở tay chân và những mụn nước ở miệng. Đôi khi triệu chứng c̣n đi đôi với hệ thần kinh trung ương và phù phổi (pulmonary edema) cũng đă được quan sát. Bệnh thường là “hiền” v́ ít khi gây ra tử vong ngoại trừ những bệnh nhân có những triệu chứng ở hệ thần kinh, tim, và phổi. Những triệu chứng liên quan đến thần kinh như viêm màng năo vô trùng (aseptic meningitis), viêm năo (encephalitis), bệnh bại liệt (paralysis). Những triệu chứng liên quan đến khó thở cấp tính do phù nề ở phổi (pulmonary edema). Những triệu chứng liên quan đến tim do viêm cơ tim (myocarditis), viêm màng bao tim (pericarditis), suy tim sung huyết (congestive heart failure), và nhồi máu cơ tim (acute myocardial infarction). Người ta t́m thấy loại siêu vi EV71 xảy ra trong đa số những trường hợp và gây ra nhiều biến chứng đưa đến tử vong nhưng những loại siêu vi khác của đường ruột (enteroviruses khác) cũng được t́m thấy nhưng không nhiều bằng EV71 ở vùng bờ tây Thái B́nh Dương.

Đại diện của Tổ Chức Y Tế Quốc Tế ở Việt Nam, bác sỉ Graham Harrison nói “Tổ Chức Y Tế Quốc Tế và Cơ Quan Kiểm Dịch và Pḥng Bệnh (CDC) của Mỹ đang làm việc một cách gần gũi với bộ Y Tế của Việt Nam để t́m ra nguyên nhân của sự gia tăng bất thường những trường hợp tử vong, và điều tra những đặc tính dịch học của bệnh tay chân miệng ở Việt Nam. Theo hai tổ chức này, siêu vi gây ra bệnh tay chân miệng xuất hiện ở Đông Nam Á trong vài năm trở lại là một loại siêu vi đường ruột (enteroviruses) độc hại nhất, enterovirus 71 (EV 71). Nó được truyền từ người này qua người khác bằng đường tiếp xúc trực tiếp với siêu vi chứa trong nước mũi, nước miếng (saliva) dịch trong những sang thương những vết giộp nhỏ (blister fluids), phân (stools) của người nhiễm bệnh và những người mang bệnh mà không có triệu chứng (carriers). Siêu vi gây bệnh lan truyền thông thường nhất bởi những bàn tay bị ô nhiễm với siêu vi và qua sự tiếp xúc với bề mặt vật dụng bị ô nhiễm với siêu vi. Người mắc bệnh tay chân miệng dễ cho lây lan nhất trong tuần lễ đầu của bệnh. Những siêu vi gây bệnh tay chân miệng có thể ở trong cơ thể của người bệnh nhiều tuần lễ sau khi triệu chứng đă biến mất. Có nghĩa là những người vừa mới bệnh xong có thể lây bệnh cho những người khác trong nhiều tuần lễ mà vẩn khỏe mạnh (đây là điểm then chốt cho người đi du lịch ở những quốc gia bờ tây Thái B́nh Dương phải chú ư đến sự kiện này. Họ có thể mang siêu vi EV71 về cho con cháu của họ mà không biết.). Theo tài liệu của Tổ Chức Y Tế Quốc Tế (W.H.O: World Health Organization) cho đến ngày 22 tháng 11 năm 2011, bệnh tay chân miệng thường xảy ra hầu hết ở trẻ con nhưng cũng có thể xảy ra ở thanh thiếu niên và thỉnh thoảng ở người lớn. Trong hầu hết những trường hợp, bệnh nhẹ và giới hạn. Bệnh có thể nặng hơn với những triệu chứng lâm sàng của hệ thần kinh như viêm màng năo (meningitis), viêm năo (encephalitis), và bại liệt như bệnh poliomyelitis (liệt mềm). Bệnh tay chân miệng gây bởi nhóm siêu vi đường ruột không phải siêu vi polio (non-polio enteroviruses), đặc biệt là những siêu vi thuộc những loài siêu vi đường ruột ở người loại A (Human Enterovirus species A). Trong số những siêu vi này, enterovirus 71 (EV71) thường đi đôi với những bệnh nặng bao gồm hệ thần kinh trung ương (central nervous system) và những trường hợp tử vong do kết quả của phù phổi do thần kinh (neurogenic pulmonary edema) trong một tỉ lệ nhỏ ở trẻ con 5 tuổi hay nhỏ hơn. Những trận bùng phát (outbreaks) của bệnh tay chân miệng xảy ra cho mổi 2-3 năm ở những quốc gia phía tây Thái B́nh Dương (dân số khoảng 1.6 tỉ người), cho đến 15/11/2011:

Việt Nam (từ đầu năm 2011 cho đến 15/11/2011): 90.189 trường hợp với 153 trường hợp tử vong trong 63 tĩnh. Những trường hợp bị bệnh và tử vong tập trung hầu hết ở miền nam Việt Nam với 65,1% trường hợp nhiễm bệnh và 85,6% những trường hợp tử vong của toàn quốc. Những trường hợp bệnh gia tăng ở miền bắc Việt Nam gia tăng trong ṿng 8 tuần lễ trước 15/11/2011. Tỉ lệ tử vong ở trẻ con trai là 71% dưới 3 tuổi (85,5%). Trong 2397 mẩu bệnh phẩm lấy được ở những bệnh nhân có dương tính với 55,2% là siêu vi EV71 (enterovirus 71) và 44,8% c̣n lại do những siêu vi entroviruses khác.

Trung Quốc (China): 1.340.259 trường hợp bệnh tay chân miệng với 437 trường hợp tử vong

Hồng Kông (China): 390 trường hợp bệnh tay chân miệng nhập viện (bệnh tay chân miệng nặng). Cứ 1.000 người gặp bác sỉ có 22 người mắc bệnh tay chân miệng.

Macao (China): 1,069 trường hợp bệnh tay chân miệng từ tháng 1/2011 cho đến tháng 10/2011.

Nhật Bản (Japan): cho đến 13/11/2011, có 331,520 trường hợp bệnh tay chân miệng

Nam Hàn (Republic of Korea): 30/10 đến 5/11/2011, cứ 2,000 người đi khám bệnh ngoại chẩn có 1 người mắc bệnh tay chân miệng. Sau đó cho cứ 2,000 người đi khám bệnh ở ngoại chẩn có 17 người bị mắc bệnh tay chân miệng.

Singapore: có 17,667 trường hợp bị bệnh tay chân miệng.

Đây là thống kê của Tổ Chức Y Tế Quốc Tế

Những Quốc gia thuộc vùng bờ tây Thái B́nh Dương

 

 

Những Siêu Vi Đường Ruột Gây Bệnh: (Enteroviruses)

 

Những siêu vi gây bệnh tay chân miệng thuộc về nhóm enteroviruses, coxsackieviruses, và echoviruses thuộc họ Picornaviridae (pico: nhỏ; siêu vi RNA nhỏ).  Họ của những siêu vi này bao gồm Human Enteroviruses (polio-enteroviruses và non-polio enteroviruses, coxsackieviruses),  Rhinovirus, Hepatovirus (siêu vi viêm gan A), và perechovirus và những siêu vi liên hệ với siêu vi ở các loài động vật.  Siêu vi đường ruột (enteroviruses) là những siêu vi mang một sợi RNA hướng dương (positive stranded RNA molecule) không có màng bao.  Chúng có h́nh quả cầu 20 mặt tam giác (isacohedral) đối xứng, 4 chất đạm trong hạt siêu vi VP1, VP2, VP3, VÀ VP4.

 

Lịch sử của enteroviruses là lịch sử của siêu vi polio.  Một bác sỉ người Anh, Dr. Micheal Underwood lần đầu tiên mô tả về lâm sàng của bệnh poliomyelitis (bệnh bại liệt mềm polio) vào năm 1789.  Bệnh được tường tŕnh nhắm vào trẻ con với những triệu chứng chính là sốt và bại liệt.  Trong năm 1840, Dr. von Heine xuất bản một tài liệu  mô tả những triệu chứng lâm sàng.  Sau này, một bác sỉ người Thụy Điển, Dr. Medin đă đóng góp thêm về mô tả những triệu chứng.  Và nó được đặt tên là hội chứng Hein-Medin.  Tuy nhiên đến thế kỷ 20th , số trường hợp bệnh poliomyelitis đạt đến số lượng của một trận dịch.  Siêu vi polio được khám phá bởi hai bác sỉ người Áo, Dr. Landsteiner và Dr. Popper đă t́m ra và chứng minh được siêu vi gây ra bệnh poliomyelitis vào năm 1908.  Hai loại thuốc chủng ngừa, Sabin (làm yếu đi siêu vi dùng để uống) và thuốc chủng ngừa Salk (thuốc chích) giúp dẹp sạch bệnh bại liệt mềm ở trẻ con (poliomyelitis) trên toàn thế giới.

 

 

H́nh 2: Siêu Vi Polio Dưới Kính Hiển Vi Điện Tử

 

Bên cạnh siêu vi gây bệnh bại liệt mềm polio, có những siêu vi khác ở đường ruột (enteroviruses) được khám phá trong lúc người ta nghiên cứu siêu vi gây ra bệnh bại liệt mềm polio.  Trong năm 1948, một siêu vi có kháng nguyên liên hệ xa với siêu vi polio được t́m thấy trong phân của một đứa trẻ bị bại liệt ở thành phố Coxsackie, tiểu bang New York trong trận dịch với siêu vi polio.  Nó được đặt tên siêu vi Coxsackie.  Sau này một siêu vi khác thứ hai đă được t́m thấy cũng tại thành phố Coxsackie từ những trường hợp viêm màng năo vô trùng (aseptic meningitis: viêm màng năo mà không t́m thấy vi khuẩn trong dịch năo tủy).  Người ta đặt tên siêu vi được khám phá đầu tiên ở thành phố Coxsackie là coxsackievirus nhóm A.  Và tên của siêu vi được khám phá sau là coxsackievirus nhóm B.  Cuối cùng năm 1951, người ta t́m thấy nhiều siêu vi có kháng nguyên độc lập với hai loại siêu vi vừa kể, từ phân người không có triệu chứng bệnh.  Họ đặt tên là echoviruses, tương ứng với chữ enteric (ở ruột), gây bệnh cho những tế bào cấy trong môi trường cytopathogenic, được cô lập ở người humans, và không có gây bệnh orphans.  Sau năm 1969, người ta phân loại các siêu vi này theo kiểu huyết thanh (serotypes) theo số thứ tự

Những Loài

Loại Kiểu Huyết Thanh

Human enterovirus A

CVA2–8, CVA10, CVA12, CVA14, CVA16, HEV71, HEV76, HEV89–91 (gồm hầu hết những siêu vi nhóm A Coxsackie A)

Human enterovirus B

CVA9, CVB1–6, E1–7, E9, E11–21, E24–27, E29–33, EV69, EV73–75, EV77–88, EV93, EV97, EV98, EV100, EV101 (gồm tất cả nhóm Coxsackie B và tất cả echoviruses của danh từ củ)

Human enterovirus C

CVA1, CVA11, CVA13, CVA15, CVA17–22, CVA24, PV1–3, EV95, EV96, EV99, EV102, EV104 (gồm phần c̣n lại của nhóm A coxsackieviruses  và poliovirus)

Human enterovirus D

EV68, EV70, EV94

CVA: Coxsackievirus A; HEV: Human Enterovirus;
E:
Echoviruses; EV: Enterovirus; PV: Poliovirus.

