trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |          www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

  

 

Thơ LƯ BẠCH

DƯƠNG ANH SƠN

 

 

 
 

 

 BÀI 63

 

 

 古風 其五十五

 

CỔ PHONG KỲ NGŨ THẬP NGŨ

 

 1 齊瑟彈東吟, Tề sắt đạn đông ngâm,

 秦弦弄西音。 Tần huyền lộng tây âm.

 慷慨動顏魄, Khảng khái động nhan phách,

 4 使人成荒淫。 Sử nhân thành hoang dâm.

 彼美佞邪子, Bỉ mỹ nịnh tà tử,

 婉孌來相尋。 Uyển luyến lai tương tầm.

 一笑雙白璧, Nhất tiếu song bạch bích,

 8 再歌千黃金。 Tái ca thiên hoàng kim.

 珍色不貴道, Trân sắc bất quư đạo,

 詎惜飛光沈。 Cự tích phi quang trầm.

 安識紫霞客, An thức tử hà khách,

 12 瑤臺鳴素琴。 Dao thai minh tố cầm.

 

 李白 Lư Bạch

 

 

 

 Dịch nghĩa :

 

 Cổ phong bài thứ năm mươi lăm.

 

 Cây đàn sắt nước Tề gảy lên những tiếng rên rĩ ở phía đông. Cây đàn huyền (huyền cầm) nước Tần với những âm thanh vui đùa bỡn cợt ở phía tây. Những âm thanh mạnh mẽ ấy lay động vẻ mặt giữa ánh sáng trăng c̣n mù mờ khiến cho người ta thành kẻ phóng đăng quá độ (C. 1-4).

 Cái đẹp kia và tài năng của kẻ không ngay chính đă t́m đến nhau v́ sự tươi tắn xinh xắn ( của người con gái ) với một nụ cười có hai hàng ngọc bích trắng đẹp lại thêm tiếng hát đáng giá ngàn vàng mà thôi (C. 5-8)

 Coi trọng nhan sắc không biết quư trọng đạo lư. Tiếc rằng nếu như ánh sáng ấy bay bổng lên trên sự mê đắm để yên vui với sự hiểu biết của người khách trọ trong ráng chiều màu đỏ tía được bày tỏ nơi đài ngọc cao quư với tiếng đàn thanh đạm, mộc mạc (th́ đẹp biết bao ) (C. 9-12).

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 CỔ PHONG

BÀI THỨ NĂM MƯƠI LĂM.

 

 1 Phía đông rên rĩ đàn Tề,

 Phía tây đùa cợt măi mê đàn Tần !

 Tiếng đàn lay mạnh dung nhan,

 4 Khiến người thành kẻ hoang dâm sa đà.

 Tài kia, đẹp đó lệch tà,

 T́m nhau chỉ bởi mặn mà xinh tươi.

 Hai hàng ngọc bích trắng cười,

 8 Thêm ca hát nữa đáng thôi ngàn vàng !

 Trọng nhan sắc, đạo chẳng màng ! 

 Giá như ánh sáng bay tràn đắm say.

 Ráng chiều tím, khách vui vầy,

 12 Tiếng đàn đài ngọc tỏ bày thanh cao.

 

 Chú thích

 - sắt  : tức cây đàn có năm mươi dây thời xưa bên Trung Hoa, về sau được canh cải thành đàn có hai mươi lăm dây đàn. Nhà thơ Lư Thương Ẩn trong bài Cẩm sắt 錦瑟 đă viết : " Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền, nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên 錦瑟無端五十弦, 一弦一柱思華年 Cây đàn gấm không đâu có năm chục dây, mỗi dây đi với mỗi trục làm nhớ tới thời tuổi trẻ. "Tề sắt " là cây đàn sắt chế tác tại nước Tề hoặc khi gảy đàn mang âm điệu của nước Tề.

 - ngâm  : ngâm vịnh, đọc, rên rĩ. . . .

 - huyền  : dây đàn, dây cung, uốn cong, chỉ chung mộ loại đàn rất cổ của Trung Hoa có tên là "cổ cầm鼓琴" hay "ngọc cầm 王琴" có từ trước thời Khổng Tử gồm năm dây (ngũ huyền cầm). Về sau được thêm hai dây nữa là dây Văn và dây Vơ (vũ) gọi tên là đàn bảy dây ( thất huyền cầm七弦琴 ).

 - lộng  : mân mê, ngắm nghía, trêu chọc, đùa giỡn, bỡn cợt, thổi sáo. . .

 - khảng khái 慷慨 : mạnh mẽ, hiên ngang, hào phóng, rộng răi, có khí tiết lớn. . . .

 - nhan phách 顏魄 : phách : tinh khí, vía, cặn bă, ánh trăng mờ tối. Vẻ mặt người dưới ánh trăng mù mờ không chính đính, đàng hoàng. . . . .

 - bỉ mỹ 彼美 : bỉ : kia, nọ, phía bên kia, kẻ kia (ngược lại là thử ). Cái đẹp kia, cái đẹp của kẻ đó.

 - nịnh  : tài giỏi, tài năng, nịnh nọt. . . . .

 - tà tử 邪子 : kẻ gian tà, không thẳng thắng, kẻ quái dị, kẻ tà lệch hay cong quẹo, kẻ đáng ngờ vực, nghi ngại khi giao tiếp. . . .

 - uyển luyến 婉孌 : tươi tắn, vẻ xinh xắn. . . .

 - tái ca 再歌 : hơn nữa, lại nữa tài ca hát. . .

 - trân  : coi trọng, quư báu, hiếm lạ, đồ ăn ngon. . .

 - cự  : giá như, chẳng nhẽ, nếu mà, sao lại. . . .

 - tích  : tiếc cho, tiếc nuối, đau thương, tiếc thương, yêu quư, keo kiệt. . .

 - an thức 安識 : hiểu biết sự an vui, yên ổn, nhận thức về sự yên b́nh cho bản thân và thần dân. . . . .

 - tử hà 紫霞 : ráng trời chiều màu tím, màu đỏ tía. . . .

 - minh tố cầm 鳴素琴 : bày tỏ, phô bày tiếng đàn mộc mạc, thanh cao. . . . (tố : tơ trắng, chất, trắng nơn, mộc mạc, thanh đạm, thanh cao. . . . )

 

 

 

 

 BÀI 64

 

 

 古風 其五十六

 

CỔ PHONG KỲ NGŨ THẬP LỤC

 

 1 越客採明珠, Việt khách thải minh châu,

 提攜出南隅。 Đề huề xuất nam ngung.

 清輝照海月, Thanh huy chiếu hải nguyệt,

 4 美價傾皇都。 Mỹ giá khuynh hoàng đô.

 獻君君按劍, Hiến quân quân án kiếm,

 懷寶空長吁。 Hoài bảo không trường hu.

