trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |          www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

  

 

Thơ LƯ BẠCH

DƯƠNG ANH SƠN

 

 

 

 

 BÀI 92

 

 古風 其十三

CỔ PHONG KỲ THẬP TAM

 

 1   君平既棄世 , Quân b́nh kí khí thế,

 世亦棄君平。 Thế diệc khí quân b́nh .

 觀變窮太易 , Quan biến cùng thái dịch,

 4   探元化群生。 Tham nguyên hóa quần sinh .

 寂寞綴道論 , Tịch mịch chuế đạo luận ,

 空帘閉幽情。 Không liêm bế u t́nh .

 騶虞不虛來 , Sô ngu bất hư lai ,

 8   鸑鷟有時鳴。 Nhạc trạc hữu th́ minh. 

 安知天漢上 , An tri thiên Hán Thượng ,

 白日懸高名。 Bạch nhật huyền cao danh .

 海客去已久 , Hải khách khứ dĩ cửu, 

 12   誰人測沈冥。 Thùy nhân trắc trầm minh.

 

李白 

Lư Bạch

 

 

 

 Dịch nghĩa

 

 

 Cổ phong bài thứ mười ba.

 

 Vị vua thời thái b́nh đă bỏ cuộc đời . Cuộc đời rốt cuộc đă bỏ vị vua thời thái b́nh yên ổn ! Hăy ngẫm nghĩ xem sự đổi dời ,tận cùng là do sự biến dịch lớn lao (của trời đất) .Vậy nên t́m kiếm những nền tảng căn bản để giáo hóa ,cải biến loài người.(C.1-4).

 Lặng lẽ khâu nối với nhau những sự bàn luận về đạo lư mà rèm che cửa cao rộng đă che lấp những t́nh cảm sâu kín trong ḷng không bày tỏ ra được ! Người lo liệu ngựa xe lo lắng không đi đến nơi đến chốn ! Con chim phượng hoàng nhỏ có thời đă cất tiếng hót vang(C.5-8) 

 Làm sao biết được ông trời đă ở trên đất Hán Thượng . Mặt trời ban ngày đă treo cao sự nổi tiếng rồi. Người khách ở biển ra đi đă lâu . Ai là người đo lường được sự ch́m đắm và tăm tối đây ? (C.9-12)

 

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 

 CỔ PHONG BÀI THỨ MƯỜI BA .

 

 1   Vua thời b́nh đă ĺa đời ,

 Cuộc đời cũng bỏ vua thời yên vui !

 Đổi dời : dịch lớn xét soi ,

 4   Kiếm t́m nền gốc dạy người đời thôi !

 Lặng thầm nối đạo giúp đời ,

 Rèm cao che lấp t́nh vời vợi sâu !

 Quan xe lo chẳng tới nao ,

 8   Con chim phượng nhỏ hót cao có thời .

 Biết đâu đất Hán trên trời ,

 Ban ngày tăm tiếng cao vời treo kia ?

 Đă lâu khách biển ra đi ,

 12   Đắm ch́m mờ mịt ai th́ lường cho !

 

 Chú thích

 

 - quân b́nh 君平 : vị vua của thời thái b́nh yên vui .Trong lịch sử Trung Hoa ,những vị vua thời thượng cổ được xem là những ông vua của thời đại thái b́nh ,dân chúng được sống no ấm hạnh phúc và là những gương mẫu đạo đức trong việc cai trị cho các vị vua đời sau noi theo .Theo Sử kư Tư Mă Thiên, Ngũ Đế bao gồm : Hoàng Đế 黃帝, Chuyên Húc 顓頊 ,Đế Cốc 帝嚳,Đế Nghiêu 帝堯 ,Đế Thuấn 帝舜. Đó là những ông vua huyền sử được yêu chuộng do việc cai trị của họ đem lại nhiều lợi ích cho dân chúng nhất là được sống trong thái b́nh và ấm no. Nhiều sử gia khi nghiên cứu lịch sử Trung Hoa đă cho rằng các vua đó đều do người Trung Hoa tưởng tượng ra . Chỉ có Nghiêu, Thuấn c̣n có một ít dấu tích nên được xem là hai ông vua thời huyền sử. Trong đó, Nghiêu và Thuấn c̣n được gọi là Nhị Đế, cùng với Đại Vũ 大禹 , người sáng lập ra nhà Hạ có công trị thủy được nhắc đến rất nhiều trong cổ sử Trung Hoa sống trên ba ngàn năm trước C.N. Điều này không có ǵ chắc chắn cả.