Bảng xếp loại nguyên thủy đă được căn cứ trên những biểu hiện lâm sàng được quan sát ở những nhiễm siêu vi ở loài người cũng như trên sinh bệnh lư học trong năo và dưới da được chích thí nghiệm vào những con chuột nhắc c̣n bú sửa mẹ.  Bảng xếp loại này định nghỉa những nhóm kháng nguyên đồng nhất theo sau đây:

 

  

   

Polioviruses, gây ra liệt mềm (poliomyelitis) ở loài người;

  

   

Coxsackie A viruses (CAV), được liên hệ với bệnh hệ thần kinh trung ương ở loài người (CNS) và viêm miệng cổ họng (herpangina), cũng như liệt mềm cấp tính ở những con chuột nhắc c̣n bú;

  

   

Coxsackie B viruses (CBV), được đi đôi với những bệnh của tim và hệ thần kinh trung ương của loài người, hoại tử của những lớp mỡ ở vai, những sang thương tập trung ở cơ vân, năo và tủy sống, cũng như liệt co thắt ở kiểu mẩu thí nghiệm con chuột nhắc c̣n bú; và

  

   

Echoviruses, nguyên thủy không đi đôi với bệnh ở loài người hay bại liệt ở những con chuột nhắc.

 

Từ năm 1969, những loài siêu vi enteroviruses mới đă được cho theo số, khởi đầu từ số 68 và ngày nay đă đến số 101.

 

Dịch Học của Những Siêu Vi Đường Ruột

 

Như tên gọi human enteroviruses, loài người là kư chủ chính của những loài siêu vi này.  Đôi khi vài động vật cũng có thể nhiễm những loài siêu vi này, như chuột nhắc và khỉ.  Do đó, người ta thường dùng hai loài động vật này như vật thí nghiệm về các siêu vi này.

ĐƯỜNG LAN TRUYỀN CỦA NHỮNG SIÊU VI ĐƯỜNG RUỘT (ENTEROVIRUSES)

Loại

Đường Lan Truyền

Cá Nhân

  

   

Đường phân -miệng (đi đôi với những t́nh trạng vệ sinh kém).  Ngoại trừ EV70 và có lẽ EV68, tất cả EV có thể được lan truyền bởi đường phân-miệng

  

   

Đường hô hấp (EV70 và có lẽ EV68)

  

   

Những đường khác được chứng minh của sự lan truyền:

  

   

Sữa mẹ

  

   

Những nguồn từ môi trường

  

   

Những nguồn ô nhiễm của nước (hồ bơi)

  

   

EV đă được cô lập từ động vật thân mềm (như, mực và bạch tuột…) và loài giáp xác (tôm cua), chứng minh tính bền vững trong nước biển.

  

   

EV70 và CAV24 (gây ra viêm kết mạc xuất huyết) có thể được cô lập từ chất bài tiết ở mắt;  những siêu vi gây ra phát ban bên ngoài với mụn nước nhỏ có thể truyền đi trực tiếp và gián tiếp bởi dịch trong mụn nước nhỏ.  Trong cả hai trường hợp, những đường thông thường cho nhiễm siêu vi là do tiếp xúc bằng aty với những chất bài tiết, và tự nhiễm qua miệng, mũi và mắt.

Nhóm

  

   

Sự truyền nhiễm enterovirus trong nhà

  

   

Những bùng phát trong gia đ́nh

  

   

Những trường học

  

   

Lan truyền trong bệnh viện

Những nhiễm siêu vi đường ruột xảy ra thông thường khắp thế giới. Trong vùng khí hậu ôn đới như Mỹ, dịch siêu vi đường ruột xảy ra hàng năm, cao nhất vào mùa hè và mùa thu. Những trường hợp có thể xảy lẻ tẻ ra quanh năm. Những siêu vi đường ruột (enteroviruses) gây ra 33% đến 65% của những bệnh sốt cấp tính và 55% cho đến 65% những trường hợp nhập viện v́ nghi ngờ có nhiễm trùng máu (sepsis) ở trẻ con trong suốt mùa hè và mùa thu ở Mỹ, và 25% những trường hợp quanh năm. Trong những vùng nhiệt đới (như Việt Nam) và gần nhiệt đới (subtropical), những siêu vi đường ruột gây bệnh quanh năm. Có thể vài loại kiểu huyết thanh (serotypes) xảy ra cùng lúc. Những nhiễm siêu vi của những kiểu huyết thanh (serotypes) khác nhau có thể xảy ra cùng một mùa. Những yếu tố được đi đôi với tỉ lệ mắc bệnh hay/và độ nặng nhẹ của bệnh bao gồm tuổi trẻ (young age), phái tính nam (male), vệ sinh kém, sống trong một chổ quá đông đúc (overcrowding), và tầng lớp kinh tế xă hội thấp (low socioeconomic status). Hơn 25% những trường hợp nhiễm siêu vi có triệu chứng xảy ra ở trẻ con dưới 1 tuổi (ấu nhi). Cho con bú làm giăm rủi ro nhiễm siêu vi, có lẻ do người mẹ đă có kháng thể đặc biệt cho siêu vi đường ruột.

 

Con người là nguồn dự trữ (reservoir) của những siêu vi đường ruột (human enteroviruses). Siêu vi lan truyền chính từ người qua người, bởi những đường từ phân qua miệng và đường hô hấp, và truyền theo chiều dọc từ người mẹ qua trẻ sơ sinh trước khi sanh hay trong lúc sanh, và có lẽ qua đường sửa mẹ cho con bú. Siêu vi đường ruột có thể sống trên bề mặt của môi trường, cho phép sự lan truyền qua những vật dụng trong nhà hay da, tóc, những da tróc ra… Mặc dù ô nhiễm môi trường (của nước uống, những hồ bơi, những ao hồ, và những nguồn nước dự trử trong bệnh viện) thỉnh thoảng gây ra sự lan truyền. Nó thường được coi như là kết quả hơn là nguyên do của sự nhiễm siêu vi đường ruột đến con người. Sự lan truyền siêu vi xảy ra trong gia đ́nh (nếu một người trong gia đ́nh bị nhiễm siêu vi, nhiều hơn 50% những người trong gia đ́nh bị lây lan nếu chưa được miễn nhiễm). Những nhà giữ trẻ, sân chơi công cộng, những trại hè, những viện mồ côi, và những pḥng nuôi trẻ sơ sinh có thể có sự lây lan. Những nhiễm vi khuẩn thứ cấp nặng có thể xảy ra trong những cơn bùng phát trong những pḥng nuôi trẻ sơ sinh. Thay tả cho trẻ cũng là một yếu tố rủi ro cho sự lây lan, và rửa tay sẻ giăm sự lan truyền này.

 

Bệnh Phát Sinh Ra Như Thế Nào?

 

Những nhiễm siêu vi enterovirus đi vào cơ thể bởi sự nuốt siêu vi được thải ra trong phân hay đường hô hấp trên của những người đă bị nhiễm. Sự sinh sản siêu vi xảy ra khởi đầu trong đường hô hấp trên và mô tế bào bạch huyết ở đoạn ruột non xa. Một sự xâm nhập máu của siêu vi thoáng qua “nhỏ”, phân phối siêu vi đến mô mạng lưới pḥng thủ của các thực bào (reticuloendothelial) trong những hạch bạch huyết ở xa, như gan, lá lách, và tủy xương, tiếp theo đó. Sinh sản nhiều hơn nửa trong những cơ quan này dẩn đến một sự xâm nhập “lớn” kéo dài với sự lan tràn siêu vi đến những cơ quan mục tiêu như hệ thần kinh trung ương (CNS) và tim.

 

Hầu hết những người bị nhiễm siêu vi, trải qua nhiễm siêu vi không có triệu chứng khi siêu vi sinh sản bị kiểm soát bởi những cơ chế pḥng thủ của kư chủ (con người) trước khi khởi đầu chính của xâm nhập siêu vi vào máu. Bệnh của những cơ quan nội tạng đặc biệt (như, viêm màng năo, viêm cơ tim) đưa đến kết quả từ sự đáp ứng viêm sưng với sự sinh sản siêu vi trong những cơ quan này.

 

Những dữ kiện về thử nghiệm và lâm sàng cho thấy rằng những yếu tố kư chủ làm mạnh lên độ nặng của sự nhiễm siêu vi enterovirus, bao gồm tập thể dục trong thời kỳ ủ bệnh, áp lực khí lạnh, suy dinh dưỡng, thai nghén, tuổi >1 tuần lễ, và thiếu miễn nhiễm B-lymphocyte.

 

Bệnh Tay Chân Miệng
(Hand, Foot, and Mouth Disease)

H́nh 1  A, Những vết giộp da h́nh bầu dục của bàn tay ở một đứa trẻ với bệnh tay chân miệng (do nhiễm siêu vi coxsackievirus 16). B, Những vết giộp da h́nh bầu dục trên bàn chân của một trẻ con với bệnh tay chân miệng. C, Sự sói ṃn của lưởi của một trẻ con với bệnh tay chân miệng.

(From Weston WL, Lane AT, Morelli JG: Color textbook of pediatric dermatology, ed 3, St Louis, 2002, Mosby, p 109.)

