trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 

THỜI KỲ SAU KHI BỊ TÙ OAN
MUỐN LUI VỀ ẨN DẬT
(Khoảng 1429 - 1437)
Dương Anh Sơn

   


 

 

Bài 53 :

 

 

MẠN HỨNG (I)

 漫  興 ()

 

Thế lộ tha đà tuyết thượng điên,               世路蹉跎雪上

Nhất sinh lạc phách cánh kham liên.         一生落魄更堪

Nhi tôn chủng phúc lưu tâm địa,               兒孫種福留心地

Ngư điểu vong t́nh lạc tính thiên.               魚鳥忘情性天

Tảo tuyết chử trà hiên trúc hạ,                  雪煮茶竹下

Phần hương đối án ổ mai biên.               焚香

Cố sơn tạc dạ triều thanh mộng,              故山昨夜

Nguyệt măn B́nh Than tửu măn thuyền.    月滿滿

 

DỊCH THƠ:

 

Cảm hứng lan man (Bài 1)

 

Đường đời vấp ngă tuyết non,

Bơ vơ một kiếp măi c̣n đáng thương.

Giữ ḷng con cháu phúc ươm,

Tính trời chim cá vui thường t́nh quên.

Pha trà, quét tuyết dưới hiên,

Đốt hương trước án kề liền khóm mai.

Đêm qua, núi cũ mộng vầy,

B́nh Than rượu khẳm thuyền đầy ánh trăng.

 

 

DỊCH NGHĨA:

 

Vấp ngă trên đường đời như lội tuyết khi leo đỉnh núi - Một cuộc sống bơ vơ lạc lơng càng đáng thương – Cho con cháu ươm trồng cội phúc giữ ǵn nơi miền đất ḷng – Cá và chim quên hết t́nh cảm, vui với tính trời cho - Dọn quét tuyết rồi pha trà dưới hiên trúc - Đốt hương thơm trước khóm mai bên cạnh – Núi xưa như vấn vương quấn quít trong giấc mộng nhẹ nhàng đêm qua – B́nh Than trăng tỏa chiếu khắp nơi, thuyền cũng đầy rượu.

 

CHÚ THÍCH:

-          蹉跎 tha đà: lỡ thời, lần lữa, lầm lỡ, vấp ngă.

-          雪上tuyết thượng điên: tuyết trên vùng đỉnh núi (rất dày và khó đi).

-          落魄 lạc phách: bơ vơ lạc lỏng, long đong, không nhất định.

-          chủng: ươm trồng, giống, thóc.

-          ổ: dinh lũy pḥng giặc, khóm, cụm có tính chất tập trung. Ổ mai: khóm hoa mai.

-          mai biên: hoa mai bên cạnh, mai kề bên.

-          故山 cố sơn: núi xưa, quê xưa, quê nhà…

-          B́nh Than: tên một băi sông ở miền bắc nơi vua quan, các bô lăo nhà Trần họp bàn cách đối phó quân Mông Cổ (B́nh Than: có nghĩa là băi sông bằng phẳng) (Xem thêm chú thích bài 80).

 


 

 

Bài 54 :

 

MẠN HỨNG (II)

漫  興 (二)

 

Cửu vạn đoàn phong kư tích tằng                九萬摶風記昔曾

Đương niên thác tỉ bắc minh bằng.             當比北溟

Hư danh tự thán thành cơ đẩu,                   虛名自成萁

Hậu học thùy tương tác chuẩn thằng.          後學誰將準繩

Nhất phiến đan tâm chân hống hỏa,            一片丹心真汞火

Thập niên thanh chức ngọc hồ băng.          十年清

Ưu du thả phục ngôn dư hảo,                     優遊

Phủ ngưỡng tùy nhân tạ bất năng.              俯仰不能

 

DỊCH THƠ:

 

Cảm hứng lan man (bài 2)

 

Xưa từng nương gió chín tầng,

Bấy giờ biển bắc chim bằng sánh ngang.

Danh suông “cơ”, “đẩu” nên than,

Ai về sau học đem làm mẫu khuôn?!

Lửa chân luyện mảnh ḷng son,

Mười năm bầu ngọc sạch trong chức làm.

Huống chi lại nói thích nhàn,

Theo người luồn cuối chẳng màng tài đâu?!

 

DỊCH NGHĨA:

 

Nhớ xưa trước, từng nương theo gió lên chín vạn dặm trời cao - Bấy giờ so sánh ḿnh như con chim bằng biển bắc - Tự than rằng cái danh suông cũng như sao “cơ” sao “đẩu” (không dùng được việc ǵ - Những kẻ học sau này ai sẽ lấy ḿnh làm mẫu khuôn?! - Một tấm ḷng son được tôi luyện thực sự trong ḷ luyện thuốc - Mười năm chức việc (được giao làm) rất trong sạch như băng trong bầu ngọc - Lại nói rằng ta chuộng việc rong chơi nhàn nhă – C̣n theo luồn cúi người th́ xin chẳng màng đến.

 

CHÚ THÍCH:

 

-     cửu vạn: chín vạn dặm.

-     摶風 đoàn phong: nương theo gió. Có lẽ đây chỉ giai đọan Nguyễn Trăi pḥ Lê Lợi chống quân xâm lược nhà Minh.