 - khí thế 棄世 : bỏ ḿnh ,bỏ đời ,bỏ mạng ,liều ḿnh.....

 - quan biến 觀變 : xem xét ,t́m hiểu sự thay đổi ,biến dời...

 - cùng  : rốt cùng ,tận cùng ,sau cùng ,đến cùng ,triệt để,sự nghèo khổ ,khốn cùng.....

 - thái dịch 太易 : sự chuyển vần lớn lao tạo nên biết bao sự đổi dời trong vũ trụ và nhân sinh được đề cập nhiều trong Kinh Dịch 易經 .Tác phẩm quan trọng này của người Trung Hoa được cho là sáng tác bởi vị vua trong huyền thoại của họ là Phục Hy 伏羲 .Qua thời Đại Vũ nhà Hạ rồi đến nhà Chu sau này ,Kinh Dịch được thêm thắt hoặc giản lược bởi các người đời sau. Khổng Tử cũng dành nhiều thời giờ trong đời ḿnh để san định kinh này .

 - tham  : t́m kiếm ,ḍ xét, nghe ngóng ,hỏi thăm.....

 - không  : trống rỗng , bầu trời cao rộng (thái không) , vô ích , hăo ,suông ,không thực, nhàn hạ....

 - u t́nh 幽情 : nỗi ḷng sâu kín không bày tỏ ra được...

 - sô ngu 騶虞 : quan trông coi việc dùng xe ngựa (sô) lo lắng cho công việc(ngu).....

 - hư  : nơi chốn ,chỗ ở ,không yên ḷng ,không kiêu ngạo ,tự măn ,không thực ,trống rỗng ,hăo ,vơi đi ,thiếu .....

 - nhạc trạc 鸑鷟 : một loài chim phượng hoàng nhỏ.

 - an tri 安知 : biết đâu được ,có chắc đâu ,sao biết được....

 - câu 9 &10 : hai câu thơ này Lư Bạch đề cập đến điều mà người Trung Hoa tin rằng việc làm vua là do trời định và người được chọn có "chân mệnh đế vương" .Lưu Bang khi cùng Hạng Vũ nước Sở giao ước là khi nào ai chiếm đất Quan Trung của Tần trước sẽ được phong vương .Nhờ mưu kế của Trương Lương và các tướng giỏi giúp sức nên Hán Lưu Bang sớm chiếm được Quan Trung (nay thuộc vùng Thiểm Tây ,Tứ Xuyên) và được phong là Hán vương đóng đô ở Bá Thượng 霸上 hay c̣n được gọi là Hán Thượng 漢上 là đất phong của Hán vương Lưu Bang trong vùng Quan Trung. Hán vương sau khi đánh tan Sở Hạng vương ,thống nhất Trung Hoa (sau thời Tần Thủy hoàng) lên ngôi hiệu là Hán Cao tổ .Tiếng tăm về một ông vua mới đă nổi lên từ đất Hán Thượng này cũng được Nguyễn Du nói đến khi đi sứ Trung Hoa .Ông đă đến viếng mộ Phạm Tăng vẫn được Hạng Vũ tôn xưng là Á Phụ 亞父 đă nhận xét trong một bài thơ : "Nhăn khan Bá Thượng ngũ vân phù 眼看霸上五雲浮 ,Cấp cấp phương đồ nhất kích mưu 汲汲方圖一擊謀. Đăn đắc thử tâm vô phụ Sở 但得此心無負楚 ,Bất tri thiên mệnh dĩ quy Lưu不知天命已歸劉 ...." (Mắt ông đă trông thấy đám mây năm màu nổi lên trên vùng đất Bá Thượng. Thế mà ông vẫn cứ miệt mài một phen toan tính mưu kế đánh bại quân Lưu Bang. Ḷng dạ của ông được một điều là không hề phụ bạc nước Sở. Ông nào có hay mệnh trời đă thuộc về họ Lưu rồi...- Á Phủ mộ 亞父墓 .Trong bài Sở Bá vương mộ楚霸王墓 ,Nguyễn Du cũng có thêm nhận xét : " Bá Thượng dĩ thành thiên tử khí 霸上已成天子氣 " (Nơi vùng Bá Thượng đă thành h́nh cái khí tượng của bậc con trời .....)Xem thêm BHTL của ND ,Bài 94 và 97 ,D.A.S. chuyển dịch trên <ninh-hoa.com>)