Bệnh tay chân miệng gây ra bởi những siêu vi trong nhóm siêu vi đường ruột (enteroviruses). Nó là một hội chứng nổi mẩn ở da khác biệt (distinctive rash syndrome). Nó thường gây ra bởi 2 siêu vi chính coxsackievirus A16 (CA16) và enterovirus 71 (EV71). Đôi khi ra những bùng phát (outbreaks) lớn. Và nó cũng có thể gây ra bởi những siêu vi coxsackie A viruses 5, 7, 9, và 10; coxsackie B viruses 2 và 5; và vài loại echoviruses. Ở những quốc gia bờ tây Thái B́nh Dương, hầu hết bệnh tay chân miệng gây bởi siêu vi coxsackie nhóm A (HEV-A), đặc biệt siêu vi coxsackievirus A16 và siêu vi enterovirus 71 (EV71). Những siêu vi khác nhóm A (HEV-A) như coxsackievirus A6 và coxsackievirus A10 cũng thường gây bệnh tay chân miệng và bệnh viêm miệng cổ họng (herpangina). Bệnh có thể không có sốt hay sốt nhẹ. Miệng và cổ họng bị viêm sưng với những mụn nước (vesicles) rải rác trên lưởi, màng nhầy g̣ má (buccal mucosa), phía sau cổ họng, ṿm miệng, nướu răng và môi. Những phần này bị loét cạn, khoảng 4-8 ly (millimetres) với viềng đỏ chung quanh. Những đốm mụn nhỏ (maculopapules) hay mụn nước nhỏ (vesicles). Có thể có hay không có những mụn mủ (pustular lesions) trên bàn tay và ngón tay, bàn chân. Do đó, bệnh này có tên là bệnh tay chân miệng. Đôi khi những sang thương này có trên mông đít và đùi của những trẻ con nhỏ (young children). Những vết nổi mẩn trên tay và chân thường đau. Những mụn nước (vesicles) khoảng 3-7 ly thường trên bề lưng (dorsal aspect) của bàn tay và bàn chân nhưng cũng có thể xảy ra ở trong ḷng bàn tay và bàn chân. Bệnh tay chân miệng do siêu vi enterovirus 71 thường nặng hơn siêu vi coxsackievirus A16. Bệnh do siêu vi enterovirus 71 thường đi đôi với những tốc độ tấn công cao ở hệ thần kinh trung ương và tim phổi, như viêm cuống nảo (brainstem encephalitis), phù phổi do thần kinh gây ra (neurogenic pulmonary edema), xuất huyết phổi (pulmonary hemorrhage), kích xúc (shock), và chết nhanh lẹ, đặc biệt ở trẻ con c̣n nhỏ (young children). Siêu vi coxsackievirus A16 cũng đôi khi gây ra biến chứng ở cơ tim(myocarditis), viêm màng bao tim (pericarditis), và kích xúc.

 

Ngoài ra, những siêu vi đường ruột này c̣n gây ra nhiều triệu chứng và biến chứng ở những nơi khác trên cơ thể con người.

 

Những Kiểu Bệnh Phát Ra Do Siêu Vi Đường Ruột Gây Ra

Những triệu chứng lâm sàng thay đổi khác nhau. Từ không triệu chứng đến sốt không phân biệt rơ ràng. Những bệnh đường hô hấp xảy ra trong đa số bệnh nhân. Những bệnh nặng như viêm màng nảo & nảo, viêm cơ tim, và nhiễm trùng máu ở trẻ sơ sinh ít thường xảy ra hơn. Đa số những người nhiễm siêu vi không có triệu chứng hay có bệnh với triệu chứng rất nhẹ. Tuy nhiên, họ là những nguồn đáng kể cho sự lan truyền của nhiễm siêu vi. Bệnh có triệu chứng thông thường hơn trong những trẻ con nhỏ. Bệnh tay chân miệng đă được tŕnh bày ở phần đầu bài. Sau đây là những triệu chứng của bệnh gây ra bởi những siêu vi đường ruột:

  • Bệnh Sốt Không Đặc Biệt (Non-Specific Fever Ilness)

Những bệnh sốt không đặc biệt là những triệu chứng thông thường nhất, đặc biệt ở những trẻ sơ sinh và trẻ con c̣n nhỏ. Đây là khó khăn để phân biệt từ những nhiễm trùng nghiêm trọng như nhiễm trùng máu (sepsis) và viêm màng nảo do vi khuẩn (bacterial meningitis). Thử nghiệm để chẩn đoán là cần thiết. Trị liệu đoán chừng (empirical treatment), và những nhập viện cho những nghi ngờ nhiễm vi khuẩn ở những trẻ con quá nhỏ.

 

Bệnh thường bắt đầu đột ngột với sốt 38.5°-40°C (101-104°F), khó chịu, và dể bực tức. Những triệu chứng khác là lờ khờ không tĩnh táo, không muốn ăn, tiêu chảy, buồn nôn, ói mửa, khó chịu bụng, nổi ban, đau cổ họng. Những triệu chứng đường hô hấp có thể xảy ra. Trong những trẻ con lớn tuổi hơn, nhức đầu và đau bắp thịt có thể xảy ra. Trên phương diện tổng quát, những dấu chứng không đặc biệt và có thể bao gồm viêm giác mạc nhẹ nhiễm trùng cổ họng và nổi hạch ở cổ. Viêm màng nảo có thể hiện diện, nhưng trong trẻ nhỏ, những đặc tính lâm sàng đặc biệt khác với những ai với viêm màng nảo. Thường không đầy đủ. Sốt kéo dài 3 ngày và, thỉnh thoảng, chia làm 2 thời kỳ. Bệnh thường kéo dài 4-7 ngày nhưng có thể khoảng từ 1 ngày đến hơn 1 tuần lể. Đếm số bạch cầu trong máu và những kết quả của những thử nghiệm thông thường là b́nh thường. Sự nhiễm siêu vi đường ruột và nhiễm vi khuẩn cùng lúc đă được quan sát ở một số nhỏ trẻ con nhỏ. Quan trọng ở những trẻ c̣n quá nhỏ bị nghi ngờ có nhiễm siêu vi đường ruột với sốt, ta nên cho uống trụ sinh để đề pḥng trường hợp này. Hay nói một cách dể hiểu, trẻ con dưới 7 tháng tuổi nếu có sốt dù ở mức độ cao hay thấp, phải được cho những trụ sinh có tính tiêu diệt vi khuẩn rộng (broad spectrum).

 

Những bệnh nhiễm siêu vi đường ruột có thể được đi đôi với một biến đổi rộng rải của những biểu hiện da, bao gồm macular (vết nhỏ), maculopapular (vết nhỏ với mụn), mề đay, vesicular (mụn nước), và petechial eruptions (nổi ban xuất huyết nhỏ). Những trường hợp hiếm có của idiopathic thrombocytopenic purpura (xuất huyết do giăm tiểu cầu không rỏ nguyên do) đă được tường tŕnh. Những siêu vi đường ruột cũng đă được ám chỉ trong bệnh ngoài da do siêu vi pityriasis rosea. Trên phương diện tổng quát, độ xuất hiện của những triệu chứng ở da được liên hệ đảo ngược với tuổi tác (càng ít tuổi càng có nhiều triệu chứng ở da). Những loại siêu vi đường ruột thông thường được đi đôi với những nổi mẩn da là echoviruses 9, 11, 16, và 25; siêu vi coxsackie A 2, 4, 9, và 16; và siêu vi coxsackie B 3, 4, 5. Siêu vi thỉnh thoảng được phục hồi từ những sang thương da với mụn nước (vesicles).

  • Viêm và Loét ở Miệng và Cổ Họng (Herpangina)

Herpangina được mang đặc tính bởi xuất hiện đột ngột của sốt, đau cổ họng, khó nuốt, và những sang thương phía sau yết hầu. Nhiệt độ khoảng chừng từ b́nh thường đến 41°C (106°F); sốt có khuynh hướng cao hơn ở những bệnh nhân trẻ hơn. Nhức đầu và đau lưng có thể xảy ra ở những trẻ lớn tuổi hơn, và ói mửa và đau bụng xảy ra trong 25% các trường hợp. Những sang thương biệt, hiện diện trên phía trước hạch hầu (tonsil), phần mềm ṿm miệng (soft palate), lưởi gà (uvula), hạch hầu, phía sau yết hầu, và, thỉnh thoảng, những mặt bên trong miệng của g̣ má. Những mụn nước kín đáo 1-2 mm và những vết loét mở rộng ra trong 2-3 ngày đến 3-4 mm và được bao quanh bởi những ṿng đỏ có kích thước biến đổi lên đến 10 mm. Điển h́nh khoảng 5 sang thương hiện diện, với một khoảng 1 đến hơn 15. Phần c̣n lại của yết hầu xuất hiện b́nh thường hay đỏ ít. Hầu hết các trường hợp là nhẹ và không có những biến chứng; tuy nhiên, vài biến chứng được đi đôi với viêm màng nảo hay bệnh nặng hơn. Sốt kéo dài chừng 1-4 ngày, và những triệu chứng biến mất xảy ra trong 3-7 ngày. Những siêu vi đường ruột khác nhau gây ra herpangina, bao gồm enterovirus 71, mặc dù coxsackie A bị ám chỉ thường xuyên nhất.

  • Những Triệu Chứng Đường Hô Hấp (Respiratory Manifestations)

Những triệu chứng như đau cổ họng và sổ mủi thường đi theo và đôi khi là đa số những bệnh do siêu vi đường ruột. Những phát hiện bao gồm những triệu chứng đường hô hấp trên, kḥ khè, suyễn nặng hơn, khó thở, mệt đứt hơi, viêm phổi, viêm tai giữa, viêm cuống phổi nhỏ, bệnh ho khàn (croup), viêm tuyến nước bọt mang tai, và viêm yết hầu và tuyến hầu (pharyngotonsilitis), thỉnh thoảng có thể tiết ra huyết thanh (exudative). Nhiễm trùng đường hô hấp dưới có thể đáng kể trong những bệnh nhân bị yếu miễn nhiễm.

