trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 

THỜI KỲ RA GIÚP LÊ LỢI
B̀NH ĐịNH GIẶC MINH
THÀNH CÔNG VÀ LÀM QUAN
(Khoảng 1418 - 1429)
Dương Anh Sơn

   


 

Bài 45 :

 

CHÂU CÔNG PHỤ THÀNH VƯƠNG ĐỒ
 

周 公 成 王

 

Ư thân phụ chính, tưởng Châu Công,          親輔政想周公

Xử biến thùy tương Y Doăn đồng.           處變誰將伊尹同

Ngọc kỷ di ngôn thường tại niệm,             玉言常在念

Kim đằng cố sự cảm ngôn công.             金滕故事敢言功

An nguy tự nhiệm pḥ vương thất,            安危自任扶王室

Tả hữu vô phi bảo thánh cung.                  左右非保

Tử Mạnh khởi năng chiêm phưởng phất,  子孟能瞻彷彿

Ủng Chiêu cận khả ấp dư phong.              可把餘風

 

DỊCH THƠ:

 

Tranh vẽ Châu Công pḥ Thành Vương

 

Pḥ chính tốt, nhớ Châu công,

Xử như Y Doăn ai cùng sánh đây?

Lời bên ghế ngọc dạ này,

Dây vàng việc cũ công bày dám xưng!

An nguy gánh vác pḥ vương,

Giúp vua trái phải vẫn thường lo toan

Dám đâu Tử Mạnh sánh ngang,

Pḥ Chiêu cũng chỉ cuối làn gió thôi!

 

DỊCH NGHĨA:

 

Người đảm đương công việc tốt đẹp khi pḥ tá, giúp đỡ vua phải nhớ đến Châu Công - Ứng biến trong công việc ai là người sánh cùng Y Doăn? - Lời để lại nơi ghế ngọc thường nghĩ đến – Dây vàng (buộc tráp ghi công), chuyện xưa cũ dám đâu để xưng công trạng – Bên phải, bên trái không phía nào là không giữ cho vua sáng suốt - Tử Mạnh dám đâu có thể sánh ngang được nào! – Giúp Chiêu đế cũng chỉ là ở cuối làn gió thôi!

 

CHÚ THÍCH:

 

-     周公 Châu Công: tức Châu Đán, con Văn Vương, em của Vơ Vương nhà Châu (Chu) làm phụ chính cho cháu là Thành Vương; khi c̣n nhỏ, giúp dẹp loạn Quản Thúc (em ruột Châu Công) được tiếng trung với vua. Khi Vơ Vương ốm, ông làm sớ cầu xin tổ tiên chết thay giao quan sứ bỏ vào hộp lấy dây vàng (kim đằng) buộc lại. Khi bị Quản Thúc gièm pha, ông phải lánh sang Đông Đô. Sau Thành Vương mở hộp kim đằng thấy rơ con người ông cho rước về.

-     ư: tốt đẹp, đẹp đẽ.

-     thân: tự ḿnh đảm đương công việc.

-     phụ chính: giúp đỡ, pḥ tá vua trong việc triều chính.

-     伊尹 Y Doăn: hiền sĩ đời Thương cày ruộng ở chân núi. Sau được vua Thang mời ba lần mới ra làm tướng đánh vua Kiệt hoang dâm bạo ngược. Khi vua Thang chết cháu Thái Giáp nối ngôi vô đạo đày ông đi đất Đồng ba năm, rồi hối hận đón về kinh.

-     ngọc kỷ: ghế vua ngồi.

-     敢言功 cảm ngôn công: đâu dám nói là công lao.

-     câu 6: trái, phải (mọi bề, mọi việc) gánh vác không kể đến điều ǵ (bảo ).

-     子孟 Tử Mạnh: tức Hoắc Quang đại tướng quân nhà Hán theo di chiếu Hán Vũ Đế pḥ Chiêu Đế (ủng: pḥ tá, giúp). Ông trải qua ba đời vua: Vũ Đế, Chiêu Đế, Tuyên Đế. Về sau đồ đảng của ông lộng hành, ông bị Tuyên Đế bắt tội tru di tam tộc nhưng công nghiệp vẫn được ghi ở Kỳ Lân Các.