 - câu 11 : Hải khách khứ dĩ cửu 海客去已久( người khách ở vùng biển đă ra đi từ lâu rồi) có lẽ Lư Bạch muốn nói đến Trương Lương 張良 tức Trương Tử Pḥng 張子房 (khoảng 260-188 TCN),là quân sư tài giỏi đă cùng Hàn Tín ,Tiêu Hà ...giúp Hán Lưu Bang làm nên nghiệp đế. Khi dẹp tan được quân binh của Sở vương Hạng Vũ ,định công trạng xong ,Trương Lương là người am hiểu dịch lư và cũng học theo Phạm Lăi thời xưa( Phạm Lăi 范蠡 , tự là Thiếu Bá 少伯, c̣n gọi là Phạm Bá 范伯, Si Di Tử B́ 鸱夷子皮 hay Đào Chu Công 陶朱公 - là tên của ông khi "công thành thân thoái" đi ẩn trở thành nhà buôn. Ông đă giúp Việt vương Câu Tiễn đánh tan quân của Ngô Phù Sai bằng kế dâng người đẹp Tây Thi để cho vua nhà Ngô say đắm dẫn đến triều đ́nh suy yếu hầu trả thù mối hận bị bắt năm xưa .Phạm Lăi rất giỏi việc xem tướng người và hiểu dịch lư nên ông đă nhận ra con người của vua Việt Câu Tiễn chỉ cần người giúp ḿnh nhưng không phải là kẻ cùng chung hưởng khi thái b́nh....) Cho nên ông cũng theo cách ấy để xin Hán Cao tổ đi học đạo thần tiên theo con đường của Xích Tùng Tử và đi về vùng núi Cốc Thành gần Tề giang như ước hẹn với Hoàng Thạch Công ,vị tiên nhân đă cho ông cuốn sách về mưu kế binh lược khi đi tránh quan binh nhà Tần ở Hạ B́. Nhờ cuốn sách này ,ông đă bày mưu ,tính kế giúp Hán Lưu Bang làm vua thiên hạ..... Những người có tầm nh́n xa trông rộng như Phạm Lăi hay Trương Lương đều chịu ảnh hưởng của Lăo gia v́ họ hiểu rơ ư nghĩa lời dạy của Lăo Tử : "công thành thân thoái ,thiên chi đạo  退 ,  ,Đạo Đức Kinh ,chương 9)(khi công sức đă thành , thân nên lui về ,đó là đạo trời.....) - trắc  : lường trước ,đo lường ,liệu định,trong sạch ....

 

 

 

 

 

 BÀI 93

 

 

 古風 其十 

CỔ PHONG KỲ THẬP LỤC

 

 1   寶劍雙蛟龍 , Bảo kiếm song giao long ,

 雪花照芙蓉。 Tuyết hoa chiếu phù dung .

 精光射天地 , Tinh quang xạ thiên địa ,

 4   雷騰不可沖。 Lôi đằng bất khả trùng .

 一去別金匣 , Nhất khứ biệt kim hạp ,

 飛沉失相從。 Phi trầm thất tương tùng (ṭng) .

 風胡滅已久 , Phong Hồ diệt dĩ cửu ,

 8   所以潛其鋒。 Sở dĩ tiềm ḱ phong .

 吳水深萬丈 , Ngô thủy thâm vạn trượng ,

 楚山邈千重。 Sở san mạc thiên trùng .

 雌雄終不隔 , Thư hùng chung bất cách ,

 12   神物會當逢  Thần vật hội đương phùng .

 

 李白  

Lư Bạch

 

 

 

 Dịch nghĩa :

 

 

 Cổ phong bài thứ mười sáu .