 

Dịch đau cơ ngực (pleurodynia/ Bornholm disease), được gây ra thường xuyên nhất bởi siêu vi coxsackie B 3, 5, 1, và 2 echoviruses 1 và 6, là một dịch (epidemic) hay bệnh xảy ra thỉnh thoảng có đặc tính bởi đau lồng ngực từng cơn, do viêm cơ liên quan đến những bắp thịt lồng ngực và thành bụng. Trong những trận dịch, trẻ con và người trưởng thành đều bị ảnh hưởng, nhưng hầu hết các trường hợp xảy ra ở những người trẻ hơn 30 tuổi. Mệt mỏi khó chịu, đau cơ, và nhức đầu được theo sau bởi sự xuất hiện đột ngột của nóng sốt và đau màng phổi và co thắt trong lồng ngực hay phần bụng trên bị nặng hơn bởi ho, hắt hơi, thở sâu, hay cử động khác. Trong lúc những cơn co thắt, kéo dài từ vài phút đến nhiều giờ, đau có thể nặng và hơi thở thường nhanh, nông cạn, và càu nhàu, cho biết viêm phổi hay viêm màng phổi. Tiếng cọ sát màng phổi có thể ghi nhận trong những cơn đau, mặc dù h́nh phổi thường là b́nh thường. Đau được định vị ở bụng thường là bị chuột rút/co thắt, cho biết đau bụng ở trẻ con nhỏ. Dáng điệu xanh xao, đổ mồ hôi, giống như bị kích xúc có thể giống như nghẻn ruột non; sự đau đớn và nhạy căm khi bị sờ vào bụng có thể giống như viêm ruột thừa hay viêm màng bụng. Bệnh thường kéo dài 3-6 ngày, và, thỉnh thoảng, lên đến 2 tuần. Thường hai giai đoạn và hiếm khi được đi đôi với những giai đoạn tái diển trong vài tuần lể, với sốt ít rỏ ràng hơn trong lúc tái phát. Dịch đau cơ có thể được đi đôi với viêm màng nảo, viêm dịch hoàn, viêm cơ tim, hay viêm màng bao tim.

Phù phổi, xuất huyết, và/hay viêm mô phổi kẻ (interstitial pneumonitis) nguy hiểm tính mạng có thể xảy ra ở những bệnh nhân với viêm nảo do enterovirus 71.

 

  • Những Triệu Chứng Ở Mắt (Ocular Manifestations)

Những dịch của viêm kết mạc xuất huyết cấp tính, nguyên thủy gây ra bởi entrovirus 70 coxsackievirus A24/ A24 biến thể (A24 variant), bùng nổ, lan truyền chính qua mắt-tay-vật dụng-mắt. Những trẻ con tuổi đi học, những thanh thiếu niên, và những người trưởng thành 20-50 tuổi có những tỉ lệ bị tấn công cao nhất. Khởi bệnh đột ngột của đau mắt nặng (severe eye pain) được đi đôi với sợ ánh sáng, mờ mắt, chảy nước mắt, đỏ và phù kết mạc (conjunctivitis), phù mí mắt, sưng hạch bạch huyết chung quanh tai, và, trong vài trường hợp, xuất huyết dưới kết mạc và viêm giác mạc có những lổ cạn (superficial punctate keratitis). Ghèn khởi đầu sền sệt nhưng trở nên như mủ với nhiễm trùng thứ cấp. Những triệu chứng toàn thân bao gồm nóng sốt hiếm, mặc dù những biểu hiện như sốt kết mạc yết hầu thỉnh thoảng xảy ra. Sự phục hồi thường hoàn toàn trong ṿng 1-2 tuần lễ.

Bệnh những rể thần kinh (polyradiculoneuropathy) hay bệnh liệt theo sau enterovirus 70 thỉnh thoảng xảy ra. Những enteroviruses khác thỉnh thoảng đă bị ám chỉ như là những nguyên do của viêm kết mạc-giác mạc (keratoconjunctivitis).

H́nh 3 Những phát hiện có đặc tính của nhiễm siêu vi đường ruột bao gồm những sang thương đốm xuất huyết dưới da (petechiae), đốm nhỏ với mụn nhỏ (maculopapula) hay mụn nước nhỏ (vesicles) trên tay và chân (h́nh A, B), những sang thương lở loét với viền đỏ ở trong màng nhầy miệng (C), và xuất huyết và phù nề của kết mạc (hemorrhage and edema of conjunctiva (D (Courtesy of J. H. Brien)

Dịch viêm màng giữa mắt và những trường hợp thỉnh thoảng xảy ra ở trẻ con gây ra bởi những loại phụ của enteroviruses 11 và 19 có thể được đi đôi với những biến chứng nặng, bao gồm sự hủy hoại của tṛng đen mắt, cườm, và tăng áp nhản. Những enteroviruses đă được ám chỉ trong nhiều trường hợp của viêm đáy mắt (chorioretinitis), viêm màng giữa và đáy mắt (uveoretinitis), viêm thần kinh thị giác, và bệnh điểm vàng trong đáy mắt cấp tính một bên (unilateral acute idiopathic maculopathy)

Viêm kết mạc xuất huyết cấp tính là một nhiễm trùng lây lan cao độ được có đặc tính bởi đau mắt, mí mắt sưng, và xuất huyết dưới kết mạc (xem H́nh 3). Những trận dịch lan rộng của viêm kết mạc xuất huyết cấp tính đă xảy ra trong nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt ở những vùng nhiệt đới. Hai loại của siêu vi đường ruột đă gây ra cho hầu hết những trường hợp. Enterovirus 70 đă là nguyên do của dịch toàn cầu nguyên thủy (“bệnh Apollo 11”), đầu tiên được công nhận ở năm 1969 và lan truyền khắp địa cầu trong đầu thập niên 1970s. Từ 1970, dịch học của bệnh được gây ra bởi một thể biến đổi của coxsackievirus A24 đă quấn quít với enterovirus 70. Cả hai viruses đă gây ra những dịch xuyên suốt Đông Nam Á và Ấn Độ. Bệnh ở phương tây đă nằm trong những bùng phát theo mùa ở Caribbean, Trung Mỹ, và nam Florida.

 

Năm 1975, tôi được chỉ định (không có sự đồng ư) làm ủy viên y tế của trường đại học Y Khoa Sài G̣n. Nhiệm vụ của tôi là liên lạc và điều động các bạn trong cùng năm thứ 5 (200 người nam và nữ) đi dẹp 2 trận dịch bệnh do con cái ghẻ (scabie: có biệt danh là “ghẻ bộ đội” v́ nó tấn công 90% người dân Sài G̣n ( 5 quận nội thành và 6 quận ngoại thành) cùng lúc bộ đội miền bắc tiến chiếm thành phố Sài G̣n ngày 30/4/1975) và trận dịch đau mắt cấp tính (acute hemorrhagic conjunctivitis). Lúc ấy, chúng tôi không biết loại siêu vi nào tấn công v́ kiến thức quá tệ nhưng cũng hoàn thành nhiệm vụ v́ những siêu vi này hiền chứ không phải chúng tôi giỏi. Giờ đây, tôi đă phát giác ra rằng trận dịch đau mắt cấp tính năm xưa ở Sài G̣n do hai con siêu vi coxsackie A24 và enterovirus 70.

 

Viêm kết mạc xuất huyết cấp tính được lan truyền trực tiếp từ người sang người bởi những ngón tay và vật dụng trong nhà. Cả siêu vi enterovirus 70 và coxsackievirus A24 đă được cô lập từ nước mắt, nhưng chỉ không thường xuyên từ những nơi khác. Bệnh lây được thích hợp bởi đám đông và t́nh trạng vệ sinh kém; nước được dùng trở lại cho tắm và dùng chung khăn đóng góp cho sự lan truyền của nhiễm siêu vi. Sau một thời gian ủ bệnh của 1-2 ngày, những triệu chứng của đau mắt, sợ ánh sáng, chảy nước mắt, và sưng mí mắt xuất hiện đột ngột. Sốt và nhức đầu xảy ra trong 20% của các trường hợp. Phát hiện thể lực khác biệt là xuất huyết dưới kết mạc, được t́m thấy trong 70% đến 90% các trường hợp gây bởi enterovirus 70 nhưng ít hơn ở coxsackievirus A24. Phù kết mạc và sự thành lập nang, viêm giác mạc điểm nhỏ (punctuate epithelial keratitis, và preauricular lymphadenopathy) thường hiện diện. Những triệu chứng và dấu chứng của viêm kết mạc xuất huyết cấp tính cao nhất ở ngày đầu của bệnh và biến mất nhanh chóng trong ṿng vài ngày mà không có những biến chứng tồn tại ở mắt. Những trường hợp bất thường của liệt vận động mắt đi cùng đă được tường tŕnh trong vài bùng phát enterovirus 70.

  • Viêm Cơ Tim Và Viêm Màng Bao Tim (Myocarditis and Pericarditis)

Những siêu vi đường ruột gây bệnh cho khoảng 25-35% của những trường hợp của viêm cơ tim và viêm màng bao tim với những nguyên do được chứng minh. Coxsackie B viruses là thường xuyên bị ám chỉ, mặc dù coxsackie A viruses và echoviruses cũng có thể là nguyên do. Những thiếu niên và những người trưởng thành trẻ, đặc biệt những người nam, bị ảnh hưởng nhiều hơn. Viêm cơ tim và bao tim có thể là đặc điểm chủ yếu hay nó có thể một phần của bệnh lan tràn, như trong những trẻ sơ sinh. Bệnh trong khoảng từ tương đối nhẹ đến nặng. Những triệu chứng đường hô hấp trên thường đi trước bởi mệt mỏi, khó thở, đau ngực, suy tim, và loạn nhịp tim. Những triệu chứng có thể giống như nhồi máu cơ tim; chết đột ngột có thể xảy ra (bao gồm hội chứng chết đột ngột ở trẻ nhỏ). Một tiến cọ sát màng bao tim (pericardial friction rub) chỉ dấu sự liên quan đến màng bao tim. X-Ray của lồng ngực thường thấy tim lớn. EKG thường xuyên cho thấy những bất thường ST, T wave, và/hay nhịp điệu tim, và siêu âm tim có thể xác định tim ph́nh lớn, sự co bóp của tim bị giăm, và/hay ngập nước màng bao tim. Nồng độ phân hóa tố trong huyết thanh cơ tim (CK, Troponins) có thể gia tăng. Tử vong cấp tính của viêm cơ tim do siêu vi đường ruột là 0% cho đến 4%. Sự phục hồi hoàn toàn không có tật bệnh trong đa số bệnh nhân. Thỉnh thoảng, bệnh cơ tim kinh niên, những mạch lựu nhỏ li ti của tâm thất viêm sưng, hay viêm xiết chặc màng bao tim (constrictive pericarditis) có thể xảy ra. Vai tṛ của nhiễm siêu vi kéo dài trong bệnh cơ tim ph́nh lớn kinh niên là đang bàn cải. Siêu vi đường ruột cũng đă được ám chỉ trong những biến cố tim biến chứng trể theo sau ghép tim và những biến cố động mạch vành tim cấp tính, và trong bệnh cơ tim trong lúc sanh nở. Rối loạn cơ tim được quan sát trong những trận dịch enterovirus 71 đă xảy ra thường xuyên nhất với không có bằng chứng viêm cơ tim và có thể là của nguyên do thần kinh; tuy nhiên, viêm cơ tim thật sự cũng đă được mô tả.

