trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 

THỜI KỲ SAU KHI BỊ TÙ OAN
MUỐN LUI VỀ ẨN DẬT
(Khoảng 1429 - 1437)
Dương Anh Sơn

   


 

 

Bài 66 :

 

HỌA HỮU NHÂN YÊN HÀ NGỤ HỨNG (I)

和 友 人 霞 寓 (一)

 

Bồng Lai Nhược Thủy yểu vô nha (nhai),    弱水杳

Tục cảnh đê hồi phát bán hoa.                   俗境低回半花

Vân ngoại cố cư không huệ trướng,          外故居空葸

Nguyệt trung thanh mộng nhiễu sơn gia.     月中清夢遶山家

Tâm như dă hạc phi thiên tế,                     心如野鶴飛

Tích tự chinh hồng đạp tuyết sa.                 踏雪沙

Nham huyệt thê thân hà nhật thị,                 岩穴身何日是

Thiên môn hồi thủ ngũ vân xa.                    回首五雲賒

 

DỊCH THƠ:

 

Họa bài thơ “Cảm hứng gửi khói mây và ráng trời” của bạn  (Bài 1)

 

Không bờ,  xa thẳm Nhược, Bồng,

Cơi trần nh́n lại nửa phần tóc pha.

Chốn xưa,  màn huệ mây xa,

Núi trong giấc mộng, quanh nhà trăng soi.

Ḷng như hạc nội chân trời,

Chân đi dẫm tuyết, cát phơi dấu hồng

Ngày nào hang núi nương thân,

Cửa trời quay lại xa dần năm mây!

 

DỊCH NGHĨA:

 

Bồng Lai, Nhược Thủy xa thẳm không bến  bờ - Nơi trần tục cúi đầu nh́n lại mái tóc đă bạc đốm nửa rồi - Nơi ở xưa nằm ngoài mây, màn trướng bằng hoa huệ thơm lặng lẽ - Trong vầng trăng tỏa, giấc mộng nhẹ ṿng quanh căn nhà ở núi - Tấm ḷng như con hạc nơi đồng nội bay xa tận chân trời - Dấu chân đi như chim Hồng dẫm cát và tuyết - Ngày nào mới được ở hang núi để nương thân đây!? – Quay đầu nh́n lại cửa trời năm sắc mây xa dần dần.

 

CHÚ THÍCH:

 

-     弱水 Bồng Lai, Nhược Thủy: tương truyền ở giữa biển Bột Hải (TQ) có ḍng Nhược chảy yếu và chậm quanh non Bồng là nơi các tiên ở.

-     yểu: xa thẳm, sâu thăm thẳm. Bản dịch của Hoàng Khôi (S.đ.d. tr.125) và của Đ.D.A (S.đ.d.tr.325) trong câu 1 đều dịch chữ ‘yểu” là “diểu” (diểu là số rất nhỏ âm của chữ “niểu ” có nghĩa là xa tít, xa thẳm cùng nghĩa với “yểu”.

-     không: trống vắng, trống không, bầu trời, lặng lẽ; không huệ trướng: màn huệ treo lặng lẽ.

-     tích: dấu chân.

-     chinh hồng: mượn ư thơ của tô Đông Pha (đời Tống Thần Tông (1076): “Nhân sinh đáo xứ tri hà tự; Ưng tự phi hồng đạp tuyết nê” (Hoài cựu) (人生到知何似, 應飛鴻踏雪泥 - 懷舊)– Người ta đi đến không biết ở xứ nào, giống như chim hồng đang bay mà phải dẫm đạp trên tuyết và bùn lầy.

-     雲賒 ngũ vân xa: năm sắc mây dần dần trở nên xa xôi (ngũ vân chỉ điềm lành sự êm ấm, tốt đẹp…)


 


 

Bài 67 :

 

HỌA HỮU NHÂN YÊN HÀ NGỤ HỨNG (II)

和 友 人 霞 寓 (二)

 

Tiên thư sổ quyển cựu sinh nha (nhai)      書數生涯

Cơ thực tùng căn tước nhật hoa.              根嚼日

Trúc hữu thiên can lan tục khách,               竹有千竿俗客

Trần vô bán điểm đáo tiên gia.                  塵無到仙家

Di êu giai hạc lệ song tà nguyệt,                瑤階鶴唳窗斜月

Điếu chử ngư hàn trạo các sa.                  寒棹

Đồ giác hồ trung phong nguyệt hảo,           覺壺月好

Niên niên bất dụng nhất tiền xa.                 年年不用一錢賒

 

DỊCH THƠ:

 

Họa bài thơ “Cảm hứng gửi khói mây và ráng trời” của bạn    (Bài 2)

 

Sách tiên mấy cuốn sống đời,

Rễ tùng khi đói, hoa trời nhai ăn!

Trúc ngàn,  khách tục cản ngăn,

Nhà tiên hạt bụi chẳng giăng nửa nào.

Hạc kêu thềm ngọc, trăng vào,

Gác chèo trên cát, băi câu lạnh ngời.

Biết bầu trăng gió tuyệt vời,

Quanh năm chẳng phải tốn vơi đồng nào!

 

DỊCH NGHĨA:

 

Sách tiên vài cuốn là vốn để sinh sống từ trước – Đói th́ ăn rễ tùng hoặc nhai ánh sáng mặt trời – Có ngàn cây trúc để ngăn chận khách tục - Chẳng có hạt bụi nào đến nhà tiên ở - Nơi thềm ngọc có tiếng hạc kêu, ánh trăng nghiêng vào song cửa - Bến câu cá lạnh lẽo, gác mái chèo lên cát – Đi và biết được bầu gió trăng đẹp đẽ - Quanh năm chẳng phải dùng đến một đồng tiền để tiêu phí nào cả.

 

CHÚ THÍCH:

 

-     生涯 sinh nhai: những phương cách để sống c̣n, cách thế sinh sống.

-     tước: nhai, cắn, xé, bóc tước…

-     lan: cản ngăn, chậm lại.

-     vô bán điểm: không có nửa hạt nào.

-     di êu: vẻ ngọc.

-     giai: thềm.

-     lệ: tiếng chim kêu.

-     窗斜月 song tà nguyệt: trăng nghiêng vào song cửa.

-     chử: băi đất, doi đất giữa sông có thể làm bến được.

-     các: gác, để lên.

-     xa: tốn kém, xa xỉ, xa xôi, chậm răi.

* Bản do Hoàng Khôi tuyển dịch (S.đ.đ tr.126) ở câu 4 dùng chữ “sơn gia” (山家) chữ tiên gia đi cùng với chữ tiên thư ở câu 1 có lẽ phù hợp hơn (sơn gia: nhà cửa các người ở ẩn trên núi, nhà ở vùng núi non).

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

 Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com