trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 

THỜI KỲ LƯU LẠC
KHI GIẶC MINH XÂM LƯỢC
(Khoảng 1407 - 1417)
Dương Anh Sơn

   

 

Bài 1 :

 

LOẠN HẬU ĐÁO CÔN SƠN CẢM TÁC

亂後山感作

 

山在支碑社。元旦退休處。山有凊虛下有透玉陳法螺庵居。玄光亦卓錫于此。

(Sơn tại Chí Hăn xă, Trần Nguyên Đán thoái hưu xứ, sơn hữu Thanh Hư động, hạ hữu Thấu Ngọc kiều. Trần Pháp Loa am cư. Huyền Quang. Huyền Quang diệc trác tích vu thử) *

Nhất biệt gia sơn kháp thập niên,           家山恰十年

Quy lai tùng cúc bán tiêu nhiên.               歸來菊半

Lâm tuyền hữu ước na kham phụ,          林泉有那堪

Trần thổ đê đầu chỉ tự liên.                     塵土低

Hương lư tài qua như mộng đáo,           纜過

Can qua vị tức hạnh thân tuyền.             干戈未息幸身全

Hà thời kết ốc vân phong hạ,                 時結峰下

Cấp giản phanh trà, chẩm thạch miên    烹茶枕石眠

 

DỊCH THƠ :

 

Sau loạn, cảm tác khi đến Côn Sơn

 

Mười năm rời chốn núi quê,

Về đây tùng, cúc nửa bề tan hoang.

Thôi đành lỗi hẹn suối ngàn,

Cúi đầu bụi, đất: miên man dạt dào.

Qua làng cứ ngỡ chiêm bao,

Lửa binh chưa dứt may sao thân c̣n!

Bao giờ nhà dựng dưới non,

Nước khe, trà hăm gối nồng đá mây?!

 

DỊCH NGHĨA:

 

Một lần rời chốn núi quê nhà vừa đúng mười năm - Về đây, nửa phần cúc và tùng đă tan hoang - Suối rừng đă ước hẹn thôi đành phụ bạc – Cúi đầu xuống đất bụi mà thương cảm cho ḿnh – Xóm làng đi qua cứ ngỡ như đến với giấc mộng – Đao binh loạn lạc chưa hết, may mắn sao thân vẫn c̣n – Bao giờ mới có thể làm được căn nhà dưới chân núi mây này? Và (bao giờ) mới lấy nước khe suối để pha trà rồi gối trên đá để ngủ?

 

CHÚ THÍCH:

 

* Núi ở Chí Hăn, nơi Trần Nguyên Đán ở khi lui về. Núi có động Thanh Hư. Phía dưới có cầu Thấu Ngọc. Pháp Loa đời Trần dựng am đây. Huyền Quang cũng từng đến.

 -   恰: kháp: vừa vặn, vừa đúng, vừa khớp.

-     然:  tiêu nhiên: tan nát, hư hao.

-     : hữu ước: đă có hẹn ḥ.

-     tự liên: thương ḿnh xót xa, dạt dào.

-     cấp giản: múc lấy nước khe suối .

-     石眠:  thạch miên: giấc ngủ gối trên đá.


  

Bài 2:

 

QUY CÔN SƠN CHÂU TRUNG TÁC

歸 崑 山 舟 中 作

 

Thập niên phiêu chuyển thán bồng b́nh,   十年飄轉嘆蓬萍

Qui tứ dao dao nhật tự tinh         搖搖日似旌

Kỷ thác mộng hồn tầm cố lư,             故里

Không tương huyết lệ tẩy tiên huỳnh.        洗先

Binh dư cân phủ ta nan cấm,            斤斧嗟

Khách lư giang sơn chỉ thử t́nh.        江山此情

Uất uất thốn hoài vô nại xứ              灪灪懷無

Thuyền song thôi chẩm đáo thiên minh     船窗推枕到天明

 

DỊCH THƠ:

 
Cảm tác trên thuyền về Côn Sơn

 

Bềnh bồng trôi giạt mười năm,

Chuyện về ḷng cứ, đăm đăm mỗi ngày.

Quê xưa, gửi mộng t́m đây,

Rửa suông lệ máu đèn này cha ông.

Khó ngăn ŕu búa, loạn xong,

Nước non: đất khách chỉ c̣n t́nh thôi!