 

 

 Cây gươm báu có (khắc vẽ) một đôi con vật là thuồng luồng và rồng. Những bông hoa tuyết nhắm vào đóa hoa phù dung . Ánh sáng trong lành soi sáng trời đất .Tiếng sấm sét vang to mau lẹ không thể ḥa vào nhau ! (C.1-4)

 Một lần tiễn biệt chiếc cũi vàng ra đi sẽ làm bay mất sự mê đắm đi theo cùng nhau.

Lề lối thói tục của người Hồ đă mất đi từ lâu rồi . Cho nên làm sao giấu kín khí thế mạnh mẽ được ! (C.5-8)

 Sông của nước Ngô sâu thẳm muôn trượng ! Núi non nước Sở xa xôi ngàn lần hơn! Việc tranh nhau hơn thua rốt cùng không tách nhau ra được . Thần thánh và các loài họp nhau gặp gỡ xứng hợp nhau !

 

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 

 CỔ PHONG BÀI THỨ MƯỜI SÁU .

 

 1 Giao long gươm báu một đôi ,

 Phù dung bông tuyết chiếu soi rỡ ràng !

 Đất trời soi sáng trong ngần ,

 4 Chẳng cùng ḥa hợp sấm vang chớp dồn !

 Cũi vàng giă biệt một lần ,

 Bay đi mê đắm theo cùng với nhau .

 Thói Hồ tắt ngấm từ lâu !

 8 Cho nên thế mạnh giấu nao đó rồi !

 Sông Ngô muôn trượng sâu vời ,

 Núi non nước Sở xa xôi ngàn lần .

 Thắng thua rốt lại chẳng ngăn ,

 12 Cùng nhau muôn vật thánh thần gặp nhau .

 

 Chú thích :

 

 - phù dung 芙蓉 : tên loài hoa khi nở có nhiều cánh uốn lượn ,nhiều màu sắc ,thân cây có lá to .Có khi hoa phù dung cũng để chỉ hoa sen .Hoa phù dung là loài hoa thi ca hay nói đến v́ "sớm nở tối tàn " chóng vánh...

 - tinh quang 精光 : trong trẻo ,sạch bóng...

 - xạ  : soi sáng ,bắn tên từ cung hay nỏ ,t́m kiếm,tranh cướp quyền lợi...

 - lôi đằng 雷騰 : sấm sét dội vang xẹt điện chớp giật khắp bầu trời khi có mưa lớn và hầu như sét không bao giờ xẹt xuống cùng một chỗ....

 - trùng  : ḥa hợp ,ḥa vui ,khỏe mạnh ,trống rỗng ,sâu xa ,vọt lên,xung đột ,trút xuống,xông tới....

 - kim hạp 金匣 : hộp hay tráp đựng đồ có thiếp vàng hay bằng vàng thật . Hạp : cũng để chỉ cái cũi giam người hay để chỉ chốn tù đày .Lư Bạch muốn nói đến một giai đoạn được ân sủng của Đường Huyền Tông ở triều đường nhưng ông xem nơi đây chỉ như là một chiếc cũi vàng giữ người thôi !

 - phong Hồ 風胡 : phong tục ,thói quen của người Hồ . Hồ là tiếng chỉ chung các bộ tộc như Phiên Ngung ,Hung nô ,Đột Quyết .v..v...thường hay đánh phá phía bắc và tây bắc Trung Hoa từ các thời xa xưa trước khi Tần Thủy hoàng thống nhất với khí thế mạnh mẽ ,bền bỉ làm cho nhiều triều đại Trung Hoa phải thường xuyên lo lắng đối phó ,tiêu hao người và của...

 - phong  : mũi nhọn ,mũi giáo ,khí thế mạnh mẽ....

 - thư hùng 雌雄 : chỉ con mái con trống ,tranh giành quyết liệt ,sống mái hơn thua dứt khoát.....

 - bất cách 不隔 : không ngăn chặn được ,không tách ngăn ra được...

 

 

 

 

 

BÀI 94

 

 

 古風 其十七

CỔ PHONG KỲ THẬP THẤT

 

 1 金華牧羊兒 , Kim hoa mục dương nhi ,

 乃是紫煙客。 Năi thị tử yên khách . 

 我願從之游 , Ngă nguyện ṭng chi du ,

 4 未去發已白。 Vị khứ phát dĩ bạch .

 不知繁華子 , Bất tri phồn hoa tử ,

 擾擾何所迫。 Nhiễu nhiễu hà sở bách .