 魚目復相哂, Ngư mục phục tương sẩn,

 8 寸心增煩紆。 Thốn tâm tăng phiền hu.

 

 李白 Lư Bạch

 

 

 

Dịch nghĩa :

 

 Cổ phong bài thứ năm mươi sáu.

 

 Khách nước Việt nhặt được viên ngọc chói sáng nắm trong tay đi ra vùng ven phía nam. Ánh sáng trong trẻo của vầng trăng soi chiếu biển khơi. Giá trị của cái đẹp đă làm nghiêng đổ kinh đô của vua (C. 1-4)

 Dâng tặng (viên ngọc sáng) lên vua, vua chống gươm, ôm ấp giữ vật quư báu suông hăo không ích lợi, kéo dài việc nhàn hạ. Sự lẫn lộn thật giả( ví như con mắt con cá để lẫn với viên ngọc sáng) lại bị chê cười !. Tấc ḷng tăng thêm nhiều sự buồn phiền và u uất ! (C. 5-8)

 

 

 Dịch thơ :

 

 CỔ PHONG

LẦN THỨ NĂM MƯƠI SÁU.

 

 1 Khách Việt nhặt ngọc quư,

 Về nam, nắm trong tay.

 Sáng trong vầng trăng biển,

 4 Nghiêng thành bởi đẹp này.

 Dâng vua, vua chống kiếm,

 Măi nhàn ôm ngọc suông.

 Lại bị cười lẫn lộn,

 8 Tấc ḷng thêm sầu buồn !

 

 

 Chú thích :

 

 - thải minh châu 採明珠 : nhặt viên ngọc quư sáng ngời. (thải : nhặt, hái, ngắt, bẻ hoa. . . ) 

 - đề huề 提攜 : nắm tay nhau cùng đi, mang đi, giúp nhau, cùng nhau làm việc. . . .

 - ngung  : vùng ven, vùng gần biên giới, chỗ uốn cong của sông núi, chuyển hướng, góc cạnh, uốn khúc. . . .

 - mỹ giá 美價 : giá trị của cái đẹp, cái đẹp đáng giá. . . . .

 - án kiếm 按劍 : để tay vào gươm, vỗ tay vào kiếm, chống kiếm, ngưng việc dùng kiếm. . . .

 - hoài bảo 懷寶 : ôm vật ǵ quư báu, giữ vật quư. . .

 - không  : trống rỗng, suông, hăo, vô ích, vắng lặng, nhàn hạ rảnh rỗi, nghèo, trống trải. . .

 - hu  : an nhàn, khoe khoang, buồn sầu, tiếng than :ôi chao, chao ôi. . . Trường hu : kéo dài sự an nhàn, thảnh thơi, tiếng than vắn thở dài. . .

 - ngư mục 魚目 : cách nói chỉ việc lẫn lộn khi nh́n con mắt của cá và những viên ngọc sáng tưởng giống nhau, cũng như cách nh́n giữa thật và giả, giữa sự có ích và vô ích. . . .

 - sẩn  : chê cười, giễu cợt, mỉm cười. . .

 - phiền hu 煩紆: phiền muộn, u uất, buồn phiền sầu khổ. . .

 

 * * Đường Huyền Tông 唐玄宗( 685 -762) c̣n có hiệu là Đường Minh Hoàng 唐明皇, thuộc thời của Lư Bạch. Khi mới lên ngôi sau khi dẹp triều Vơ Tắc Thiên soán ngôi là một ông vua biết lo việc nước. Từ khi Cao Lực Sĩ tiến cử Dương Ngọc Hoàn có sắc đẹp mặn mà nên được vua Đường sủng ái ban hiệu là Quư Phi, việc triều chính không c̣n được vua điều hành khiến nẩy sinh loạn An Lộc Sơn sau này khiến vua phải rời kinh thành. . . . Lư Bạch ví Dương Quư Phi chỉ là viên ngọc sáng có thể làm nghiêng đổ kinh đô nhà Đường. Nhà vua ham hưởng lạc, vui thú nhàn hạ với viên ngọc quư nhưng suông hăo này gây nên biết bao sự rối ren cho triều nhà Đường và người đời cười chê. Dương Quư Phi bị quân lính buộc vua phải cho treo cổ trên đường chạy khỏi kinh đô mới đưa vua đi. Sau cái chết của Dương Quư Phi, Đường Minh hoàng đă trở nên u uất buồn khổ do nhớ thương.

 

 

 

 

 BÀI 65

 

 

 古風 其五十七

 

CỔ PHONG KỲ NGŨ THẬP THẤT

 

 1 羽族稟萬化, Vũ tộc bẩm vạn hóa

小大各有依。 Tiểu đại các hữu y.

周周亦何辜, Chu chu diệc hà cô,

 4 六翮掩不揮。 Lục cách yểm bất huy.

 願銜眾禽翼, Nguyện hàm chúng cầm dực,

 一向黃河飛。 Nhất hướng Hoàng Hà phi.

 飛者莫我顧, Phi giả mạc ngă cố,

 8 嘆息將安歸。 Thán tức tương an quy.

 

 李白 Lư Bạch

 

 

 

 Dịch nghĩa :

 

 Cổ phong
bài thứ năm mươi bảy.

 

 Giống ṇi các loài có lông vũ từ khi sinh ra đă có muôn ngàn sự biến hóa. Nhỏ hay lớn đều y như thế. Dáng bay của các loài chim há sao lại bị ngăn cản ? Sáu cái lông ống của cánh chim giúp cho chim vẫy cánh ổn định, không lay động khi bay. (C. 1-4)

 Muốn thế, chim phải tuân theo và chịu sự giúp đỡ của đông đảo con chim để cùng bay một hướng theo con sông Hoàng. Chim cứ bay như thế chớ quay lại nh́n ta đang than thở (muốn) cùng nhau quay về chốn an vui. (C. 5-8)

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 

 CỔ PHONG
BÀI THỨ NĂM MƯƠI BẢY
.

 

 1 Loài chim biến hóa ngàn muôn,

 Bé con, to lớn đều khuôn thế này.

 Há nào ngăn cản dáng bay,

 4 Sáu lông cánh đỡ vững thay vẫy vùng !

 Theo bầy giúp thỏa ước mong!

 Bay theo một hướng sông Hoàng mà thôi.

 Bay đi chớ ngoảnh nh́n tôi !

 8 Thở than rồi sẽ về nơi an lành !

 

 Chú thích :

 

 - bẩm  : tính trời ban cho (phú bẩm, bẩm sinh), vâng mệnh, thưa bẩm. . .

 - y  : y như thế, y theo, y như cũ, thuận theo, nương dựa. . . .

 - chu chu 周周 : dáng bay, cách bay của loài chim.