  • Những Triệu Chứng Đường Tiêu Hóa và Đường Sinh Dục Tiểu Tiện
    (Gastrointestinal and Genitourinary Manifestations)

Những triệu chứng như ói mửa (đặc biệt với viêm màng nảo), tiêu chảy (hiếm khi nặng), và đau bụng thường nhưng không phải là đa số. Tiêu chảy, máu trong phân, dấu chứng hơi trong ruột là báo hiệu có thể viêm hoại tử ruột (pneumatosis intestinalis), và viêm ruột non và ruột già hoại tử đă xảy ra trong những trẻ con nhỏ sinh non trong lúc bùng phát ở pḥng nuôi trẻ sơ sinh. Nhiễm siêu vi đường ruột đă được ám chỉ trong viêm ruột non kinh niên trong những bệnh nhân thiếu gamma globulin, kháng thể (hypogammaglobulinemic), viêm gan thỉnh thoảng xảy ra ở những trẻ con b́nh thường, viêm gan nặng ở trẻ sơ sinh, và viêm tụy tạng, có thể kết quả trong suy tụy tạng ngoại tiết thoáng qua.
 

H́nh 4 Một trẻ sơ sinh được mẹ sinh ra đầy đủ tháng ở người mẹ bị một bệnh đường hô hấp, lúc ra đời. Bé đă có khởi bệnh “nhiễm trùng máu áp đảo” ở 3 ngày tuổi, và đă chết. Những mẩu bệnh phẩm cấy từ nhiều cơ quan khác nhau và phân cho dương tính với siêu vi đường ruột. Không có vi khuẩn nào mọc cả. Giải phẩu tử thi đă t́m thấy gan nhỏ xuất huyết (A), và được chụp h́nh dưới kính hiển vi có độ phóng đại 400 lần cho thấy hoại tử gan lan rộng (extensive hepatocellular necrosis) (B) (Courtesy of S.S. Long.)

 

Coxsackie B viruses chỉ đứng sau bệnh quai bị như là những nguyên nhân của viêm dịch hoàn (orchitis), thường với viêm ồng dẩn tinh. Siêu vi đường ruột cũng đă được ám chỉ trong những trường hợp của viêm thận và bệnh thận IgA.

  • Những Triệu Chứng Thần Kinh (Neurologic Manifestations)

Những siêu vi đường ruột là nguyên do thông thường nhất của viêm màng nảo do siêu vi trong những dân số được chủng ngừa quai bị, chịu trách nhiệm cho đến 90% hay nhiều hơn của những trường hợp mà trong đó một nguyên do được nhận ra. Viêm màng nảo đặc biệt phổ thông ở trẻ con nhỏ dưới 1 tuổi (1 đến 12 tháng), đặc biệt những trẻ dưới 3 tháng, thường trong những trận dịch ở cộng đồng. Thường được ám chỉ những kiểu huyết thanh bao gồm coxsackie B viruses 2-5; echoviruses 4, 6, 7, 9,11, 13, 16, 30; parechoviruses1-6; và enteroviruses 70 71. Hầu hết các trường hợp trong các em bé nhỏ dưới 1 tuổi và trẻ con c̣n nhỏ nhẹ và thiếu những dấu chứng và triệu chứng đặc biệt. Nóng sốt hiện diện trong 50-100%, được kèm theo t́nh dể cáu kỉnh, khó chịu, nhức đầu, sợ ánh sáng, buồn nôn, ói mửa, lười ăn, mê mang, cơ thể mền nhảo, nổi mẩn, ho, xổ mủi, viêm yết hầu, tiêu chảy, và/hay đau cơ. Gáy cứng rỏ ràng trong hơn một nửa ở trẻ con >1-2 tuổi. Vài trường hợp có hai giai đoạn, với sốt và những triệu chứng không đặc biệt cho vài ngày được theo sau bởi sự trở lại của sốt với dấu hiệu màng nảo nhiều ngày sau đó. Sốt thường biến mất trong 3-5 ngày, và những triệu chứng khác ở em bé nhỏ (infants) và trẻ con nhỏ thường biến mất trong ṿng 1 tuần. Những triệu chứng có khuynh hướng nặng hơn và kéo dài hơn ở những người trưởng thành. Những phát hiện trong nước nảo tủy bao gồm gia tăng tế bào (thường ít hơn 500 nhưng thỉnh thoảng cao như 1,000-8,000 bạch cầu/mm3; thường những tế bào bạch cầu đa nhân là chủ yếu trong 48 giờ đầu tiên trước khi trở thành hầu hết bạch cầu đơn nhân); thành phần đường b́nh thường hay hơi thấp (10% <40 mg/dL); và thành phần chất đạm b́nh thường hay tăng nhẹ (thường <100 mg/dL). Dịch nảo tủy thỉnh thoảng có những số liệu b́nh thường thay v́ những kết quả cấy siêu vi dương tính hay PCR, đặc biệt trong vài tháng đầu tiên của cuộc đời. Những biến chứng xảy ra trong khoảng 10% ở trẻ con nhỏ, bao gồm những cơ kinh giật đơn giản hay phức tạp, lừ đừ, gia tăng áp lực trong sọ nảo, hội chứng của sự bài tiết kích thích tố chống lợi tiểu không thích hợp (SIADH syndrome), viêm nảo thất, bệnh động mạch nảo thoáng qua, và hôn mê. Dự hậu cho hầu hết trẻ con là tốt. Enteroviruses cũng chịu trách nhiệm cho ≥10-20% của những trường hợp của viêm nảo với một nguyên nhân được nhận ra. Những kiểu huyết thanh được ám chỉ thường xuyên bao gồm echoviruses 3, 4, 6, 11; coxsackie B viruses 2, 4, và 5; coxasackie A virus 9; và enterovirus 71. Sau những triệu chứng khởi đầu không đặc biệt, có sự tiến triển đến sự mơ hồ, yếu, lờ đờ, và/hay dể cáu kỉnh. Trầm căm thường là tổng quát, mặc dù những phát hiện tập trung, bao gồm kinh giật vận động địa phương (focal motor), bệnh múa không theo nhịp điệu nửa người (hemichorea), mất thăng bằng do tiểu nảo cấp tính (acute cerebellar ataxia), những triệu chứng extrapyramidal, và/hay những bất thường trong chụp h́nh ở những nơi tập trung, có thể xảy ra. Những triệu chứng trong khoảng từ t́nh trạng tâm thần thay đổi đến hôn mê đến t́nh trạng chậm lại. Những dư chứng lâu dài, bao gồm kinh giật, yếu đuối, liệt dây thần kinh nảo, co giật, rối loạn thần kinh chức năng làm chậm suy nghỉ và vận động, và mất thính giác, hay chết có thể theo sau bệnh nặng. Những trường hợp kéo dài hay tái phát đă được quan sát một cách hiếm hoi.

 

Những rối loạn thần kinh đă là nổi bật trong những trận dịch mới đây của bệnh enterovirus 71 mới đây ở những quốc gia trên bờ phía tây Thái B́nh Dương. Đa số của những trẻ con bị ảnh hưởng đă có bệnh tay-chân-miệng, vài trẻ đă có herpangina (bệnh miệng nổi những mụt nước), và những đứa trẻ khác đă không có những biểu hiện da-màng nhầy. Những hội chứng thần kinh trong một phần nhỏ của trẻ con đă bao gồm viêm màng nảo, viêm màng nảo-nảo & tủy sống, bệnh giống poliomyelitis với tê liệt mềm cấp tính (poliomyelitis-like acute flaccid paralysis), hội chứng Guillain-Barré, viêm tủy sống làm mất màng bao myelin của tế bào thần kinh (tranverse myelitis), chứng mất thăng bằng do tiểu nảo (cerebellar ataxia), opsoclonus-myoclonus syndrome (hội chứng co giật mắt theo nhiều hướng không tiên đoán được- co giật bắp thịt không tự ư), tăng áp lực sọ nảo hiền (benign intracranial hypertension), và brainstem encephalitis (viêm thần kinh trung ương và ngoại biên [hiếm]) (rhombencephalitis liên quan đến nảo giữa, cầu nảo, và hành tủy (medulla). Bệnh sau cùng được mang đặc tính bởi myoclonus (co giật không chủ ư của bắp thịt), ói mửa, mất thăng bằng (ataxia), co giật nhản cầu (nystagmus), run rẩy (tremor), những bất thường dây thần kinh nảo, rối loạnchức năng tự động, và sự chứng minh MRI của những vết thương cuống nảo. Mặc dù bệnh đă là nhẹ và có thể hồi phục được ở những trẻ con, những trẻ khác đă có tiến triển nhanh chóng đến phù phổi do thần kinh gây ra và xuất huyết, suy hô hấp tuần hoàn, kích xúc, và hôn mê. Những tỉ lệ tử vong cao đă được tường tŕnh, đặc biệt ở trẻ con <5 tuổi. Những thiếu xót như hô hấp trung ương kém, những rối loạn hành tủy (bulbar dysfunction), chậm phát triển về thần kinh, những thiếu sót tiểu nảo, những triệu chứng liên hệ hiếu động thái quá (hyperactivity), và yếu đuối và teo cơ tứ chi đă được quan sát trong những trẻ sống sót, đặc biệt ở những trẻ trải qua suy tuần hoàn hô hấp trong lúc bệnh cấp tính của chúng. Những h́nh ảnh lâm sang tương tự đă được tạo ra bởi những kiểu huyết thanh của những enteroviruses khác (như, echovirus 7).

 

 

Một MRI cho thấy sang thương của viêm tủy sống ngang (Transverse myelitis) (sang thương có màu nhạt hơn, h́nh xoan, MRI này được làm 3 tháng sau khi bệnh nhân đă b́nh phục.

