trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 

THỜI KỲ SAU KHI BỊ TÙ OAN
MUỐN LUI VỀ ẨN DẬT
(Khoảng 1429 - 1437)
Dương Anh Sơn

   


 

 

Bài 64 :

 

ĐỀ ĐÔNG SƠN TỰ

題 東 山 寺

 

Quân thân nhất niệm cửu anh hoài,           一念久嬰懷

Giản quư lâm tàm túc nguyện quai.            愧林

Tam thập dư niên trần cảnh mộng,            三十

Sổ thanh đề điểu hoán sơ hồi.                   數聲鳥喚初回

 

DỊCH THƠ:

 

Đề chùa Đông Sơn

 

“Quân, thân” – nhớ măi một niềm,

Rừng khe hổ thẹn sai nguyền ước xưa.

Mộng đời ba chục năm thừa,

Chim kêu vài tiếng ban sơ gọi về.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Một niềm nhớ măi (ơn) vua và cha mẹ - Thẹn với khe suối, tủi hổ với rừng đă sai với lời ước nguyền xưa - Cảnh đời hơn ba chục năm chỉ là mộng – Vài tiếng chim kêu của thuở ban sơ gọi quay trở về.

 

 

CHÚ THÍCH:

 

-     Quân, thân: đạo trung và hiếu ngày xưa đề cao ḷng trung thành.

-     嬰懷 anh hoài: nỗi nhớ quay ṿng, nhớ hoài, nhớ măi.

-     慚, tàm, quư: hổ thẹn, thẹn thùng.

-     túc: sớm, vốn có, cũ, xưa trước.

-     hoán: kêu lên, gọi đến.

-     sơ: thuở ban đầu, ban sơ.

 

 


 

Bài 65 :

 

THÙ HỮU NHÂN KIẾN KƯ

酬 友 人

 

Kiểu kiểu long tương vạn hộc chu              矯矯龍驤萬斛舟

An hành mỗi cụ phúc trung lưu.                  安行母覆中流

Sự kham thế lệ phi ngôn thuyết.                 事堪涕非言

Vận lạc phong ba khởi trí mưu,                 

Thân ngoại phù danh Yên Các quưnh         身外浮名煙閣

Mộng trung hoa điểu cố sơn u,                   中花故山幽

Ân cần kham tạ hương trung hữu,              慇懃謝鄉中友

Liêu bả tân thi tả ngă sầu.                          聊把新詩寫我愁

 

DỊCH THƠ:

 

Đáp lại thư bạn gửi

 

Ngẩng cao muôn hộc thuyền rồng,

Yên lành đi sợ giữa ḍng đắm thôi!

Đành rơi lệ, chẳng nên lời,

Tính toan sóng gió vận rơi sao giờ!

Thân xa Yên Các danh hờ,

Non xưa trong mộng lặng mờ chim hoa.

Bạn quê đành tạ thiết tha,

Nhờ mang thơ mới của ta dốc sầu!

 

DỊCH NGHĨA:

 

Chiếc thuyền rồng muôn hộc ngẩng cao đầu mạnh mẽ - Đi yên lành những vẫn sợ đắm giữa ḍng - Sự việc đành để rơi lệ, không nói ǵ được - Thời cơ rơi vào sóng gió, tính toan làm sao giờ! – Thân ở ngoài danh suông, xa cách Yên Các – Chim và hoa c̣n trong giấc mộng, lặng lẽ núi quê xưa - Thiết tha xin cám ơn các bạn nơi quê làng - Nhờ đem bài thơ mới của ta bày tỏ nỗi sầu.

 

CHÚ THÍCH:

 

-     矯矯 kiểu kiểu: mạnh mẽ, hùng dũng.

-     龍驤 long tương: con rồng ngẩng cao đầu.

-     vạn hộc: đơn vị hộc theo cách đo ngày xưa. Đây chỉ thuyền rất lớn.

-     cụ: hoảng hốt, sợ hăi.

-     phúc: đổ xuống, ch́m đắm, thất bại, trái lại, xét lại.

-     thế lệ: rơi lệ.

-     vận: dời đổi, chuyển đổi. Đây chỉ vận hội, thời cơ bị trắc trở, xa rời không nắm được.

-     há: biết sao bây giờ, há sao, có không. Dùng trong các câu hỏI ngược lại.

-     煙閣 Yên Các: tương tự như lầu Vân Đài của nhà Hán, Yên Các là nơi nhà Đường tôn vinh các công thần, danh tướng.

-     liêu: nhờ cậy; bả: mang, cầm nắm.

-     聊把 liêu bả: nhờ mang, cầm giúp.

-     tả: bày tỏ, kể ra, dốc bầu tâm sự.

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

 Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com