-     khởi: dám tâu, há nào, có không…

-     chiêm: ngẩng trông, ngóng xem.

-     彿 phưởng phất: gần giống, ngang ngang.

-     ấp: kéo lui xuống, ném đá.

-     餘風 dư phong: làn gió thừa, cuối gió.

 

 

 

 

Bài 46 :

 

THỨ VẬN TRẦN THƯỢNG THƯ ĐỀ

NGUYỄN BỐ CHÁNH THẢO ĐƯỜNG
 

韻陳書題院布政草堂

 

 

Nhất tâm báo quốc thượng hoàn hoàn,     一心報國尚桓桓

Tiểu cấu măo đ́nh thả tự khoan.               茆亭且自

Vi tỉnh thối quy hoa ảnh chuyển,                  薇省退花影

Kim môn mộng giác lậu thanh tàn.                  門夢覺聲殘

Cầm thư nhă thú chân kham thượng          琴雅趣真堪尚

Tung cúc hoan minh diệc vị hàn                  松菊盟亦未寒

Hậu lạc tưởng tri chung hữu ư,                   後想知有意

Hảo tương sự nghiệp bách niên khan.          百年看

 

DỊCH THƠ:

 

Họa vần thơ Trần Thượng Thư đề vịnh

thảo đường Nguyễn Bố Chánh

 

Quyết đền ơn nước nung ḷng,

Tự làm mái cỏ thong dong dựng nhà.

Lui Vi Tỉnh, chuyển bóng hoa,

Kim môn tỉnh mộng tiếng đưa lậu tàn.

Chuộng thay, thú nhă sách đàn,

Hẹn vui tùng cúc c̣n hăng nguội nào!

Nghĩ cùng là ư “vui sau”,

Trăm năm sự nghiệp xem màu tốt tươi!

 

DỊCH NGHĨA:

 

Một ḷng báo đền ơn nước vẫn nung nấu mạnh mẽ - Làm mái nhà tranh nhỏ để tự khuây khỏa, thong dong – Khi ở chỗ Vi Tỉnh lui về, bóng hoa đă thay đổi - Chốn Kim Môn tỉnh giấc mộng, tiếng lậu (đo thời gian) đă tàn - Thật đáng chuộng cho cái thú đọc sách, chơi đàn tao nhă - Việc hẹn ḥ vui với tùng cúc vẫn chưa nguôi tàn – “Vui sau”, tưởng phải biết rốt cùng đó là việc có suy nghĩ – Nh́n sự nghiệp trăm năm theo bên sẽ thấy tốt đẹp.

 

CHÚ THÍCH:

-     thứ vận: họa lại, tiếp vần thơ một bài khác.

-     桓桓 hoàn hoàn: dáng mạnh mẽ, quyết tâm.

-     tiểu cấu: xây dựng,làm nhà nhỏ hoặc góc mái nhà.

-     măo: rau thuần, cỏ tranh .

-     khoan: thong thả, khoan thai, rộng răi.

-     薇省 Vi Tỉnh: hay c̣n gọi là Vi Sảnh hoặc Trung Thư Tỉnh, hoặc Tử Vi Tỉnh (v́ trồng nhiều hoa Tử Vi (đời Đường)). Đây là nơi làm việc, soạn thảo, lưu trữ các công việc triều chính.

-     花影hoa ảnh chuyển: bóng mặt trời chiếu trên các bóng hoa chỉ sự thay đổi thời gian lúc ngày tàn.

-     Kim Môn: Đời Hán, cửa cung Vị Ương có con ngựa vàng đặt trước cung điện nên gọi là Kim Mă Môn. Gọi tắt là Kim Môn, nơi các quan đại thần chầu vua.

-     lậu: đồng hồ ngày xưa dùng nước hoặc cát để tính.