 

Những bệnh nhân với những thiếu sót kháng thểnhững thiếu sót miễn nhiễm hỗn hợp (bao gồm nhiễm siêu vi HIV và acute lymphocytic leukemia) có rủi ro cho viêm màng năo-năo cấp tính hay, thường hơn, kinh niên. Bệnh sau cùng được mang đặc tính bởi những bất thường dịch năo tủy kéo dài, sự phát hiện siêu vi bởi cấy hay PCR cho nhiều năm, và viêm năo tái phát và/hay làm hư hỏng dần thần kinh, bao gồm sự hư hỏng âm ỉ về trí thông minh hay cá tính, t́nh trạng tâm thần bị thay đổi, kinh giật, yếu đuối về vận động, và tăng áp lực sọ năo. Mặc dù bệnh có thể lên lên xuống xuống, những thiếu sót trên tổng quát trở nên dần dần và tối hậu thường là tử vong hay dẫn đến những dư chứng lâu dài. Một dermatomyositis-like syndrome, viêm gan, viêm khớp, viêm cơ tim, hay nhiễm trùng lan tràn có thể cũng xảy ra. Chronic enterovirus meningoencephalitis đă trở nên ít thông thường hơn bây giờ mà trị liệu với thay thế kháng thể với liều cao vào tĩnh mạch immunoglobulin có sẵn.

 

Một biến đổi của nonpoliovirus enteroviruses, bao gồm enterovirus 70 và 71, coxsackie A viruses 7 và 24, coxsackie B viruses, và nhiều echoviruses, có thể gây ra poliomyelitis-like acute flaccid paralysis với yếu vận động do liên quan tế bào sừng trước. Bệnh có khuynh hướng nhẹ hơn bệnh gây bởi poliovirus, với ít hành tủy liên quan và ít yếu sức kéo dài. Những hội chứng thần kinh khác bao gồm mất thăng bằng tiểu năo, tranverse myelitis, hội chứng Guillain-Barré, acute disseminated encephalomyelitis, viêm thần kinh ngoại biên, viêm thần kinh thị giác, những bệnh dây thần kinh năo khác, mất thính giác th́nh ĺnh, tiếng lào xào trong tai (tinnitus), và những rối loạn tai trong như vestibular neuritis (viêm thần kinh tiền đ́nh).

  • Viêm Cơ và Viêm Khớp (Myositis and Arthritis)

Mặc dù đau cơ là thông thường, bằng chứng trực tiếp của sự liên quan với cơ, bao gồm ly tán cơ vân (rhabdomyolysis), sưng bắp thịt, viêm bắp thịt tập trung (tiêu điểm), và polymyositis, đă được tường tŕnh không phổ biến. Một hội chứng dermatomyositis-like và viêm khớp có thể được thấy trong những bệnh nhân hypogammaglobulinemic bị nhiễm enterovirus. Enteroviruses là một nguyên do hiếm xảy ra của viêm khớp trong những kư chủ b́nh thường.

  • Nhiễm Siêu Vi ở Trẻ Sơ Sinh (Neonatal Infections)

Những nhiễm siêu vi ở trẻ sơ sinh tương đối thông thường, với một tỉ lệ bệnh có thể so sánh với hay lớn hơn của nhiễm siêu vi herpes simplex ở trẻ sơ sinh, cytomegalovirus, và bệnh streptococcus nhóm B. Nhiễm siêu vi thường được gây ra bởi coxsackie B viruses 2-5 echoviruses 6, 9,11, và 19, mặc dù nhiều loại kiểu huyết thanh đă được ám chỉ, bao gồm, trong những năm sau này, coxsackie B virus 1 echovirus 30. Enteroviruses có thể được mắc phải theo chiều dọc trước, trong lúc, hay sau khi sanh ra đời, bao gồm sự lan truyền có thể xuyên qua sữa mẹ nếu người mẹ chưa có miễn nhiễm về những siêu vi này. Nhiễm siêu vi đường ruột hàng ngang từ những thành viên trong gia đ́nh; hay bởi sự lan truyền lẻ tẻ hay thành dịch trong những nhà giữ trẻ. Trong nhiễm siêu vi trong tử cung có thể dẩn đến sự tử vong của thai nhi, phù nề thai nhi không do miễn nhiễm, hay bệnh trẻ sơ sinh; thêm nửa, nhiễm siêu vi trong dạ conđă được phỏng đoán rằng được liên hệ đến những bất thường bẩm sinh, chậm lớn của thai nhi trong tử cung, những dư chứng về phát triển thần kinh, bệnh ở trẻ sơ sinh không giải thích được và tử vong, và gia tăng rủi ro bệnh tiểu đường loại 1.

 

Nhiễm siêu vi ở trẻ sơ sinh có thể trong khoảng từ không triệu chứng (đa số) đến bệnh sốt nhẹ đến bệnh nặng của nhiều hệ thống nội tạng. Hầu hết những trẻ sơ sinh bị ảnh hưởng sinh đủ tháng và trước đó khỏe mạnh; bệnh sử của mẹ thường vạch ra một bệnh siêu vi vừa mắc phải, bao gồm sốt và, thường xuyên, đau bụng. Những triệu chứng ở trẻ sơ sinh có thể xảy ra sớm như một ngày của cuộc đời, với khởi đầu của bệnh nặng thường trong ṿng 2 tuần lể đầu tiên cuộc đời. Những phát hiện thường xuyên bao gồm sốt hay nhiệt độ cơ thể thấp (hypothermia), dể cáu kỉnh, lừ đừ, biến ăn, nổi mẩn (thường là maculopapular, thỉnh thoảng petechia hay papulovesicular), vàng da, những triệu chứng hô hấp, ngừng thở, sưng gan to, ph́nh bụng, nôn mửa, tiêu chảy, và sự tiếp tế máu giăm. Hầu hết những bệnh nhân có tiến tŕnh bệnh hiền ḥa, với sự biến mất sốt trong khoảng 3 ngày và của những triệu chứng khác trong khoảng 1 tuần. Một tiến tŕnh bệnh hai giai đoạn cũng có thể thỉnh thoảng xảy ra. Một thiểu số có bệnh nặng được thống trị bởi bất cứ hổn hợp nào của nhiễm trùng máu, viêm màng năo-năo (meningoencephalitis), viêm cơ tim (myocarditis), viêm gan (hepatitis), bệnh rối loạn đông máu (coagulopathy), và viêm mô kẻ phổi (pneumonitis). Viêm màng năo-năo có thể được biểu hiện bởi những cơ kinh giật tập trung hay phức tạp, chổ thoi thóp trên đầu phồng lên (bulging fontanelle) cho biết có sự gia tăng áp lực trong năo, cứng cổ, hay mức độ tĩnh táo bị giăm. Viêm cơ tim (Myocarditis), hầu hết thường kết hợp với nhiễm siêu vi coxsackie B, có thể cho thấy bởi nhịp tim nhanh, khó thở, da tím, và tim sưng to. Viêm gan và viêm mô kẻ ở phổi (pneumonitis) được đi đôi với echovirus, mặc dù chúng có thể xảy ra với coxsackie B viruses. Những biểu hiện đường tiêu hóa có thể thống trị trong trẻ sơ sinh thiếu tháng. Những đánh giá pḥng thí nghiệm và x ray có thể cho thấy tăng bạch cầu, giăm tiểu cầu, nhiều tế bào trong dịch năo tủy, hư hại chất trắng của hệ thần kinh trung ương, những gia tăng trong những men gan (serum transaminases) và bilirubin, bệnh về rối loạn đông máu (coagulopathy), những xâm nhập phổi (lung infiltrates), và những thay đổi điện tâm đồ (EKG).

 

Hemophagocytic lymphohistiocytosis  (HLH), cũng được biết là hemophagocytic syndrome, là một rối loạn máu không phổ thông điển h́nh có những triệu chứng: như sốt, gan và lá lách lớn, nổi hạch bạch huyết, vàng da và nổi mẩn ở da, với những dấu hiệu pḥng thí nghiệm của sự gia tăng lymphocytes và histiocytes và bệnh lư của hemophagocytosis

Pancytopenia  (anemia,  neutropenia, and  thrombocytopenia), mức độ serum  ferritin  được gia tăng một cách rơ ràng, và những men gan bất thường, thường xuyên hiện diện. 

H́nh cho thấy những hồng huyết cầu nằm bên trong những thực bàoH&E stain.

Những biến chứng của bệnh ở trẻ sơ sinh nặng bao gồm hoại tử hệ thần kinh trung ương (central nervous system necrosis) và những tổn thương thần kinh toàn diện hay tập trung (systemic or focal); rối loạn nhịp tim, suy tim sung huyết (congestive heart failure), nhồi máu cơ tim (acute myocardial infarction), và viêm màng bao tim (pericarditis); hoại tử gan và suy gan; xuất huyết trong sọ năo hay nơi khác; hoại tử và xuất huyết nang thượng thận; và viêm mô phổi diển tiến nhanh chóng và cao áp huyết phổi. Viêm cơ, viêm khớp, viêm ruột non và ruột già hoại tử, hội chứng bài tiết kích thích tố chống lợi tiểu không thích hợp (SIADH), hội chứng thực bào máu đỏ (hemophagocytic syndrome), suy tủy xương, và chết bất ngờ là những biến cố hiếm. Tử vong với bệnh nặng là đáng kể và thường hầu hết được đi đôi với những biến chứng viêm gan và xuất huyết, viêm cơ tim, hay viêm mô phổi.

 

Đa số những trẻ sống sót của bệnh ở trẻ sơ sinh nặng có sự hồi phục dần dần của sự rối loạn gan và tim, mặc dù viêm cơ tim hóa vôi kinh niên và mạch lựu tâm thất có thể xảy ra. Viêm màng năo và năo có thể đi đôi với rối loạn lời nói và ngôn ngử; những thiếu sót về nhận thức; tính co cứng bắp thịt, bắp thịt nhảo (hypotonicity), hay yếu đuối; những rối loạn kinh giật; đầu nhỏ (microcephaly) hay đầu nước (hydrocephaly); và những bất thường về nhản cầu. Tuy nhiên, hầu hết những người sống sót h́nh như không có những dư chứng lâu dài. Những yếu tố rủi ro cho bệnh nặng bao gồm khởi bệnh trong vài ngày đầu tiên của cuộc sống, bệnh của người mẹ ngay trước khi sanh hay ngay lúc sanh đẻ, sinh non, phái tính nam, nhiễm những siêu vi echovirus 11 hay một coxsackie B virus, kết quả cấy siêu vi trong huyết thanh dương tính, vắng mặt của kháng thể trung ḥa, và bằng chứng của viêm gan nặng và/hay bệnh nhiều hệ thống.