 - cô  : ngăn cấm, cản trở, trái ư, phật ḷng, tội lỗi, mổ con vật dùng để tế lễ, lỗi lầm. . .

 - cách  : lông cánh chim, cuống lông chim. . .

 - yểm  : che chở, đánh úp, úp lên trên, che đậy, ngậm, đóng, bưng. . .

 - huy  : vẫy, quẩy, vẫy vùng, rung động, lay động, khua, tan ra, gạt ra, múa. Bất huy : không rung và lay động tức là ổn định. . .

 - nguyện hàm 願銜 : muốn theo, muốn đi theo, muốn ôm vào, mong được cắp vào. . . .

 - dực  : sự giúp đỡ, sự quy củ, chỉnh tề, cánh chim, vây cá. . .

 - cố  : trông lại ngoảnh lại, ngoái nh́n lại, xem xét lại, chăm sóc, trái lại, song, như. . .

 - tương  : rồi sẽ, sắp, đưa cầm, theo, bên, vừa lại. Một âm là tướng : người chỉ huy, ông tướng. . .

 

 

 

 

 BÀI 66

 

 

 古風 其五十

 

CỔ PHONG KỲ NGŨ THẬP

 

 1 宋國梧臺東, Tống quốc ngô thai đông,

 野人得燕石。 Dă nhân đắc Yên thạch.

 誇作天下珍, Khoa tác thiên hạ trân.

 4 卻哂趙王璧。 Khước sẩn Triệu vương bích,

 趙璧無緇磷, Triệu bích vô truy lân.

 燕石非貞真。 Yên thạch phi trinh chân,

 流俗多錯誤, Lưu tục đa thác ngộ.

 8 豈知玉與珍。 Khởi tri ngọc dữ trân.

 李白 Lư Bạch

 

 

 

 Dịch nghĩa :

 

 Cổ phong

bài thứ năm mươi.

 

 Ở phía đông nơi nền đất cao có cây ngô đồng của nước Tống, người dân quê đă gặp được viên đá nước Yên, rồi khoe khoang là sẽ làm ra vật quư báu trong đời, lại c̣n giễu cợt ngọc bích của vua nước Triệu nữa ! (C. 1-4).

 Ngọc bích của nước Triệu không mài đi màu đen thâm được ! Viên đá nước Yên chắc chắn không phải là loại (đá quư) thật. Điều đó đă lưu lại thói quen nhiều lầm lẫn ! Há có biết (phân biệt) thế nào là ngọc cùng sự quư giá của nó hay sao !?

 

 

 Tạm chuyển lục bát : 

 

 

 CỔ PHONG

BÀI THỨ NĂM MƯƠI.

 

 1 Nền ngô nước Tống phía đông,

 Đá Yên được bởi thường dân một người

 Khoe làm đồ quư cho đời,

 4 Ngọc vua Triệu lại đem cười giễu chơi !

 Không mài ngọc Triệu đen ngời,

 Chẳng là thứ thật chắc rồi đá Yên !

 Vẫn c̣n lầm lẫn lưu truyền,

 8 Biết đâu vật quư, ngọc nguyên thế nào !

 

 

 Chú thích :

 

 - Tống quốc 宋國 : đây là nước Tống trước thời nhà Đường của Lư Bạch. Nhà Tống (420-478) của Tống Vũ đế 宋武帝 (tức Lưu Tống Vũ đế 劉宋武帝) tên thật là Lưu Dụ 劉裕, tên tự Đức Dư 德輿, c̣n có một tên gọi khác là ĐứcHưng 德興, tiểu tự là Kư Nô 寄奴 được nhà Tấn trao ngôi cho, làm vua được 59 năm, sau trao cho Tề. C̣n nhà Tống về sau quốc hiệu là Đại Tống do Triệu Khuông Dận 趙匡胤 làm hoàng đế, tồn tại được được 320 năm(960-1279) chia làm hai thời kỳ : thời được gọi là Bắc Tống (960-1127) tương đối yên ổn rồi bị nước Kim, nước Liêu đánh chiếm phải lui về phía nam lấy Kiến Khang Phủ làm kinh đô (tức Nam Kinh sau này ) gọi là Nam Tống(1127-1279). Sau này bị nhà Nguyên do quân Mông Cổ lập ra diệt mất.

 - ngô thai 梧臺 : thai : đài, lầu, hèn hạ, bục hay nền cao. . . . Đây chỉ nền đất cao có cây ngô đồng 梧桐 và ḥn đá nước Yên (Yên thạch ) gặp được ở nền đất này. . .

 - dă nhân 野人 : người quê mùa, người dân thường, con đười ươi. . .

 - khoa  : khoe khoang, phô trương, khoác lác, khen ngợi, to lớn. . .

 - khước  : lại c̣n, lại nữa, từ chối, rồi th́, lùi bước. . .

 - sẩn  : mỉm cười, chê cười, chê bai, giễu cười. . .

 - Triệu vương bích 趙王璧 : theo sách của Hàn Phi tử, nguyên viên ngọc của vua Triệu Huệ Văn vương là viên ngọc do người họ Ḥa t́m được dâng lên cho Sở Lệ vương bị thợ ngọc của vua cho là không phải ngọc nên bị tội lừa dối vua phải chặt chân trái của người này. Lệ vương mất, Sở Vũ vương nối ngôi. Họ Ḥa lại dâng ngọc lên vua và lại bị thợ ngọc triều đ́nh cho là không phải ngọc thật nên phải tội chém chân phải c̣n lại. Khi Sở Văn vương làm vua, họ Ḥa ôm ngọc khóc ba ngày trên núi. Tiếng đồn đến vua nên vua cho người hỏi lư do. Họ Ḥa mới nói rằng ông bị hai vua trước chặt chân v́ những thợ ngọc trước đây không biết đây là ngọc bích thật coi họ Ḥa là kẻ lừa dối vua nên đau đớn mà khóc v́ không có người dưới trời biết đâu là ngọc bích thật ! Văn vương cho t́m thợ ngọc giỏi xem lại quả đúng là ngọc thật và quư hiếm nên ban thưởng và cho đặt tên ngọc là "Ḥa thị bích 和氏璧 " (Ngọc bích họ Ḥa), xem đây là quốc bảo. Theo các cuộc chinh chiến, giành giật lănh thổ thời Chiến Quốc, viên ngọc lưu chuyển từ vua Sở qua nước Triệu rồi vua Tần lại muốn chiếm đoạt nên bày chuyện đổi 15 thành tŕ lấy viên ngọc nhưng nhờ Lạn Tương Như tài giỏi mới giữ được một thời gian. Về sau, nhà Tần thôn tính nước Triệu, viên ngọc rơi vào tay các vua Tần. Khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, viên ngọc được cho đem khắc chạm để thành ngọc ấn truyền ngôi giữ nước cho các vua đời sau gọi là "Truyền quốc ngọc tỷ " Nhưng rồi nhà Tần giữ ngôi chưa bao lâu bị lật đổ, ấn ngọc bích này lại lưu lạc qua nhiều đời vua Trung Hoa về sau...