Tấc ḷng buồn nhớ không nguôi,

Cửa thuyền gối đẩy đến trời sáng lên.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Mười năm trôi giạt như cỏ bồng, như cánh bèo - Hằng ngày chuyện quay về quê cứ nôn nao lo nghĩ hoài - Biết bao lần t́m về làng xưa trong hồn mộng – Đèn soi của cha ông chỉ có thể rửa sạch suông bằng lệ máu – Sau khi loạn dứt, làm sao ngăn cấm chuyện búa ŕu - Ở nơi đất khách chỉ c̣n t́nh yêu non nước này - Tấc ḷng buồn bực không chốn nào chịu được - Gối nằm bên song cửa thuyền cho đến khi trời sáng.

 

CHÚ THÍCH:

 

-     飄轉 phiêu chuyển: thay đổi như gió thổi nhiều nơi.

-     蓬萍 bồng b́nh: cỏ bồng và bèo nổi.

-     qui tứ: ḷng lo nghĩ việc quay về nhà.

-     搖搖 dao dao: nôn nao, tinh thần không tự chủ.

-     似旌 tự tinh: như cờ bay. Chỉ sự không yên ổn .

-     kư thác mộng hồn: bao lần gởi hồn trong giấc mộng.

-     không tương huyết lệ: đem xương máu và quốc mă.

-     tiên huỳnh: ánh đèn soi sáng của tiên tổ, cha ông.

-     binh dư: sau cơn binh loạn.

-     斤斧 cân ph&ủ: búa ŕu. Chỉ việc những t́ hiềm, thù oán v.v… trở thành mối de dọa, áp lực lên các hoàn cảnh con người.

-     灪灪 uất uất: buồn bực, lo lắng.

-     thốn hoài: tấc ḷng mong nhớ.

-     vô nại xứ: không biết làm sao đây, không chịu được, không dứt được.

-     推枕 thôi chẩm: đẩy gối, trằn trọc không ngủ được.

* Bản của Dương Bá Cung (S.Đ.D tr.77) câu 4 dùng chữ “tiên huỳnh” hợp lư hơn bản do Đào Duy Anh hiệu đính dùng chữ “tiên doanh “ có nghĩa là mồ mả cha ông tổ tiên v́ chữ “doanh” không hiệp vần lắm với các câu khác (S.Đ.D, tr 251).

 

   

Bài 3 :

 

 

THÍNH VŨ

 

Tịch mịch u trai lư,                               寂寞幽

Chung tiêu thính vũ thanh.       終

Tiêu tao kinh khách chẩm,                  蕭騷驚客枕

Điểm trích sổ tàn canh.                        數殘

Cách trúc xao song mật,                     隔竹敲窗密

Ḥa chung nhập mộng thanh.                

Ngâm dư hồn bất mị,                          餘渾不寐

Đoạn tục đáo thiên minh.                     斷續到天明

 

DỊCH THƠ:

 

Nghe mưa

 

Trong pḥng mờ tối vắng sao,

Nghe mưa tí tách ŕ rào thâu đêm.

Năo nề khách sợ gối thêm,

Canh tàn đếm lượt theo liền giọt rơi.

Trúc khua song kín xa xôi,

Ḥa vào giấc mộng trong vời tiếng chuông.

Ngâm xong chẳng được giấc nồng,

Dứt rồi nối đến rạng đông tờ mờ!

 

DỊCH NGHĨA:

 

Trong pḥng mờ tối và vắng lặng - Suốt đêm chỉ nghe tiếng mưa – Khách sợ gối nằm buồn năo nề - Đếm giọt mưa rơi mấy lần hết canh - Cửa sổ đóng kín khua bởi tiếng trúc xa xôi - Tiếng chuông ḥa vào giấc mộng trong trẻo nhẹ nhàng – Ngâm thơ xong vẫn không ngủ được - Trằn trọc cho đến khi trời sáng.

 

CHÚ THÍCH:

 

-          chung tiêu: suốt đêm.

-          蕭騷 tiêu tao: buồn bă, hắt hiu, năo nề.

-          điểm trích: giọt rơi từng giọt.

-          sổ: đếm, tính lượt.

-          cách: xa xôi, ngăn cách.

-          mật: kề liền, kín đáo, bí mật, rậm rạp.

-          mộng thanh: giấc mộng trong trẻo, nhẹ nhàng.

-          天明 thiên minh: trời sáng lúc rạng đông.

 


 

Dương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

 Trung học Ninh Ḥa
 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com