 崑山採瓊蕊 , Côn Sơn thải quỳnh nhuy ,

 8 可以煉精魄。 Khả dĩ luyện tinh phách.

 

 

 李白   Lư Bạch

 

 

 

 Dịch nghĩa

 

 

 Cổ phong bài thứ mười bảy

 

 Bông hoa bằng vàng của người chăn dê trẻ .Đây đúng là người khách của vùng khói mây màu tím ! Ta mong ước cùng đi theo rong chơi nhưng chưa bắt đầu ra đi mà (đầu) đă bạc trắng ! (C.1-4)

 Không hiểu được kẻ nơi chốn đông người đô hội nhiều sự rối ren sao lại phải chịu chật chội ở nơi này ! Núi Côn Lôn đi hái nhụy của những đóa hoa quỳnh để có thể luyện ra chất tinh túy của (tinh thần) con người ! (C.5-8)

 

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 CỔ PHONG BÀI THỨ MƯỜI BẢY .

 

 1   Trẻ chăn dê với hoa vàng ,

 Khói mây màu tím đúng phăng khách rồi !

 Nên ta mong được theo chơi ,

 4   Chưa đi đă hiện trắng phơi mái đầu !

 Kẻ nơi đông đúc hiểu đâu !

 Ở sao chật chội , biết bao rối bời !?

 Côn Sơn hái nhụy quỳnh thôi !

 8   Tinh thần có thể luyện ngời sáng tươi.

 

 Chú thích :

 

 - kim hoa 金華 : bông hoa làm bằng vàng hoặc bằng các loại kim loại khác...

 - nhi  : trẻ em ,trẻ nhỏ ... Theo quan niệm của Lăo Tử ,h́nh ảnh trẻ con là h́nh ảnh của

người đạt đạo đă từ bỏ cái nh́n mơ hồ và những tỳ vết bợn dơ... : " Tải doanh phách băo nhất ,năng vô ly hồ ? Chuyên khí trí nhu ,năng anh nhi hồ ? Dịch trừ huyền lăm ,năng vô t́ hồ ?  , ?   , ? , ?(Lăo Tử,Đạo Đức kinh ,chương 10)( mang hồn phách ôm giữ làm một mối ,không làm chia ĺa được không ? Làm cho khí đem lại sự mềm mại như đứa trẻ nhỏ mới sinh được không ? Tẩy trừ cái nh́n mơ hồ xa vời, làm cho không chút t́ vết ,bợn dơ được không? ).Trong một chương khác ,Lăo Tử cũng nhắc lại rằng con đường giữ đức ,đến đạo không được xa ĺa đức và cần quay trở về với tâm hồn trẻ thơ như khi mới sinh ra v́ cái tâm c̣n trong trắng, uyên nguyên , chất phác chưa phân định đúng sai ,thiện ác ,xấu tốt..v..v...chính là lẽ đạo ( "...thường đức bất ly , phục quy ư anh nhi , " (Đạo Đức Kinh, chương 28) .Kinh Phúc Âm hay Tin Mừng của Thiên Chúa giáo cũng ghi lại lời dạy của Jesus : “ Những ai không trở nên trẻ thơ không được vào Nước Trời” (Tin mừng ,Mt 18, 3) hay nói khác hơn : Chỉ những ai trở nên như trẻ thơ mới đến được cửa thiên đường ; cửa thiên đường là cửa vào lẽ đạo có thể vào được như cách của Lăo Tử nêu bên trên....

 - năi thị 乃是 : đây đúng là , đúng là như thế....

 - tử yên khách 紫煙客 : người khách của vùng khói mây màu tím...Đây chỉ những bậc ẩn sĩ hoặc đạo sĩ ở trong những vùng có cảnh sắc mây khói tím đẹp đẽ phù hợp cho việc tu luyện tinh thần. Màu tím là màu của đạo giáo rất thịnh hành thời của Lư Bạch( xem thêm chú thích "tử minh 紫冥" trong bài 95 bên dưới ).

 - phát  : bắt đầu đi ,hiện ra ,đưa ra ,bắn đi ,sinh trưởng mở ra ,dấy lên ,mở đầu.....

 - phồn hoa tử 繁華子 : kẻ ở nơi chốn đô hội ,đông đúc ....