 - truy  : màu đen thâm, lụa thâm, nhuộm đen. . .

 - lân  : mài giũa, nước chảy qua khe đá. . . .

 - trinh chân 貞真 : nguyên vẹn và đích thực, chắc chắn là thật. . .

 - lưu tục 流俗 : lưu giữ lại những thói quen, phong tục, truyền lại thói tục. . .

 - thác ngộ 錯誤 : nhầm lẫn, lẫn lộn, sai lầm. . .

 - khởi tri 豈知 : há không biết, sao biết được, làm sao hay được. . .

 

 

 

 

 BÀI 67

 

 

 古風 其五十一

 

CỔ PHONG KỲ NGŨ THẬP NHẤT

 

 1 殷後亂天紀, Ân hậu loạn thiên kỷ,

 楚懷亦已昏。 Sở hoài diệc dĩ hôn.

 夷羊滿中野, Di dương măn trung dă,

 4 菉葹盈高門 Lục thi doanh cao môn.

 比干諫而死, Bỉ can gián nhi tử,

 屈平竄湘源 Khuất B́nh thoán Tương nguyên.

 虎口何婉孌, Hổ khẩu hà uyển luyến,

 8 嬃空嬋媛 Nữ tu không thiền viên.

 彭咸久淪沒, Bành Hàm cửu luân một,

 10 此意與誰論。 Thử ư dữ thùy luân.

 

 李白 Lư Bạch

 

 

 

 Dịch nghĩa

 

 Cổ phong

bài thứ năm mươi mốt.

 

 Sau nhà Ân, loạn lạc xảy ra ngày đêm làm đảo lộn các giềng mối kỷ cương. Nước Sở bao trùm (nhiều lănh thổ) sau rồi đi vào tăm tối ! Những bọn mọi rợ, dê cừu đông đảo khắp vùng đồng nội ! Cỏ lục, cỏ thi tràn đầy nơi nhà quyền thế ! (C. 1-4).

 Đến lúc người phạm tội can gián nên phải chịu chết ! Khuất B́nh bị đày đi tới ngọn nguồn ḍng nước sông Tương. Miệng loài cọp sao lại xinh xắn thế này ? Người chị gái uổng phí sự xinh đẹp kia ! (C. 5-8). Bành Hàm về lâu về dài rồi cũng không c̣n nữa. Ư này sẽ cùng ai bàn bạc đây ?! (C. 9-10).

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 CỔ PHONG
BÀI THỨ NĂM MƯƠI MỐT.

 

 1 Sau Ân giềng mối rối bời,

 Sở bao trùm khắp sau rồi muội mê !

 Trong đồng, đông đảo man dê,

 4 Nhà giàu cỏ lục, cỏ thi đầy tràn.

 Kịp khi phạm tội can ngăn,

 Khuất B́nh nguồn nước Tương giang đi đày.

 V́ sao miệng cọp xinh thay? !

 8 Xinh tươi của chị chỉ rày uổng công !

 Bành Hàm rồi cũng thân vong !

 10 Ư này bàn bạc với cùng ai đây ? !

 

 Chú thích :

 

 - Ân  : c̣n gọi là triều Thương Ân 朝商殷 ( 1766-1122 TCN) là một triều đại lớn trong lịch sử Trung Hoa tiếp nối nhà Hạ khởi đầu do vua Thành Thang và kết thúc triều đại bởi ông vua tàn ác là Trụ vương bị diệt bởi nhà Chu. Thời vua Bàn Canh (1401-1374 TCN )nhà Thương dời đô về đất Ân nên gọi là nhà Ân - thiên  : ông trời, bầu trời, ban ngày, ngày và đêm. . . .

 - kỷ  : kỷ cương, giềng mối, trật tự, gỡ rối ren, gỡ đầu mối, gỡ tơ rối, ghi chép, hội họp, 12 năm goi là một kỷ. . . .

 - Sở  : Sở là một nước hùng mạnh sau thời Xuân Thu, Trung Hoa. Tổ tiên của nhà Sở là Dục Hùng sau đổi thành họ Hùng, là thầy dạy Chu Văn vương và có công trong việc dẹp nhà Ân của Trụ vương nên con cháu được làm quan trong triều. Đến thời của Hùng Dịch được nhà Chu Thành vương phong là Sở tử xem như chư hầu nhà Chu và ban cho đất Kinh để trấn giữ, lấy Đan Dương làm kinh đô. Đến thời Sở Hùng Cừ (khoảng 877 TCN), thế lực nhà Tây Chu bắt đầu suy yếu nên tự phong là Sở vương nhưng do thế lực nhà Chu chưa phải hoàn toàn suy yếu nên Hùng Cừ xin trở lại làm chư hầu và triều cống như trước. Năm 704 TCN, Hùng Thông ( 741-690 TCN) thấy thế lực nhà Chu suy yếu thực sự nên lại tự xưng vương lần thứ hai tức Sở Vũ vương trở thành một nước hùng mạnh trong thời Chiến Quốc, nhất là thời của Sở Trang vương (614-591 TCN), nước Sở xưng bá. Đến thời Sở Uy vương về sau, Sở và Tấn tranh chấp, đánh nhau liên tục gây ra loạn lạc khắp nơi. Năm 299 TCN, Sở Hoài vương v́ không nghe lời can gián của các quan trong triều trong đó có Khuất B́nh (tức Khuất Nguyên) đă theo lời dụ dỗ của Trương Nghi qua Tần phó hội bị giữ lại rồi chết ở Tần (296 TCN). Năm 224 TCN Sở bị nhà Tần thôn tính và Tần Thủy hoàng thống nhất Trung Hoa.

 - hoài  : lo nghĩ, lo lắng, nhớ, ôm vào, chứa đựng, bao trùm, ḷng tận t́nh. . . .

 - diệc dĩ hôn 亦已昏 : rồi sau đó đi vào hôn ám ; rồi sau đó mê muội, tăm tối. . . .

 - di  : chỉ các dân tộc phía đông Trung Hoa thời nhà Ân Thương 殷商, ( tức Sơn Đông, Giang Tô ngày nay). Về sau phiếm chỉ các dân tộc ở phía tây bắc, đông nam, đông và nam Trung Hoa với thái độ khinh miệt các dân tộc ở ngoài "Trung Nguyên" 中原 (Trung Hoa ). Họ xem các dân tộc khác người hán là "Man di nhung địch" 蠻夷戎狄. Ngày nay, thái độ này vẫn c̣n trong cách nh́n của người "Trung quốc hậu bối" đối với các dân tộc yếu thế bị họ giành giật lănh thổ hay dùng đủ mọi thủ đoạn chi phối, gây ảnh hưởng ! Di dương   : bọn dê cừu man di mọi rợ theo cách gọi miệt thị và trịch thượng của người Trung Hoa xưa như đă tŕnh bày ở trên.