  • Những Người Được Ghép Tế Bào Gốc và Những Bệnh NHân Với Ung Thư
    (Stem Cell Transplant Recipients and Patients with Malignancies)

Những nhiễm siêu vi đường ruột nặng và kéo dài trong những người nhận ghép tế bào gốc bao gồm viêm phổi tiến triển nặng dần, tiêu chảy nặng, viêm màng bao tim, suy tim, viêm năo-màng năo, và bệnh lan tràn. Hội chứng thiếu máu do thực bào đi đôi với siêu vi đường ruột, viêm màng năo, viêm năo, và viêm cơ tim đă được tường tŕnh ở trẻ con với những ung thư. Những nhiễm siêu vi ở cả hai nhóm được đi đôi với những tỉ lệ tử vong cao.

 

Làm Sao Để Biết Có Bệnh do Siêu Vi Đường Ruột

 

Những dấu hiệu cho sự nhiễm siêu vi đường ruột bao gồm những dấu hiệu có đặc tính như bệnh tay, chân, miệng hay những sang thương viêm loét miệng và cổ họng (herpangina), tương ứng với mùa bệnh, sự bùng phát được biết rỏ trong cộng đồng, và tiếp xúc với bệnh tương ứng với enterovirus. Ở trẻ sơ sinh, bệnh sử của sốt ở người mẹ, khó chịu, và/hay đau bụng gần lúc sanh đẻ trong mùa enterovirus được gợi ư.

 

Cấy siêu vi dùng một hỗn hợp của những ḍng tế bào là tiêu chuẩn vàng cho sự xác nhận. Tính nhạy cảm trong khoảng từ 50% đến 75% và có thể được gia tăng bởi lấy mẩu bệnh phẩm nhiều nơi. Ở trẻ con với viêm màng năo, gặt hái được ở cấy được tăng mạnh bởi lấy mẩu dịch năo tủy cộng với cổ họng và trực tràng. Ở những trẻ sơ sinh, những gặt hái bệnh phẩm cấy 30 đến 75% đạt đến được khi máu, nước tiểu, dịch năo tủy, và những mẩu lấy từ quẹt ở màng nhầy được cấy. Cấy siêu vi dùng một hổn hợp của những ḍng tế bào là tiêu chuẩn vàng cho sự xác nhận. Tính nhạy cảm trong khoảng từ 50% đến 75% và có thể được gia tăng bởi lấy mẩu bệnh phẩm nhiều nơi. Ở trẻ con với viêm màng năo, gặt hái được ở cấy được tăng mạnh bởi lấy mẩu dịch năo tủy cộng với cổ họng và trực tràng. Ở những trẻ sơ sinh, những gặt hái bệnh phẩm cấy 30 đến 75% đạt đến được khi máu, nước tiểu, dịch năo tủy, và những mẩu lấy từ quẹt ở màng nhầy được cấy. Một giới hạn chính là hầu hết những siêu vi coxsackie A không có khả năng mọc trên môi trường cấy. Sự gặt hái cũng có thể giới hạn bởi kháng thể trung ḥa ở những mẩu bệnh phẩm từ bệnh nhân, sự xử lư mẩu bệnh phẩm không đúng, hay tính không nhạy cảm với những ḍng tế bào. Cấy tương đối chậm, với 3-8 ngày để thấy được sự mọc của siêu vi. Sự phát hiện kháng nguyên bằng cách quay ly tâm được tăng cường, cộng với cấy (shell vial techniques) có thể làm ngắn đi thời gian phát hiện, nhưng tính nhạy cảm của kỷ thuật này đă đang giới hạn. Mặc dù cấy một siêu vi đường ruột từ bất cứ nơi nào có thể được coi như bằng chứng của sự nhiễm siêu vi vừa xảy ra, cô lập siêu vi từ trực tràng hay phân có thể phản ảnh sự thải ra một cách mơ hồ.

Thử nghiệm trực tiếp cho nucleic acid có tính nhạy cảm rất cao và loại trừ những kết quả chậm trể của cấy siêu vi. Sự phát hiện RT-PCR của những vùng được bảo toàn cao độ của bộ nhân di truyền siêu vi đường ruột có thể phát hiện đa số những siêu vi đường ruột, bao gồm coxsackie A viruses (nhưng thường không được với parechoviruses) trong những mẩu nghiệm dịch năo tủy; huyết thanh; nước tiểu; kết mạc; đường mủi yết hầu, cổ họng, khí quản, trực tràng, phân, và vết máu khô; và mô tế bào như cơ tim, gan, và năo. Tính nhạy cảm và tính đặc biệt của RT-PCR là cao, với những kết quả trong thời gian ngắn 2-3 giờ. Thử nghiệm trong thời gian đang xảy ra và số lượng và những thử nghiệm RT-PCR được đặc vào với tính nhạy cảm tăng gia tăng đă được phát triển, như có những thử nghiệm PCR làm tăng số siêu vi có chứa siêu vi đường ruột, những thử nghiệm làm phóng đại chuổi dây chuyền nucleic acid (NASBA), những thử nghiệm PCR được làm gia tăng cấy siêu vi, và những thử nghiệm microarray được căn cứ trên PCR. Những kết quả của thử nghiệm PCR của dịch năo tủy từ trẻ con với viêm màng năo và từ những bệnh nhân.

Ở những trẻ sơ sinh và ấu nhi nhỏ bị bệnh, thử nghiệm PCR của huyết thanh và nước tiểu có thành quả cao hơn cấy siêu vi, và số lượng siêu vi trong máu được tương ứng với độ nặng nhẹ. Áp dụng thông thường của PCR dịch năo tủy cho ấu nhi và trẻ con nhỏ với nghi ngờ viêm màng năo làm giăm số những thử nghiệm chẩn đoán, khoảng thời gian nằm bệnh viện, xử dụng trụ sinh, và phí tổ tổng cộng. Những thử nghiệm PCR cho loài kiểu huyết thanh đặc biệt (như, enterovirus 71 và coxsackie A virus 16) cũng đă được phát triển. Cho enterovirus 71, thành quả của những mẩu bệnh phẩm khác hơn dịch năo tủy (quẹt cổ họng, mủi-yết hầu, trực tràng, và mụn nước và mô tế bào hệ thần kinh trung ương) là lớn hơn (bởi PCR hay cấy siêu vi) thành quả từ những mẩu bệnh phẩm dịch năo tủy, không thường dương tính siêu vi.

 

Những nhiễm siêu vi enterovirus có thể được t́m thấy bnằg huyết thanh bằng một đi lên, trong huyết thanh hay dịch năo tủy, của thử nghiệm immunosorbent được liên hệ đến sự trung ḥa, cố định complement (ELISA), hay kháng thể loại đặc biệt khác hay bởi kháng thể IgM loại kiểu huyết thanh đặc biệt. Tuy nhiên, thử nghiệm về huyết thanh đ̣i hỏi kiến thức đoán chừng của nhiễm loại kiểu huyết thanh hay một thử nghiệm với tính phản ứng chéo rộng đủ. Tính nhạy cảm có thể bị giới hạn. Ngoại trừ cho những nghiên cứu dịch học hay những trường hợp nặng đặc sắc của những loại kiểu huyết thanh đặc biệt (như, enterovirus 71), huyết thanh học trên phương diện tổng quát là ít hửu dụng hơn cấy siêu vi hay phát hiện nucleic acid.

 

Trị Liệu

 

Không có một trị liệu đặc biệt chống siêu vi cho những nhiễm siêu vi siêu vi đường ruột, săn sóc hổ trợ là trị liệu chính. Những trẻ con sơ sinh và ấu nhi nhỏ với những bệnh sốt không đặc biệt và những trẻ con với viêm màng năo thường đ̣i hỏi loại bỏ chẩn đoán cho nhiễm vi khuẩn và siêu vi herpes simplex và nhập viện cho trị liệu phỏng đoán cho đến khi những thử nghiệm loại trừ những chẩn đoán này. Những trẻ sơ sinh với bệnh nặng và những ấu nhi và trẻ con với viêm cơ tim hay lo lắng về những bệnh thần kinh (như, bệnh enterovirus 71 thần kinh và/hay tim mạch) có thể đ̣i hỏi săn sóc đặc biệt hổ trợ, bao gồm yễm trợ tuần hoàn-hô hấp và những sản phẩm máu. Milrinone đă đề nghị như một chất hửu dụng trong bệnh enterovirus 71 nặng tuần hoàn-hô hấp. Ghép gan và tim đă được thực hiện cho những trẻ sơ sinh với suy cơ quan tiến triển giai đoạn cuối.

Xử dụng immune globulin để trị nhiễm siêu vi đường ruột được chọn trên 2 trường hợp:

  • Phương pháp lấy máu của người mẹ đă bị nhiễm siêu vi đường ruột rồi tinh lọc lấy immune globulin truyền vào đứa trẻ bị bệnh tay chân miệng với những biến chứng thần kinh trung ương, phổi và tim đă và đang thực hiện ở những quốc gia trong vùng bờ tây Thái B́nh Dương. Số trường hợp thực hiện c̣n có tính cách lẻ tẻ không tập trung nhiều trường hợp ở những trung tâm điều trị nên chúng ta vẫn chưa coi như là một phương pháp hoàn chỉnh để trị bệnh với những biến chứng vừa kể. V́ không có những biện pháp trị liệu hửu hiệu khác, phương pháp này vẩn được dùng trong trường hợp cần thiết.

  • Immune globulin đă được truyền tĩnh mạch và vào trong tâm thất để trị những bệnh nhân với hypogammaglobulin với bệnh viêm năo-màng năo kinh niên do enterovirus, vàvào tĩnh mạch ở những bệnh nhân với ung bướu với những nhiễm siêu vi nặng, với sự thành công biến đổi khác nhau. Cho immune globulin và corticosteroids vào tĩnh mạch đă được dùng cho những bệnh nhân với bệnh thần kinh bị gây ra bởi enterovirus 71 và những loại enteroviruses khác; sự chuyễn biến của những sơ lược cytokine sau khi cho vào tĩnh mạch immune globulin cho viêm cuống năo đi đôi với nhiễm enterovirus 71 đă được chứng minh. Một nghiên cứu hồi cố đă cho rằng trị liệu của viêm cơ tim cho là do siêu vi với immune globulin đă được đi đôi với thành quả được tốt hơn; tuy nhiên, những chẩn đoán về siêu vi đă không được làm. Sự đánh giá của trị liệu corticosteroids và cyclosporine và ức chế miễn nhiễm khác cho viêm cơ tim đă là không kết luận được.