 - nhiễu nhiễu 擾擾 : rất nhiều sự rối rắm ,rối loạn ,rối bời ,không được yên ổn....

 - bách  : bức bách ,quẫn bách , thúc ép ,thúc dục ,khốn quẫn ,chật hẹp ,vội vàng....

 - Côn Sơn 崑山 : tức là dăy Côn Lôn Sơn 崑崙山 tiếp giáp với cao nguyên Tây Tạng (đă bị cưỡng chiếm bởi CSTH từ 1959 để sát nhập vào lănh thổ của bọn họ). Đây là nơi ẩn dật được các đạo sĩ thường chọn. Côn Sơn nằm ở tỉnh Giang Tô, phía tây bắc huyện Tùng Giang,Trung Hoa với tên núi là Mă Yên 馬鞍 thường được gọi là núi Côn Lôn.

 - nhuy  : tức nhị hay nhụy bông hoa .

 - tinh phách 精魄 : tinh thần và khí phách của một con người ,phần tinh hoa của con người do tu luyện mà có (phách : vía ,khí phách thể hiện cốt cách một con người ; phách cũng chỉ ánh sáng trăng ,mặt trăng ngày mồng một gọi là “tử phách 死魄", mặt trăng ngày rằm gọi là “sinh phách 生魄". ...

 

 

 

 

BÀI 95

 

 

 古風 其其十九

CỔ PHONG BÀI THỨ MƯỜI CHÍN

 

 1   西嶽蓮花山 , Tây nhạc Liên Hoa san ,

 迢迢見明星。 Điều điều kiến Minh Tinh .

 素手把芙蓉 , Tố thủ bả phù dung ,

 4   虛步躡太清。 Hư bộ niếp Thái Thanh .

 霓裳曳廣帶 , Nghê thường duệ Quảng đái ,

 飄拂昇天行。 Phiêu phất thăng thiên hành .

 邀我登雲臺 , Yêu ngă đăng Vân Đài ,

 8   高揖衛叔卿。 Cao ấp Vệ Thúc Khanh .

 恍恍與之去 , Hoảng hoảng dữ chi khứ ,

 駕鴻凌紫冥。 Giá hồng lăng tử minh .

 俯視洛陽川 , Phủ thị Lạc Dương xuyên ,

 12   茫茫走胡兵。 Mang mang tẩu Hồ binh .

 流血涂野草 , Lưu huyết đồ dă thảo ,

 14   豺狼盡冠纓。 Sài lang tận quan anh .

 

 

 李白  

Lư Bạch

 

 

 

 Dịch nghĩa

 

 

 Cổ phong bài thứ mười chín .

 

 Ở phía tây ngọn núi Liên Hoa ,phía trên cao chót vót trông thấy nàng tiên nữ Minh Tinh với bàn tay trắng trẻo cầm đóa hoa sen nhẹ bước trên tầng không của cung điện Thái Thanh (C.1-4)

 Khúc "nghê thường" dập d́u dải áo khắp cung Quảng Hàn. Các tiên nữ rũ áo nhẹ nhàng bay lên bầu trời cao mà đi ; rồi mời ta đi lên Vân Đài , chắp tay vái cao chào ông tiên Vệ Thúc Khanh .(C.5-8)

 T́nh cờ (ta) đă cùng ông ra đi rồi cưỡi con chim hồng bay đến nơi cao xa màu tím.Trên cao nh́n xuống thấy các con sông ở vùng Lạc Dương với đoàn quân người Hồ ruổi rong mù mịt .(C.9-12)

 Máu chảy bôi quét lên cánh đồng cỏ , sự ác hiểm như che trùm nơi dải mũ (quân binh người Hồ )(.13-14)

 

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 

 CỔ PHONG BÀI THỨ MƯỜI CHÍN .

 

 1   Núi tây có đỉnh Liên Hoa ,

 Minh Tinh đă thấy xa xa kia rồi !

 Hoa sen tay giữ trắng ngời !

 4   Thái Thanh nhẹ bước cung trời tầng không .

 Dập d́u cung Quảng nghê thường ,

 Lên trời rũ áo nhẹ nhàng mà đi !