 - lục thi 菉葹 : loại cỏ có mùi thơm trồng trong nhà quyền quư. Ly Tao 離騷 của Khuất Nguyên có câu: Tư lục thi dĩ doanh thất hề 資菉葹以盈室兮"(Nơi giàu có, cỏ thi xanh mướt tràn đầy nơi các pḥng hề ! ; tư : của cải, vốn liếng, có của để dành, giàu có. . . . )

 - cao môn 高門 : chỉ nhà cao cửa lớn của các quan lại, các nhà quyền quí, giàu có. . .

 - can gián 干諫 : can : can dự, phạm tội, cái thuẫn để đỡ, bờ sông, bến nước, khô cạn (can hạn), cầu mong. . . ; gián : cản ngăn, can gián. Can gián chỉ việc phạm tội ngày xưa khi can ngăn những ư đồ tính toán chính trị của vua chúa.

 - Khuất B́nh 屈平 : tên thực của Khuất Nguyên 屈原 (340-278 TCN) tự là Linh Quân 霛均 là người trong hoàng tộc nước Sở thời Chiến Quốc bên Trung Hoa, giữ chức Tả đồ triều vua Sở Hoài vương. Với tài học rộng, giỏi văn chương thi phú, ông được vua tin dùng. Nhưng trong triều nhiều kẻ lại ghen tài t́m cách nói xấu ông với vua nên vua Sở cũng giảm đi việc tin dùng. Khi Trương Nghi dùng ba tấc lưỡi đi du thuyết, mời nước Sở hợp tung với Tần và qua Tần phó hội, Khuất Nguyên cùng một số triều thần can ngăn nhưng Sở Hoài vương không nghe, rồi bị Tần bắt giữ và chết ở Tần. Do thái độ gièm pha và ganh ghét của các quan trong triều, ông buồn rầu, lo nghĩ nên viết Ly Tao (trong Sở Từ 楚詞), Thiên Vấn. . . . v. . . vv. . . để bày tỏ ḷng ḿnh. Về sau, ông bị Sở Tương vương đày đi Giang Nam, phía nam Dương Tử Giang. Ông buồn sầu thất chí nên đi đến ḍng Mịch La, một nhánh của Tương Giang, làm bài Hoài Sa Phú rồi ôm phiến đá nhảy xuống sông tự tử nhằm ngày mồng năm tháng năm. Về sau, người Trung Hoa lấy ngày này gọi là Tết Đoan Ngọ 端午 để kỷ niệm một con người đoan chính như Khuất Nguyên. ( Bên nước ta do có thời kỳ bị Trung Hoa xâm lược và đô hộ lâu dài nên đă chịu ảnh hưởng nặng nề các h́nh thức văn hóa của người Hoa, trong đó có Tết Đoan Ngọ (mồng 5 tháng năm). Đúng ra, chúng ta nên làm lễ kỷ niệm trang trọng và thật xứng đáng những anh hùng dân tộc đă có công lớn và hy sinh cho việc giữ nước như Hai Bà Trưng, Lư Thường Kiệt, Trần B́nh Trọng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi. Quang Trung, Nguyễn Thái Học. . . v. . . v. . . hầu giáo dục và nâng cao tinh thần yêu nước đang bị xói ṃn hiện nay thay v́ tổ chức ăn Tết Đoan Ngọ của người Hoa không dính dáng ǵ đến lịch sử và văn hóa dân tộc ! )

 - uyển luyến 婉孌 : dáng vẻ xinh tươi yểu điệu của người con gái đẹp, vẻ mềm mại đáng yêu. . .

 - nữ tu  : người chị gái, người con gái.

 - không  : trống rỗng, bầu trời, vắng vẻ, vô ích, uổng công, suông hảo. . . .

 - thiền viên 嬋媛 : người con gái xinh đẹp. Câu "Nữ tu không thiền viên 嬃空嬋媛 " của bài Cổ Phong này, Lư Bạch đă lấy ư trong bài thơ Ly Tao 離騷 của Khuất B́nh (Khuất Nguyên) :" Nữ tu chi thiền viên hề 嬃之嬋媛兮 "( Người con gái xinh đẹp chừ ! -câu 129) nhưng dùng chữ "không" thay chữ "chi" nên nghĩa rơ ràng và sâu sắc hơn : Người con gái (chị gái) xinh tươi uổng phí kia ! Có lẽ Lư Bạch muốn nói đến cái chết với tiết khí thanh cao đẹp đẽ của con người Khuất B́nh rồi cũng chỉ uổng công, vô ích trước bọn quần thần ghen ghét, siểm nịnh đời nào cũng đầy khắp. . . . . . Lư Bạch mượn ư của họ Khuất để ca ngợi tác giả của Ly Tao rất được các văn nhân về sau rất quư trọng.

 - Bành Hàm 彭咸 : tên một hiền sĩ thời Thương Ân v́ can gián vua Trụ không được nên ôm đá tự trầm để giữ khí tiết ! Lư Bạch cũng lấy cách sống của nhân vật này trong Ly Tao của Linh Quân :" Nguyện y Bành Hàm chi di tắc 願依彭咸之遺則 " ( Nguyện nương theo Bành Hàm với khuôn phép để lại của ông -câu 76 )và "Ngô tương ṭng Bành Hàm chi sở cư 吾將從彭咸之所居 " ( Ta sẽ theo cùng Bành Hàm ở cách ăn ở - câu cuối 373) để nói về cái chết của Khuất Nguyên đă noi theo cách sống của Bành Hàm.

 

 

 

 

 BÀI 68

 

 

 古風 其五十二

 

CỔ PHONG KỲ NGŨ THẬP NHỊ

 

 1 青春流驚湍, Thanh xuân lưu kinh thoan,

 朱明驟回薄。 Chu minh sậu hồi bạc.

 不忍看秋蓬, Bất nhẫn khán thu bồng,

 4 飄揚竟何托。 Phiêu dương cánh hà thác.

 光風滅蘭蕙, Quang phong diệt lan huệ,

 白露洒葵藿。 Bạch lộ sái quỳ hoắc.

 美人不我期, Mỹ nhân bất ngă kỳ,

 8 草木日零落。 Thảo mộc nhật linh lạc.

 

 李白 Lư Bạch

 

 

 

 Dịch nghĩa

 

 Cổ phong

bài thứ năm mươi hai.

 

 Tuổi xuân xanh như ḍng nước chảy xiết kinh hoàng ! Giàu sang phú quí mang vẻ hào nhoáng mau chóng quay về với nhạt nḥa, tàn phai ! Không cầm ḷng khi nh́n thấy những đám cỏ bồng rối bời trong mùa thu sao cứ bị gió thổi bay bổng lên măi. (C. 1-4).