-     cơ đẩu: Kinh Thi có câu  惟南方有萁不可以播楊,惟北有不可以挹酒漿 Duy nam hữu cơ, bất khả dĩ bá dương; duy bắc hữu đẩu, bất khả dĩ ấp tửu tương (phương nam có sao Cơ (cái xia) không thể dung sàng sẩy được, Phương bắc có sao Đẩu (cái đấu) không thể múc rượu được). Chỉ việc “hữu danh, vô thực”, không dùng làm được việc ǵ.

-     準繩 chuẩn thằng: mẫu mực, mực thước.

-     真汞火 chân hống hỏa: (hống: thủy ngân) được tôi luyện thật sự trong ḷ lửa.

-     thanh chức ngọc hồ băng: một chức việc đảm nhận trong sạch như bầu ngọc chứa băng thanh khiết.

-     優遊 ưu du: nhàn nhă, rong chơi.

-     thả phục: huống chi, lại nữa.

-     俯仰 phủ ngưỡng: cúi đầu, ngẩng mặt.

-     tạ: chẳng màng đến, từ tạ, từ chối, tàn tạ…

 

 

 

 

 

Bài 55 :

 

MẠN HỨNG (III)

漫  興 (三)

 

 

Ô thố thông thông văn bất lưu,                烏兔匆匆挽不留

Hồi đầu vạn sự tổng nghi hưu.                  回頭萬宜休

Không hoa ảo nhăn miên tiêu lộc,             空花幻眼眠蕉鹿

Tục cảnh kinh tâm suyễn nguyệt ngưu.      俗境心喘月牛

Ải cốc, thê thân kham độ lăo,                     矮屋身堪度老

Thương sinh tại niệm độc tiên ưu.            生在念

Bành thương Tang, Cốc đô hưu luận,       彭都休

Cổ văng, kim lai lạc nhất khâu.                  古往今貉一邱

 

DỊCH THƠ:

 

Cảm hứng lan man (Bài 3)

 

Ngày qua, đêm lại chẳng dừng,

Quay đầu mọi việc rốt cùng nên thôi

Mắt hoa bụi chuối lộc vùi,

Sợ thay! Trâu thở cảnh đời trăng lên.

Già rồi ngơi nghỉ nhà hèn,

Vẫn luôn lo trước dân đen riêng ḷng.

Bàn chi thọ, yểu Cốc, Tang,

Xưa đi, nay đến g̣ hang cáo nằm!

 

DỊCH NGHĨA:

 

Ngày (ô) và đêm (thố) qua đi vội vàng không kéo giữ lại được – Quay đầu lại muôn việc hết thảy nên dừng lại thôi - Mắt mờ nh́n giả tưởng là thực mơ màng chuyện lấy lá chuối che giấu hươu - Ḷng e sợ cảnh đời phàm tục như con trâu ph́ pḥ thở ánh trăng - Nhà nhỏ của kẻ nghèo hèn là nơi thân có thể ngơi nghỉ qua tuổi già – Khi nghĩ đến dân đen, trong ḷng riêng ḿnh lo trước - Sống lâu (như Bành Tổ) hay chết yểu, (sống như) Tang hay Cốc, hết thảy dừng lại việc bàn bạc - Xưa đi nay đến đều như con chồn cùng ở một g̣ đất.

 

CHÚ THÍCH:

 

-     ô: quạ, cũng chỉ vầng ô tức mặt trời; thố: con thỏ, chỉ mặt trăng nơi có chị hằng và ngọc thố (thỏ ngọc) theo chuyện cổ tích. Ô thố: chỉ ngày và đêm.

-     匆匆 thông thông: vội vàng, nhanh nhẹn, chóng vánh.

-     挽不留 văn bất lưu: không kéo giữ lại được.

-     tổng: thu lại, rốt cùng.

-     nghi: thích nghi, đáng nên, nên.

-     幻眼 ảo nhăn: mắt nh́n mờ mờ, ảo ảo, nh́n cái không có thật, cái giả tưởng là thật.

-     眠蕉鹿 miên tiêu lộc: con hươu ngủ vùi bụi chuối. Ư lấy từ “Liệt Tử truyện” kể chuyện người kiếm củi họ Trịnh đánh chết được một con hươu liền lấy cành cây che để trong bụi chuối. Sau không nhớ chỗ giấu hươu bèn cho là nằm mơ thấy bắt được hươu.

-     俗境 tục cảnh: cảnh theo thói tục trong cơi đời, cảnh đời.

-     喘月牛 suyễn nguyệt ngưu: khi trăng lên, trâu thở ph́ pḥ lầm mặt trời mọc, chỉ sự lầm lẫn trong đời.

-     矮屋 ải ốc: nhà cửa kẻ thấp hèn, nhà nhỏ nhoi, chỉ sự khiêm tốn.

-     thương sinh: dân đen.

-     Bành: chỉ Bành Tổ; tương truyền sống lâu 700 tuổi.

-     thương: chết lúc trẻ (yểu).

-     bành thương: chỉ sự sống thọ hay chết sớm.

-     Tang, Cốc: hai nhân vật trong sách Trang Tử, Tang chăm chỉ đèn sách c̣n Cốc lại cứ đánh bài ham chơi, cuối cùng dê do họ chăn bị mất. Tô Đông Pha khi bàn câu chuyện này có nói: Tang, Cốc tuy khác nhau (về cách sống) nhưng rốt cùng đều mất (Tang, Cốc tùy thù, cánh lưỡng vong).

-     lạc: chỉ loài cáo.

-     貉一邱 lạc nhất khâu: con chồn cùng một g̣ đất, nghĩa là giống nhau cả khi chết đi.

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

 Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com