 Mời ta leo đến Vân Đài ,

 8   Thúc Khanh chắp vái chào ngài trên cao !

 Cùng ông bỗng chốc đi nào !

 Cưỡi lên trời tím bay cao cánh hồng ,

 Lạc Dương nh́n xuống những sông ,

 12   Binh Hồ rong ruổi mịt mùng nơi nơi !

 Quét bôi đồng cỏ máu trôi !

 14   Ḷng lang ,dạ sói che vời mũ kia !

 

 Chú thích :

 

 - tây nhạc 西嶽 : dăy núi có nhiều ngọn núi to lớn ở phía tây. Tây Nhạc trong bài thơ này là tên của một trong năm ngọn núi danh tiếng và được xem là linh thiêng của người Trung Hoa xếp đặt theo các nhà phong thủy là theo lối ngũ hành từ thời cổ đại do thần Bàn Cổ làm ra bao gồm : Bắc Nhạc北嶽 với núi Hằng sơn 恆山 , Đông Nhạc với ngọn Thái Sơn 泰山 , Nam Nhạc 南嶽 với ngọn Hành Sơn 衡山 ,Tây Nhạc 西嶽 với ngọn Hoa Sơn 華山 hay Liên hoa Sơn 蓮花山 và ở trung tâm là Trung Nhạc 中嶽 với ngọn Tung Sơn 嵩山 .Tùy theo phái theo đạo Phật hay đạo giáo mà tên gọi có khác nhau .....Lư Bạch ,qua thơ của ông như bài Cổ Phong này chẳng hạn, đă cho thấy nhà thơ chịu ảnh hưởng sâu đậm của phái theo đạo giáo thần tiên.

 - điều điều 迢迢 : xa xa ,xa xăm ,dài dằng dặc , dài lâu ,chót vót ,sâu thẳm....

 - Minh Tinh 明星: ngôi sao sáng chói .Ở đây là tên một tiên nữ theo truyền thuyết Trung Hoa tên là Minh Tinh ở trên núi Hoa Sơn 華山 được ghi trong sách xưa tên là Thái B́nh Quảng Kư太平廣記 gồm 500 quyển . Đây là một bộ sách lớn, do nhóm Lư Phương (12 người) đời Tống biên soạn theo lệnh của vua Tống Thái Tông. Tác phẩm tập hợp khoảng 7.000 truyện văn học tuyển lựa ra từ hơn 300 sách văn học được biên soạn vào năm Thái B́nh Hưng Quốc năm thứ hai 977, hoàn thành năm 978 . 

 - phù dung 芙蓉 : tên một loài hoa có nhiều màu ,cành cây có lá to nở vào mùa hè.Đồng thời cũng là tên khác của hoa sen ( liên hoa 蓮花)

 - hư bộ niếp 虛步躡 : bước đi nhẹ nhàng ở tầng không ( niếp : bước nhẹ nhàng ,giẫm chân lên ,theo chân ,đuổi theo ,xen vào...)

 - Thái Thanh 太清 : cung điện của Thái Thượng Lăo quân của đạo giáo trên cơi trời .

 - nghê thường 霓裳 : xiêm áo của cung nữ trên thiên giới có bảy màu như sắc cầu vồng. Đây cũng là tên điệu múa có tên là "Nghê thường vũ y khúc 霓裳羽衣曲" theo truyền thuyết là do Đường Minh hoàng 唐明皇 tên thật là Lư Long Cơ李隆基( tức Đường Huyền tông唐玄宗 713-756) sáng tác .Nhà vua được đạo sĩ La Công Viễn nhân đêm rằm Trung thu làm phép tiên đưa nhà vua lên chơi cung Quảng Hàn trên cung trăng của Hằng Nga .Ông được nghe điệu múa du dương do những tiên nữ xiêm áo rực rỡ kết bằng lông chim (vũ y) đủ màu tha thướt múa . Nhà vua vốn rành âm nhạc lại mê say điệu múa nên t́m cách ghi nhớ để khi tỉnh giấc mộng trở về trần gian soạn ra điệu múa này rồi bày cho các cung nữ múa trong những ngày trăng rằm để nhớ lại những giây phút đẹp đẽ khi nghe khúc múa trên cung Quảng (sách Dị Văn Lục) . Một thuyết khác có lư và thực tế hơn là điệu múa do Tiết độ sứ Trương Kính Thuật ở vùng Tây Lương của người Bà La Môn đem về dâng lên nhà vua và được sửa sang thêm thắt đặt tên mới như trên.