 Ánh sáng và những cơn gió đă làm tan tác đám hoa lan, hoa huệ ! Sương móc trắng trải làn nước lên đám hoa quỳ và lá dâu. Người đẹp không trông chờ ta đâu ! Cỏ cây lúc ban ngày đă héo úa, rụng rơi. (C. 5-8 ).

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 CỔ PHONG
BÀI THỨ NĂM MƯƠI HAI.

 1 Tuổi xuân ḍng chảy kinh hoàng !

 Giàu sang, sáng nhoáng chóng tan mất rồi.

 Bồng thu chẳng nỡ trông vời,

 4 Gió sao thổi suốt rối bời tung bay !

 Huệ, lan dáng vẻ tàn phai,

 Đám sương móc trắng rải bày quỳ, dâu.

 Người xinh chẳng hẹn ta đâu !

 8 Ban ngày cây cỏ héo sầu rụng rơi !

 

 Chú thích :

 

 - thanh xuân 青春 : tuổi xuân xanh, mùa xuân, tuổi trẻ. . .

 - lưu kinh thoan 流驚湍 :ḍng nước chảy xiết đáng kinh sợ, ḍng nước xiết kinh hoàng. . . .

 - chu minh 朱明 : chu : màu đỏ biểu tượng cho các nhà quyền quí, giàu có (chu môn 朱顏 ), đẹp đẽ quư phái (chu nhan 朱顏 ). Chu minh :vẻ hào nhoáng, sáng sủa của sự giàu sang phú quư. . . . .

 - sậu  : mau chóng, bỗng nhiên, chợt, bất ngờ, , vội vàng, ngựa chạy mau. . .

 - bất nhẫn 不忍 : không nỡ ḷng nào, không cam ḷng. . . .

 - thu bồng 秋蓬 : cây cỏ bồng vào mùa thu chết khô, gió thổi bay tung rối mù, nên cũng gọi là "phi bồng 飛蓬. " 

 - phiêu dương 飄揚 : gió thổi bay tung lên, gió thổi bay bổng, gió phấp phới. . .

 - cánh : xong, cuối cùng, măi, suốt, trọn, mà lại, trực tiếp. . . .

 - thác  : tung lên, nâng lên, bày ra, cái khay bưng đồ, nhờ, gửi, từ chối. . . .

 - phong quang 光風 : cảnh tượng, phong cảnh, phẩm cách. . .

 - sái  : rảy nước, tẩy rửa, sửng sốt, bỗng nhiên, tiêu sái tự tại. . .

 - kỳ  : trông chờ, ước hẹn, mong mỏi, hạn kỳ, một khoảng thời gian, kỳ hẹn. . . .

 

 

 

 

 

 BÀI 69

 

 

 古風 其五十三

 

CỔ PHONG KỲ NGŨ THẬP TAM

 

 1 戰國何紛紛, Chiến Quốc hà phân phân,

 兵戈亂浮雲。 Binh qua loạn phù vân.

 趙倚兩虎斗, Triệu ỷ lưỡng hổ đẩu,

 4 晉為六卿分。 Tấn vi lục khanh phân.

 奸臣欲竊位, Gian thần dục thiết vị,

 樹黨自相群。 Thụ đảng tự tương quần

 果然田成子, Quả nhiên Điền thành tử, .

 8 一旦殺齊軍. Nhất đán sát Tề quân.

 

 李白 Lư Bạch

 

 

 

 Dịch nghĩa :

 

 Cổ phong

bài thứ năm mươi ba.

 

 Thời Chiến Quốc sao lại bị chia tách khắp nơi nơi !? Binh đao, loạn lạc như mây nổi. Nước Triệu dựa vào hai con hổ cao lớn (như sao bắc đẩu). Nước Tấn bị sáu quan lớn trong triều đ́nh gây nên sự chia rẽ, phân hóa ! (C. 1-4).

 Bọn gian thần mong muốn chiếm địa vị quyền hành, đă dựng ra các bè đảng cùng tụ họp với nhau ! Đúng như thế, Điền Văn thành kẻ chịu chết dí (không làm ǵ được nữa ). Một sớm ngày nào đó, quân Tề đă bị tàn sát (C. 5-8).

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 

 CỔ PHONG

BÀI THỨ NĂM MƯƠI BA.

 

 1 Cớ sao Chiến quốc rối bời ?!

 Chẳng yên loạn lạc, tơi bời binh đao !

 Triệu nhờ hai hổ trên cao,

 4 Triều nhà Tấn lại chia vào sáu quan !

 Chiếm quyền ham hố quan gian !

 Hùa theo dựng đảng, vầy đàn với nhau.

 Điền thành kẻ chết, đúng nào !

 8 Quân Tề bị giết sớm nao có ngày !

 

 Chú thích :

 

 - Chiến quốc 戰國 : xem chú thích ở trên (Bài thứ )

 - phân phân 紛紛 : khắp nơi, chỗ nào cũng có, rất nhiều. . . . (phân : rối ren, lộn xộn, không ổn định. . . )

 - phù vân 浮雲 : mây trôi nổi, không bền vững, không được yên ổn. . .