-     minh: hẹn ước, thề bồi.

-     未寒 vị hàn: chưa nguội lạnh.

-           hậu lạc: do chữ “tiên ưu hậu lạc” (lo trước, vui sau).

-     hảo tương sự nghiệp: sự nghiệp theo lên được tốt đẹp. (tương: đi bên cạnh, đi lên).

 


 

 

Bài 47 :

 

THU DẠ DỮ HOÀNG GIANG

NGUYỄN NHƯỢC THỦY ĐỒNG PHÚ

 

秋夜與黃江院若水同

 

 

Hồng diệp đôi đ́nh trúc ủng môn,              紅葉堆庭竹擁門

Măn giai minh nguyệt quá hoàng hôn.        滿階明月過黃

Cửu tiêu thanh lộ tam canh thấp,                九霄清露三更

Tứ bích hàn tương triệt dạ huyên.               四壁寒螿徹夜喧

Thiên lại ngữ thu kinh thảo mộc,                  天籟語草木

Ngọc Thằng đê Hán chuyển càn khôn.       漢轉乾坤

Cao trai độc tọa hồn vô mị,                         高齋獨渾無

Hảo bả tân thi hướng chí luân (luận)             好把新向志

 

DỊCH THƠ:

 

Đêm thu cùng Hoàng Giang Nguyễn Nhược Thủy làm thơ

 

Lá hồng cổng trúc đầy sân,

Khắp thềm đêm đến tỏa vầng trăng lơi.

Canh ba, sương đẫm bầu trời,

Suốt đêm bốn vách ve khơi lạnh bày.

Trời thu sáo động cỏ cây,

Sao Thằng xuống Hán chuyển xoay đất trời.

Pḥng cao không ngủ riêng ngồi,

Cầm bài thơ mới, chí người bàn xong.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Lá hồng chồng chất trong sân, khóm trúc che cổng - Khắp thềm trăng sáng tỏa lúc hoàng hôn đă qua – Chín tầng trời đẫm ướt hạt móc trong trẻo vào lúc canh ba - Bốn vách lạnh, tiếng ve sầu râm ran suốt đêm - Tiếng sáo trời báo tin mùa thu đến làm kinh sợ cỏ cây – Sao Thằng chuyển xuống sao Hán làm thay đổi đất trời – Nơi căn pḥng cao, ngồi một ḿnh không ngủ được - Cầm bài thơ mới làm xong, bàn về chí hướng ḿnh.

 

CHÚ THÍCH:

 

-     phú: làm thơ, nạp thuế, một thể thơ cổ, ban lệnh…

-     đôi: đống đất, chồng chất thành đống.

-     ủng: đông đảo, nhiều, che đậy, bảo vệ.

-     過黃quá hoàng hôn: vào đêm, đêm đến.

-     九霄 cửu tiêu: bầu trời, chín tầng trời.

-     三更 tam canh: canh ba lúc giữa khuya về sáng.

-     thấp: ẩm ướt, ướt đẫm.

-     hàn tương: có sách viết “hàn cung” () chỉ con dế mùa lạnh. Hàn tương là loại ve sầu kêu vào mùa lạnh như khi vào thu hay sang đông (xem T.Đ.Thiều Chửu).

-     triệt dạ: suốt đêm.

-     thiên lại: sáo, trúc từ trên trời vọng xuống (lại: sáo làm bằng trúc).

-     ngữ thu: chỉ dấu hiệu mùa thu đến (tiếng thu, lời thu)

-     Ngọc Thằng: Cḥm sao cạnh sao Bắc Đẩu.

-     Hán: chỉ dăy sao Vân Hán hoặc giải Ngân Hà.

-     cao trai: pḥng dành cho kẻ thích yên tĩnh, ẩn dật.

-     渾無hồn vô mị: chẳng ngủ được.

-     hảo: tốt, làm xong việc ǵ.

-     bả: cầm lấy.

-     chí luận: bàn về chí hướng.

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

 Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com