Trị liệu thành công cho viêm cơ tim do siêu vi đường ruột với interferon-α đă được tường tŕnh một cách rời rạc, và trị liệu interferon-β đă được đi đôi với sự dọn sạch siêu vi và chức năng tim được tốt hơn trong bệnh tim kinh niên được đi đôi với sự kéo dài của bộ nhân di truyền enterovirus hay adenovirus. Tính hoạt động của interferon-α chống lại enterovirus 71 đă được tường tŕnh trong những kiểu mẩu động vật.

 

Những thuốc chống siêu vi tác dụng trên nhiều bước trong chu kỳ của siêu vi đường ruột đang được đánh giá: bám vào, xâm nhập, mở bao siêu vi, diển dịch, chế biến polyprotein, hoạt động của protease, và sinh sản. Những thí sinh bao gồm những hợp chất hóa chất có hoạt động dược học, những chất nhỏ can thiệp vào giống như RNAs và DNA antisense, purine nucleoside analogues, enzyme inhibitors của những đường phản ứng dây chuyền dẩn truyền tín hiệu, oligodeoxynucleotides cảm ứng interferon, và những hợp chất dược thảo. Chất điều tra đi xa nhất, pleconaril, ức chế sự bám dính vào và cởi áo của piconaviruses (enteroviruses và rhinoviruses). thuốc uống này đă được đi đôi với sự tăng tốc vừa phải của lành triệu chứng trong vài nghiên cứu trẻ con và người lớn của viêm màng năo do enterovirus và lành bệnh nhanh một chút của những nhiễm siêu vi pinacovirus đường hô hấp. Những kinh nghiệm không kiểm chứng đă cho thấy rằng có thể có lợi ích trong những nhiễm siêu vi rủi ro cao, như là bệnh trẻ sơ sinh, viêm cơ, viêm năo, bệnh bại liệt, và nhiễm siêu vi trong những bệnh nhân yếu miễn nhiễm (bao gồm viêm năo-màng năo kinh niên). Sự đề kháng siêu vi đă được quan sát trong một số nhỏ bệnh nhân. Đơn xin giấy cho phép đă bị từ chối do sự lo lắng về tiềm năng những tác động qua lại của thuốc. Một thử nghiệm ngẩu nhiên ở trẻ sơ sinh với viêm gan nặng, bệnh đông máu, và/hay viêm cơ đang tiến triển. Phát họa và đánh giá của những chất thí sinh hoạt động chống lại enterovirus 71 là một ưu tiên hiện nay. Với những chất thuốc có sẵn, lactoferrin và ribavirin đă chứng minh tính hoạt động trong pḥng thí nghiệm và/hay trong những kiểu mẩu động vật.

 

Dự hậu trong đa số những nhiễm siêu vi đường ruột là rất tốt. Bệnh và tử vong được đi đôi chính với viêm cơ tim, bệnh thần kinh, những nhiễm siêu vi ở trẻ sơ sinh nặng, và những nhiễm siêu vi trong những kư chủ bị giới hạn miễn nhiễm.

 

Pḥng Bệnh

 

Pḥng bệnh đầu tiên là vệ sinh, như rửa tay để pḥng ngừa lây từ phân đến miệng và truyền qua hệ hô hấp bên trong gia đ́nh, trường học, và những cơ sở y tế; tránh dùng chung đủa, muỗng, nĩa và những b́nh chứa nước và những vật dụng có tiềm năng cho nhiều người; và tẩy trùng ở những bề mặt bị ô nhiễm. Trị liệu nước uống và những hồ tắm có thể quan trọng. Những biệm pháp kiểm soát nhiễm trùng như kiểm soát vệ sinh đám đông đă chứng tỏ hiệu nghiệm trong giới hạn dịch bùng phát ở nhà giữ trẻ. Cho một cách pḥng ngừa immune globulin hay huyết tương người vừa lành bệnh đă được dùng trong những dịch ở nhà giữ trẻ; cùng lúc xử dụng những biện pháp kiểm soát truyền nhiễm làm nó khó quyết định sự hiệu quả.

Những phụ nử đang mang thai gần sinh phải tránh tiếp xúc với những người bệnh, không nên tiến hành đở đẻ khẩn cấp ngoại trừ có sự lo lắng cho nguy hiểm thai nhi hay những khẩn cấp sản khoa không thể loại trừ ra được. Đúng hơn, nó có thể có lợi để kéo dài thai nghén, cho phép thai nhi lấy được một cách thụ động kháng thể bảo vệ. Một chiến lược của cho trẻ sơ sinh immune globulin một cách pḥng ngừa từ người mẹ với những nhiễm siêu vi đường ruột chưa được thử nghiệm.

Sự duy tŕ thay thế kháng thể với chích tĩnh mạch liều cao immune globulin cho những bệnh nhân với hypogammaglobulinemia đă làm giăm t́ lệ của viêm năo-màng năo kinh niên. Những thuốc chủng ngừa cho non-poliovirus enteroviruses chưa có sẳn, nhưng những thí sinh cho những loại kiểu huyết thanh dử đang được điều tra. Những áp dụng đang được đánh giá bao gồm thuốc chủng chứa những hạt giống như enterovirus 71 virus, những thuốc chủng ngừa chứa nhân di truyền của chất đạm hạt siêu vi enterovirus 71 và coxsackie B virus 3 VP1, sữa mẹ được làm giàu trong enterovirus 71 VP1 capsid protein hay lactoferrin, và interferon-γ--expressing recombinant viral vectors.

 

Tóm lại bệnh do siêu vi đường ruột (enteroviruses) có những h́nh thái bệnh lư khác nhau và độ nặng nhẹ cũng khác nhau. Riêng siêu vi enterovirus 71 đặc biệt gây những bệnh nặng và cho nhiều tử vong ở những quốc gia bên bờ phía tây của Thái B́nh Dương. Tôi cố t́nh đem đến những chi tiết nhiều về những h́nh thái bệnh lâm sàng để giúp những bậc cha mẹ biết những bệnh này của trẻ con, nhất là những trẻ con nhỏ (ấu nhi: infant) hay trẻ sơ sinh và t́m kiếm sự giúp đở của các cơ sở y tế kịp thời. Cho những bác sỉ lâm sàng nào không có cơ hội t́m hiểu nhiều về những bệnh do siêu vi đường ruột, cho kịp thời chẩn đoán và điều trị. Ngay cả bản thân của tôi trước kia vẩn xem thường những bệnh này v́ chưa gặp những thể bệnh nặng này. Nó cũng giúp cho tôi và những bệnh nhân tôi chuẩn bị trong những ngày du xuân.

 

Cung Chúc Tân Xuân.

Bác sĩ Nguyễn Vĩ Liệt

Viết xong ngày mồng một tháng giêng năm Nhâm Th́n (23/1/2012)

 

 

Tài Liệu Tham Khảo:

 

1.      Nonpolio Enteroviruses

Mark J. Abzug

Kliegman: Nelson Textbook of Pediatrics, 19th ed.

Copyright © 2011 Saunders

2.      Human enteroviruses

Gustavo Palacios,
Inmaculada Casas,
Gloria Trallero

Cohen & Powderly: Infectious Diseases, 3rd ed.

Copyright © 2010 Mosby

3.      Coxsackieviruses, Echoviruses, Newer Enteroviruses, and Parechoviruses

JOHN F. MODLIN

Mandell: Mandell, Douglas, and Bennett's Principles and Practice of Infectious Diseases, 7th ed.

Copyright © 2009 Churchill Livingstone

4.      Enteroviruses: Coxsackieviruses, Echoviruses, and Newer Enteroviruses

John F. Modlin

Long: Principles and Practice of Pediatric Infectious Diseases Revised Reprint, 3rd ed.

Copyright © 2009 Churchill Livingstone

5.      W.H.O. Overview of Hand, Foot, and Mouth Disease

Situation Updates on November 22, 2011

6.      W.H.O. A Guide To Clinical Management and Public Health Response for Hand, Foot, and Mouth Disease (HFMD)

Western Pacific Region, World Health Organization

7.      Enterovirus and Parechovirus Infections

James D. Cherry

Paul Krogstad

Remington: Infectious Diseases of Fetus and New Born, 7th ed.

Cpyright ©2010 Saunders

8.      Distribution of enteroviruses in hospitalized children with hand, foot and mouth

disease and relationship between pathogens and nervous system complications

Virology Journal 2012, 9:8 doi:10.1186/1743-422X-9-8

Wei Xu (tomxu.123@163.com)

Chun-feng Liu (xuw@sj-hospital.org)

Li Yan (yanl@sj-hospital.org)

Jiu-jun Li (lijj@sj-hospital.org)

Li-jie Wang (wanglj@sj-hospital.org)

Ying Qi (qiy@sj-hospital.org)

Rui-bo Cheng (chengruibo@yahoo.com)

Xiao-yu Xiong (13194221567@163.com)

 

9.      Enterovirus infection and type 1 diabetes mellitus:

systematic review and meta-analysis of observational

molecular studies

Wing-Chi G Yeung, medical student,1 William D Rawlinson, professor,1,2 Maria E Craig, associate professor2,3,4

1Faculty of Medicine, University of

 New South Wales, Sydney, NSW

 2052, Australia

 2Virology Research, POWH and

 UNSW Research Laboratories,

 Prince of Wales Hospital,

 Randwick, NSW 2031

 3The Children’s Hospital at

 Westmead, Institute of

 Endocrinology and Diabetes,

             Sydney

 4Discipline of Paediatrics and

 Child Health, University of Sydney,

 Sydney

 Correspondence to: M Craig,

 Institute of Endocrinology and

 Diabetes, The Children’sHospitalat

 Westmead, Locked Bag 4001,

 Westmead NSW 2145, Australia

 m.craig@unsw.edu.au

 

  

 

 

Viết xong ngày mồng một tháng giêng
năm Nhâm Th́n (23/1/2012)

Bác Sĩ Nguyễn Vĩ Liệt

 



                                                                                                              

 

     

 

                                                   www.ninh-hoa.com