 - lưỡng hổ đẩu 兩虎斗 : hai con hổ cao lớn, hai con hổ trên cao. . . . Đây chỉ Lạn Tương Như 蔺相如 và Liêm Pha 廉頗, hai người đứng đầu hàng văn quan và vơ quan của nước Triệu. Lạn Tương Như xuất thân làm môn khách của hoạn quan Mục Hiền. Ông một người uy dũng và mưu trí đă một lần tính kế để giúp Mục Hiền thoát tội chết với vua Triệu Huệ Văn vương. Cũng thời vua này, nước Triệu có được viên ngọc bích họ Ḥa rất quư báu và nổi tiếng (xem C. T. bài 66 ở trên). Tần Chiêu vương nghe tin cho sứ sang Triệu xin đổi 15 thành lấy viên ngọc bích họ Ḥa này. Vua Triệu cùng tướng quân Liêm Pha và quần thần chỉ sợ vua Tần nói dối lừa lấy ngọc mà không giao thành. Nhưng nếu không đem ngọc sang cũng sẽ bị Tần đem binh đánh Triệu. Triều đ́nh nước Triệu chưa biết tính kế nào cho vẹn toàn th́ hoạn quan Mục Hiền xin tiến cử Lạn Tương Như. Vua Triệu cho mời họ Lạn vào bàn tính và Tương Như nói chắc rằng ông sẽ đi sứ để lo liệu, nếu không được giao 15 thành như vua Tần đă hứa th́ ngọc bích họ Ḥa cũng nhất định không trao cho Tần. Lạn Tương Như đem ngọc qua Tần vào bái kiến Tần Chiêu vương. Vua Tần mừng rỡ xem ngọc rồi đưa cho các cung tần sủng ái cùng xem mà không đả động đến việc giao thành. Lạn Tương Như thấy vua Tần không thực ḷng bèn lấy cớ chỉ cho vua thấy chỗ bị rạn trên mặt ngọc rồi ôm ngọc đứng gần trụ cột nói là nếu vua không thực sự trao thành ông sẽ đập đầu vào cột để chết và đập tan ḥn ngọc. Tả hữu nh́n ông như muốn ăn tươi nuốt sống. Vua Tần tiếc ngọc nên đồng ư theo điều kiện của Tương như đưa ra là phải thành tâm trai giới năm ngày mới được giao ngọc đổi thành. Tuy nhiên, Lạn Tương Như đoán biết vua Tần không thực ḷng nên sai bộ hạ đang đêm đem ngọc đưa lại về cho vua Triệu. Đến ngày giao ngọc, vua cho làm lễ cửu tân trịnh trọng. Lạn Tương Như đứng giữa triều nhà Tần dơng dạc nói là Triệu là một nước nhỏ sẵn sàng vâng phục nước lớn như Tần nhưng kinh nghiệm cho thấy từ trước đền nay các vua Tần thường không giữ lời nên nếu Tần thực sự giao thành th́ bên Triệu sẽ đem ngọc dâng sau. Vua Tần và các quan rất tức giận nhưng v́ muốn giữ mối giao hảo tốt đep nên vẫn cho tiếp đăi đoàn sứ nhà Triệu tử tế và cho phép về lại Triệu. Nhờ có công lớn, sau chuyến sứ tŕnh này Lạn Tương Như được vua Triệu xếp vào hàng Thượng đại phu. Về sau, cũng trong một chuyến tháp tùng vua qua Tần để nghị ḥa ở Dẫn Tŕ, Tây Hà là vùng đất do nhà Ngụy cắt dâng Tần năm 352 TCN. Nhờ tài đối đáp, ứng biến và dũng khí của ông nên vua Triệu Huệ Văn vương tránh được sự lăng nhục của vua Tần và nhờ đạo quân đi theo vững vàng đă giữ được tính mạng về lại Triệu. Vua Triệu một lần nữa cất nhắc ông lên hàng Thượng khanh, đứng hàng đầu triều và trên cả vơ tướng nhiều công trạng là Liêm Pha. Tướng Liêm Pha rất tức tối chuyện này v́ nghĩ ḿnh cũng có công lớn và xuất thân quyền quư không như họ Lạn. Lạn Tương Như khi ngồi xe đi trên các con đường trong thành vẫn cho xe tránh mặt Liêm Pha. Người đi theo họ Lạn không bằng ḷng xem đó là thái độ hèn yếu, không xứng với cốt cách và địa vị của ông. Lạn Tương Như nói cho tả hữu biết rằng, nước Triệu sở dĩ được yên b́nh v́ nhà Tần biết Triệu có "lưỡng hổ" giữ vững bờ cơi, việc tránh sự làm nhục của Liêm Pha cốt để giữ ḥa khí và nội bộ trong nước được yên ổn mới mong dồn sức đối phó nhà Tần. Chuyện này đến tai Liêm Pha. Liêm Pha thấy rơ cái sai của ḿnh nên cởi áo để trần, tự trói và mang roi đến dinh phủ của Lạn Tương Như xin tạ tội. Hai người từ đó thân thiết với nhau đă giúp nước Triệu được yên ổn một thời gian dài. . . . .

 - đẩu  : vượt lên trên, vượt trội, cao hơn hết, cao lớn, đột nhiên, sao bắc đẩu, bé nhỏ. . . .

 - lục khanh 六卿 : sáu chức quan khanh coi sáu bộ thời nhà Chu gồm :Thiên quan trủng tể 天官冢宰, Địa quan tư đồ 地官司徒, Xuân quan tông bá 春官宗伯, Hạ quan tư mă 夏官司馬, Thu quan tư khấu 秋官司寇, Đông quan tư không 冬官司空. Về sau được gọi gọn gàng hơn : quan Thái tể, Đại tư đồ, Đại tư bá, Đại tư mă, Đại tư khẩu và Đại tư không, tương tự sáu chức Thượng thư của lục bộ (sáu bộ)về sau. Nước Tấn bị chia rẽ nội bộ do sự tranh giành quyền lực của lục khanh làm cho suy yếu thành ra ba nước nhỏ là Hàn, Triệu, Ngụy rồi bị Tần tiêu diệt.

 - thiết vị 竊位 : chiếm lấy địa vị, giành lấy ngôi vị cấp bậc, chiếm quyền. . . .

 - đảng  : bè lũ, bè đảng, bọn hùa theo a dua, bè nhóm gầy dựng cho lợi ích riêng tư hay cho một mục đích cao hơn.

 - quả nhiên 果然 : quả thực, đúng như thế, đúng là, no bụng ( cách nói của nhà thơ Bạch Cư Dị). . . .

 - Điền  : ở đây Lư Bạch muốn nói sự bó tay, phải chịu chết dí ( thành tử 成子 : thành ra phải chịu chết ) của Mạnh Thường Quân Điền Văn sau khi vua Tề nghe lời sàm tấu của bọn quan siểm nịnh truất quyền tể tướng của ông khiến ông phải lánh sang nước Ngụy rồi sau khi về già, ông trở lại ấp Tiết rồi chết nơi ấp được phong này. Trước đó, Điền Văn đă liên kết, hợp tung với quân Tề cùng Ngụy và Hàn (năm 298 TCN) đánh đuổi quân Tần đến tận ải Hàm Cốc lần thứ nhất. Rồi năm kế tiếp ( 297 TCN ), ông cầm quân ba nước Tề, Ngụy, Hàn tấn công quân Tấn đẩy họ tới cửa ải Hàm Cốc, nơi từ đó tiến vào trung thổ của họ, chiếm được thành Diêm Thị. Nhưng do Tề Mẫn vương thiếu sáng suốt lại tự cao tự đại sau khi diệt Tống (286 TCN) cũng như nghe lời bọn siểm nịnh cho ông có ư làm phản nên muốn giết Mạnh Thường Quân, khiến ông phải lánh sang nước Ngụy. Từ khi, ông rời Tề, coi như người đă bị chết dí không làm ǵ được để đối phó với Tần, Yên. . nên quân Tề bị thua liên miên mất hết các thành tŕ sau khi Yên Chiêu vương liên kết với Tần, Ngụy, Hàn để rửa mối thù cũ do Tề Mẫn vương đă đem quân đánh phá Yên trước đây( 315 TCN), Tề mất hết bảy mươi thành chỉ c̣n giữ được thành Cử và Tức Mặc. Nhờ tài trí của Điền Đan 田單 từ dân thường do có nhiều mưu lược được đề cử lên làm tướng nên không những giữ vững hai thành c̣n lại mà lần lượt lấy lại bảy mươi thành đă mất nhưng nước Tề cũng thiệt hại nhân vật lực rất nhiều không được hùng mạnh như trước nữa để cuối cùng bị Tần Thủy hoàng lần lượt tóm thâu Ngụy, Hàn, Triệu, Yên, Tề thống nhất Trung Hoa (221 TCN)

 - nhất đán 一旦 : một sớm mai nào đó, một ngày nào đó, một mai nào, ngày (nguyên đán ). . .

