trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


MỘT SỐ BÀI THƠ ĐƯỢC CHO LÀ
CỦA NGUYỄN TRĂI LÀM TRONG GIAI ĐOẠN SANG TRUNG QUỐC
Dương Anh Sơn
 

   


 

 

Bài 93 :

 

 

LAM QUAN HOÀI CỔ

藍 關 懷

 

 

Hành tận thiên sơn dữ vạn san (sơn),        千山與萬

Sóc phong xuy khởi măn Lam Quan.        吹起滿藍關

Quân vương tằng thử tư trung gián,          君王曾此思忠

Chướng hải diêu quan thất mă hoàn.        瘴海遙觀馬還

 

DỊCH THƠ:

 

Nhớ Lam Quan xưa

 

Đi muôn ngàn núi tận cùng,

Lam Quan gió bấc thổi lồng nơi nơi.

Tôi trung vua biết nghe lời,

Biển xa chướng độc, ngựa rồi về thôi.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Đi hết ngàn non cùng với muôn ngọn núi – Gió bấc nổi lên thổi khắp chốn Lam Quan - Nếu nhà vua biết xem xét lời can gián của người tôi trung - Ở nơi biển cả xa xôi dầu có chướng khí độc hại, ngựa sẽ lần lượt quay về thôi.

 

CHÚ THÍCH:

 

-     Tựa bài thơ (Lam Quan hoài cổ) tác giả lấy từ thơ Hàn Dũ đời nhà Đường dâng sớ can vua không được, bị gián chức đày đi Thiều Châu. Bài thơ Tự vịnh có câu: Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại, tuyết ủng Lam Quan mă bất tiền 雲橫家何在,擁藍關馬不前. Núi Tần mây giăng ngang, nhà ở đâu? Tuyết che phủ ải Lam, ngựa không tiến lên trước được.

-     hành tận: đi đến tận cùng, đi khắp, đi cho hết.

-     sóc phong: gió bấc, gió từ phương bắc thổi xuống phương nam.

-     藍關 Lam Quan: cửa ải lớn ở tỉnh Thiểm Tây, T.Q, nơi biết bao đời lính thú, quan lại phải chịu khổ cực để đối phó với các bộ tộc phương bắc thường đánh phá dọc biên giới.

-     思忠tư trung gián: suy nghĩ, xem xét lời can gián của các tôi trung.

-     diêu: xa xôi (có khi âm là “dao”)

-     quan: xem xét rộng răi, cảnh tượng nh́n thấy, ư thức, nhiều.

-     thất: đếm số ngựa. Chỉ việc cái người đi thú hoặc quan lại bị đày ải về rất ít hoặc ngựa về không có người cưỡi.
 

 


 

Bài 94 :

 

 

ĐỀ NAM HOA THIỀN PH̉NG

華 禪

 

 

Bán sinh khâu hác tiện u thê,                    半生丘壑便幽

Thiền tháp phân minh thính điểu đề.          榻分明聽鳥

Vạn lư nam lai sơn thủy viễn,                     山水

Nhất sinh năng kỷ quá Tào Khê.               一生能幾過漕溪

 

DỊCH THƠ:

 

Đề thiền pḥng chùa Nam Hoa

 

Nửa đời hang núi ở yên,

Lắng nghe chim hót giường thiền rơ vang.

Nam xa – non nước dặm ngàn,

Một đời mấy lúc ghé sang suối Tào.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Nửa đời ở chốn hang núi yên tĩnh vắng vẻ - Nơi giường thiền, nghe rơ ràng tiếng chim hót vang – Muôn ngàn dặm non nước về phía nam xa xa - Một đời mấy khi ghé qua suối Tào. 

 

CHÚ THÍCH:

 

-     Nam Hoa: chùa nằm ở Khúc giang, Quảng Đông (T.Q) có từ năm 502 đời nhà Lương do sư người Ấn là Trí Dược lập, đặt tên là Bảo Lâm. Đời Tống chùa đổi tên là Nam Hoa (xem thêm chi tiết bài 96 phía sau).

-     丘壑 khâu hác: hang đất, hang núi, hang hốc.

-     便 tiện: yên ổn, luân phiên.

-     u thê: nơi ẩn dật yên vắng (thê: nghỉ lại, nơi ở hoặc nghỉ ngơi).

-     thiền: chỉ chung nơi tự viện, pḥng tăng để tu học. Nghĩa khác là phương pháp tu tập hoặc là “minh tâm kiến tánh” (Thần Tú) hoặc là “tức tâm, tức Phật” theo lối “đốn ngộ” của Huệ Năng.

-     tháp: giường hẹp mà dài, thường dùng cho các sư tăng gọi là thiền tháp.

-     分明 phân minh: rơ ràng.

-     漕溪 Tào Khê: suối Tào chảy trước chùa Nam Hoa, tượng trưng chốn tu tập của các thiền sư. Nơi đây có bia đề của Liễu Tông Nguyên đời Đường ghi công trạng và phép tu của Tào Khê Lục Tổ Đại Giám thiền sư tức Lục Tổ Huệ Năng.

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com