trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 

THỜI KỲ RA GIÚP LÊ LỢI
B̀NH ĐịNH GIẶC MINH
THÀNH CÔNG VÀ LÀM QUAN
(Khoảng 1418 - 1429)
Dương Anh Sơn

   


 

Bài 39 :

 

ĐỀ HÀ HIỆU ÚY BẠCH VÂN TƯ THÂN

何 校 尉白

 

Đ́nh vi nhất biệt tuế hoa thâm,              庭圍花深

Ái mộ nhân giai cộng thử tâm.             慕人皆共此心

Khách lư khan vân t́nh dị thiết,              情易切

Công dư phi quyển ư nan câm.           披卷意

Gia sơn thục bất hoài tang tử,              家山孰不桑梓

Trung hiếu hà tằng hữu cổ kim,            忠孝何曾有古今

Tŕ thử tặng quân hoàn tự cảm,             持此自感

Thi thành ngă diệc lệ triêm khâm.          成我亦沾襟

 

DỊCH THƠ:

 

Đề (tranh) “Hà hiệu úy ngắm mây trắng

nghĩ về cha mẹ”

 

Xa nhà, tuổi đă thêm nhiều,

Mẹ cha, ai cũng ḷng yêu mến này.

Dạt dào đất khách ngắm mây,

Khó khăn ư nghĩ sách bày việc xong.

Mẹ cha, ai chẳng nhớ mong,

Xưa nay từng có hiếu trung khác nào?!

Tặng anh cầm lấy nao nao,

Thơ xong, tôi cũng lệ trào đẫm khăn.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Từ khi rời ṿng sân (nơi cha mẹ ở) tuổi đă thêm nhiều đốm hoa – Ḷng ai cũng đều yêu mến cha mẹ - Ở nơi đất khách ngắm mây t́nh cảm dạt dào tha thiết – Khi xong việc công, mở sách ra ư t́nh khó ngăn nổi – Núi non quê nhà ai mà chẳng có ḷng nhớ thương cha mẹ - Trung hiếu nào có khác từ xưa đến nay - Cầm lấy (bài thơ) tặng anh mà ḷng cứ nao nao xúc cảm – Bài thơ làm xong, nước mắt ta cũng đẫm ướt khăn.

 

CHÚ THÍCH:

 

-          bạch vân tư thân: Địch Nhân Kiệt đời Đường đi đánh trận xa thấy mây trắng nhớ đến cha mẹ đang ở quê nhà.

-          庭圍 đ́nh vi: trong ṿng sân, chỉ nơi cha mẹ ở.

-          花深 tuế hoa thâm: tuổi, thêm nhiều đốm hoa, tóc càng thêm bạc, tuổi già thêm.

-          ái mộ: yêu và mến phục.

-          giai: đều, cùng.

-          khách lư: nơi đất khách, đi xa ở quê người.

-          情易切 t́nh dị thiết: dễ nẩy sinh t́nh cảm dạt đào, thiết tha (thiết: cắt, mài, gọt).

-          công dư: sau khi xong việc công.

-          披卷 phi quyển: mở sách ra, bày sách ra.

-          ư nan câm: khó ngăn được những ư nghĩa (đang đến).

-          家山 gia sơn: núi ở nơi quê nhà. Chỉ quê nhà thân thuộc nơi có cha mẹ sinh sống.

-          thục: ai? sao?, suy xét kỹ, thức ăn nấu chín.

-          tang tử: cây dâu, cây thị. Lấy ư trong Kinh Thi: “Duy tang dữ tử tất cung kính chỉ” (梓必恭敬) nghĩ đến cây dâu, cây thị sẽ phải cung kính v́ do cha mẹ trồng nên. Đấy chỉ cha mẹ, hai thân nơi quê nhà.

-          自感 tự cảm: t́nh cảm tự nhiên xúc động, nao ḷng.

-          沾襟 lệ triêm khâm: chiếc khăn đẫm ướt lệ.

 

 



 

Bài 40 :

 

ĐỀ BÁ NHA CỔ CẦM ĐỒ

佰 牙 鼓琴

 

Chung Kỳ bất tác chủ kim nan,                 期不作

Độc băo dao cầm đối nguyệt đàn.          

Tĩnh dạ bích tiêu lương tự thủy,                 夜碧霄似水

Nhất thanh hạc lệ cửu cao hàn                 聲鶴淚九皋寒

 

(全唐唐僧安能得﹐鏄子期  
Toàn Đường Thi Tập, Đường tăng thi An năng đắc hoàng kim, chú tác Chung Tử Kỳ
)

 

DỊCH THƠ:

 

Đề tranh Bá Nha gảy đàn

 

Chung Kỳ khó đúc bằng vàng,

Một ḿnh ôm gảy cung đàn dưới trăng.