 

 

 

 

 

 BÀI 70

 

 

 古風 其五十四

 

CỔ PHONG KỲ NGŨ THẬP TỨ

 

 1 倚劍登高臺, Ỷ kiếm đăng cao thai,

 悠悠送春目。 Du du tống xuân mục.

 蒼榛蔽層丘, Thương trăn tế tằng khâu,

 4 瓊草隱深谷。 Quỳnh thảo ẩn thâm cốc.

 鳳鳥鳴西海, Phượng điểu minh tây hải,

 欲集無珍木。 Dục tập vô trân mộc.

 鷽斯得所居, Hạc tư đắc sở cư,

 8 蒿下盈萬族。 Hao hạ doanh vạn tộc.

 晉風日已, Tấn phong nhật dĩ đồi,

 10 窮途方慟哭。 Cùng đồ phương đỗng khốc.

 

 李白 Lư Bạch

 

 

 

 Dịch nghĩa :

 

 Cổ phong

bài thứ năm mươi bốn.

 

 Tựa vào cây kiếm leo lên đài cao, mắt nh́n phía xa xa tiễn đưa mùa xuân ra đi. Những bụi cỏ gai màu xanh thẫm đă che khuất các tầng lớp g̣ đồi ; cây hoa quỳnh ẩn giấu trong hang núi sâu. (C. 1-4) Con chim phượng kêu lên nơi biển phía tây muốn đậu trên cây không phải loại quư hiếm ! Con chim khách kia có được chỗ ở riêng biệt để trông xuống đầy đủ muôn ngàn ḍng tộc ! (C. 5-8) Lề thói, phong tục tốt đẹp của nhà Tấn ngày càng suy đồi ! Bước đường cùng cũng đến lúc phải gào khóc thôi ! (C. 9-10)

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 

 CỔ PHONG

BÀI THỨ NĂM MƯƠI BỐN.

 

 1 Đài cao tựa kiếm leo lên,

 Tiễn xuân mắt dơi về miền xa xôi !

 Gai xanh che mấy lớp đồi,

 4 Cỏ quỳnh ẩn lánh khe ng̣i hang sâu.

 Biển tây chim phượng kêu gào,

 Mong cây không quí đậu vào nơi đây.

 Con chim khách ở riêng tây,

 8 Dưới kia muôn tộc đủ đầy xa trông !

 Thói lề nhà Tấn suy vong,

 10 Khóc than đang bước đường cùng đó thôi !

 

 Chú thích :

 - du du 悠悠 : trông xa, xa xôi, dài dằng dặc, vô tận, nhàn tản, thong dong, liên miên, bất tận. . .

 - thương trăn 蒼榛 : sắc cỏ xanh thẫm của các bụi cây trăn, một giống cây gai hoang mọc thành bụi um tùm nên chữ trăn cũng có nghĩa là vướng vít, gai góc, um tùm. . .

 - tế  (phất ) : che lấp, khuất lấp, che đậy, xử quyết, bức rèm xe. . . . .

 - tằng khâu 層丘 : các g̣ đồi từng lớp chập chùng. . . .

 - quỳnh thảo瓊草 : cây cỏ quỳnh, một loại cây quí hiếm. Riêng nghĩa của quỳnh có bộ ngọc là loại ngọc quí tên ngọc quỳnh. Ở đây Lư bạch muốn nói đến những bậc ẩn sĩ đạo cao đức trọng lánh đời nơi chốn khe ng̣i, hang động sâu trong núi, họ như hoa quỳnh, ngọc quí tránh xa những phù phiếm của cuộc sống. . . . . .

 - tập  : đậu trên cây, tập họp, hội họp, đông đúc, góp lại, thi tập hoặc văn tập. . . . .

 - vô trân mộc 無珍木 : loài cây không phải loại quư hiếm.

 - hạc  : con chim khách, con chim bồ cắc rừng, chim dáng dấp tựa chim sẻ (hạc cưu).

 - tư  : riêng tư, riêng tây, chia tách ra, này, bèn, th́. . . .

 - hạo  : cỏ ngăi (thanh hao, bạch hao. . . ), trông xa. hao hụt, tiêu hao, khí bốc lên.

 - tộc  :ḍng dơi thân thuộc, các ḍng họ, loài nhóm, tiêu diệt. . . .

 - Tấn phong 晉風 : lề thói, phong tục nước Tấn thời Chiến Quốc. Nước Tấn thường được gọi là Đường Quốc 唐國(khác với nhà Đường của thời Lư Bạch ) do Chu Thành vương nhà Chu phong đất cho Đường Thúc Ngu, sơ tổ nhà Tấn. Về sau nước Tấn lớn mạnh trong thời Chiến quốc và có lúc thời Tấn Văn công là một trong những xưng là "ngũ bá" đương thời. Nhưng do triều thần chia rẽ, lập bè phái quanh sáu đại thần đầu triều (lục khanh) lấn lướt quyền vua nên đến thời Tấn Xuất công nước Tấn bị diệt vong, nổi lên ba nước nhỏ là do các ḍng họ Hàn, Triệu, Ngụy lập nên. Năm 403 TCN, Chu Uy Liệt vương quyết định phong hầu cho ba quan khanh nước Tấn ( sau cái chết của vị vua cuối cùng là Tấn Tĩnh công) là Hàn Kiền, Ngụy Tịch và Triệu Tư lên hàng chư hầu thành lập ba nước Ngụy, Hàn, Triệu chấm dứt hơn năm trăm năm tồn tại của nước Tấn (376 TCN) Sau này, lại xuất hiện nhà Tây Tấn 西晉 doquyền thần nhà Ngụy là Tư Mă Ư lập nên (316 -266 TCN). . . . Lư Bạch rất chú ư sự suy tàn của nhà Tấn do các quan đại thần tranh giành địa vị, quyền lợi gây ra sự xáo trộn, bại hoại, mất kỷ cương trong xă hội lan tràn khắp nhiều nước bấy giờ tạo nên một lề thói không tốt cho việc ổn định. . . . .

 - đỗng khốc 慟哭 : khóc gào, khóc lớn tiếng, than khóc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

DƯƠNG ANH SƠN
Sài G̣n,
03/2018

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |          www.ninh-hoa.com