 - phiêu phất 飄拂 : gió thổi phe phẩy ,phất phơ nhẹ nhàng .

 - yêu  : mời mọc , cầu mong ,mời đón....

 - ấp  : chắp tay vái chào ,hứng lấy ,nhường nhau....

 - hoảng hoảng 恍恍 : bất chợt ,t́nh cờ , bỗng nhiên ,phảng phất ,mờ mịt...

 - giá hồng 駕鴻 : cưỡi con chim hồng...

 - tử minh 紫冥 : màu tím cao xa . Theo truyền thuyết của người Trung Hoa , Lăo Tử sau khi gặp Khổng Tử chán người đời bèn đi ra khỏi cửa ải Hàm Cốc đi ở ẩn. Quan giữ thành là Doăn Hỷ thấy có khí màu tím đến từ phía Đông rồi thấy Lăo Tử 老子 cưỡi trâu xanh từ từ đi đến. Ông biết đó là bậc thánh nhân, liền nhờ Lăo Tử viết sách chỉ cách tu đạo . Đó là cuốn “Đạo Đức Kinh 道德經 ” nổi tiếng trong nền văn hóa Trung Hoa đề cập những vấn đề đạo đức cao thâm. Từ đó, khí màu tím mang ư nghĩa cát tường, báo hiệu thánh hiền, bậc đế vương xuất hiện. 

 - phủ thị 俯視 : nh́n từ trên cao xuống bên dưới ...

 - Lạc Dương 洛陽 : nằm phía tây tỉnh Hà Nam ,bên bờ sông Lạc Hà. Lạc Hà đây là tên gọi nguyên thủy của "Lạc Dương" ,nguyên là kinh đô của nhiều triều đại Trung Hoa. Lạc Dương được Triệu Khang Công xây dựng theo lệnh của Chu Công 周公 vào thế kỷ 11 TCN và được đặt tên là Thành Chu 成周. Nó trở thành kinh đô của Đông Chu kể từ năm 770 TCN. Sau này từ năm 25 tới năm 190 SCN, Lạc Dương trở thành kinh đô của nhà Đông Hán, từ Hán Quang Vũ Đế cho tới đầu thời kỳ trị v́ của Hán Hiến Đế.....

 - mang mang 茫茫 : mênh mông ,mù mịt....

 - Hồ binh 胡兵 : chỉ chung các bộ tộc ở phía bắc ,phía tây của Trung Hoa như Thổ Phồn,Đột Quyết ,Hung Nô ,Khiết Đan ...v..v.. thường đem quân vào trung nguyên đánh phá gây ra sự bất ổn triền miên cho các nước thời Chiến Quốc và sau này như nhà Tần ,nhà Hán, nhà Đường,nhà Tống ..v...v...của Trung Hoa.

 - sài lang 豺狼 : chó sói ,chỉ sự ác độc ,hiểm trá của các bộ tộc người Hồ thường đem quân tiến đánh Trung Hoa ( và ngược lại ,người Trung Hoa đi xâm lược các nước nhỏ hơn cũng bị gọi như thế !)

 - quan anh 冠纓 : mũ ,nón che trùm đầu có dải mũ hay tua ngù ,dây buộc...

 

 

 

 ** Ghi chú : Để độc giả tiện theo dơi ,xin ghi lại các bài Cổ Phong đă đăng :

 - CP 11 : Bài 46 (th.08 /2017)

 - CP 12 : Bài 55 (th.12 /2017)

 - CP 14 : Bài 58 (th.01 /2018)

 - CP 15 : Bài 49 (th.09 /2017 . ** Đồng thời Bài 45 đă ghi nhầm thứ tự của bài CP 15 . Bài 45 (th. 8/2017)là bài thơ Cổ phong đề trên một bức họa cổ dưới đây ,không theo số thứ tự như các học giả đă sắp xếp nhưng được họa sĩ ghi là Cổ phong kỳ nhất ,xin cáo lỗi quư độc giả)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

DƯƠNG ANH SƠN
Sài G̣n, 8/2018

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |          www.ninh-hoa.com