Đêm yên, nước biếc, trời trong,

Hạc kêu một tiếng, lạnh tăm chín đầm.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Khó đúc bằng vàng con người Chung Kỳ - Một ḿnh ôm chiếc đàn ngọc gảy đàn dưới vầng trăng - Đêm yên tĩnh, bầu trời màu biếc, trong mát như nước - Một tiếng kêu của chim hạc vang chín đầm nước lạnh tăm.

 

CHÚ THÍCH:

 

* Trong Toàn Đường thi tập, thơ Đường tăng: làm sao có được vàng, đúc tượng Chung Tử Kỳ.

-鼓琴 cổ cầm: đánh đàn, gảy đàn.

- dao cầm: cây đàn gấm được làm chạm trổ ngọc, nghĩa là đàn rất quư.

- tiêu: khoảng không, bầu trời, khí trời.

- lương: trong mát, lạnh, mỏng manh.

- tự: giống như

- 九皋 cửu cao: chín đầm nước. Kinh Thi có câu: “Hạc minh vu cửu cao, thanh văn vu thiên” 鶴鳴于九皋聲聞于天: chim hạc kêu ở chỗ có chín đầm nước vang thấu trời.

*佰牙 Bá Nha: Thời Chiến quốc làm quan chức Thượng đại phu có tài về âm nhạc, kết bạn tri âm với một ẩn sĩ làm nghề đốn củi là Chung Tử Kỳ ở bến Hàm Dương, v́ Tử Kỳ hiểu thấu ư t́nh của Bá Nha qua tiếng đàn. Về sau, Bá Nha kiếm Tử Kỳ th́ bạn tri âm đă mất, ông đập đàn và không chơi nữa v́ cho rằng không c̣n ai là người “tri âm, tri kỷ”.

 

 



 

Bài 41 :

 

THU DẠ KHÁCH CẢM (I)

秋 夜 客感 (一)

 

Lữ xá tiêu tiêu tịch tác môn,                  蕭蕭席作

Vi ngâm tụ thủ quá hoàng hôn.              微吟袖手過黃

Thu phong lạc diệp ky t́nh tứ,                葉羈情思

Dạ vũ thanh đăng khách mộng hồn.  夜雨青

Loạn hậu phùng nhân phi túc tích,           逢人非夙昔

Sầu trung tống mục ngụ càn khôn.          愁中送目寓乾坤

Đáo đầu vạn sự giai hư huyễn,             頭萬事皆

Hưu luận Phàm vong dữ Sở tồn.           凡亡楚存

 

DỊCH THƠ:

 

Cảm xúc đêm thu nơi đất khách (Bài 1)

 

Chiếu làm cửa quán gió lay,

Ủ tay vào áo, cuối ngày khẽ ngâm.

Gió thu lá rụng t́nh dâng,

Đèn xanh, khách thả mộng hồn đêm mưa.

Loạn xong, chẳng gặp người xưa,

Nỗi sầu mắt gửi tiễn đưa đất trời.

Cuối cùng muôn việc giả thôi!

Sở c̣n, Phàm mất dừng rồi bàn chi!

 

DỊCH NGHĨA:

 

Quán trọ có chiếu (che) làm cửa, gió thổi vi vu – Vào lúc hoàng hôn, ủ tay vào áo ngâm thơ khe khẽ - Gió mùa thu lá thu rụng rơi gợi nên những t́nh cảm và những suy nghĩ – Đêm mưa, ngọn đèn lửa xanh khiến khách trọ thả hồn vào giấc mộng – Sau thời loạn, không gặp người quen xưa cũ - Nỗi sầu buồn (nhờ) mắt gửi ở tạm đất trời - Cuối cùng, muôn việc đều là giả tạm - Đừng bàn chuyện Sở c̣n, Phàm mất nữa.

 

CHÚ THÍCH:

 

-     蕭蕭 tiêu tiêu: tiếng ngựa hí, tiếng gió thổi vi vu. (tiêu điều: buồn bă, thê lương).

-     席作tịch tác môn: chiếc chiếu ngồi lấy làm màn che cửa.

-     微吟 vi ngâm: ngâm thơ khe khẽ.

-     袖手 tụ thủ: tay ở trong ống, tay áo (ủ tay).

-     情思 ky t́nh tứ: buôc ràng với những t́nh cảm phát sinh.

-     thanh đăng: đèn xanh dùng để đọc sách (theo Đào Duy Anh).

-     非夙昔 phi túc tích: không có người quen xưa cũ.

-     凡, 楚Phàm, Sở: Sách Trang Tử bàn về c̣n, mất đă viết rằng: nước Phàm không v́ nhỏ mà có thể mất và Sở không phải v́ lớn mà c̣n (Sở, Phàm hai nước thời Xuân Thu).

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

 Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com