trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |          www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

  

 

Thơ LƯ BẠCH

DƯƠNG ANH SƠN

 

 

 
 

 

 BÀI 58

 

 

 古風 其十四

 

CỔ PHONG KỲ THẬP TỨ

 

 

 1 胡關饒風沙, Hồ quan nhiêu phong sa,

 蕭索竟終古。 Tiêu sách cánh chung cổ.

 木落秋草黃, Mộc lạc thu thảo hoàng,

 4 登高望戎虜。 Đăng cao vọng Nhung Lỗ.

 荒城空大漠, Hoang thành không đại mạc,

 邊邑無遺堵。 Biên ấp vô di đổ.

 白骨橫千霜, Bạch cốt hoành thiên sương,

 8 嵯峨蔽榛莽。 Tha nga tế trăn măng.

 借問誰凌虐, Tá vấn thùy lăng ngược,

 天驕毒威武。 Thiên kiêu độc uy vũ.

 赫怒我聖皇, Hách nộ ngă thánh hoàng,

 12 勞師事鼙鼓。 Lao sư sự bề cổ.

 陽和變殺氣, Dương ḥa biến sát khí,

 發卒騷中土。 Phát tốt tao trung thổ.

 三十六萬人, Tam thập lục vạn nhân,

 16 哀哀淚如雨。 Ai ai lệ như vũ.

 且悲就行 , Thả bi tựu hành dịch,

 安得營農圃。 An đắc doanh nông phố,

 不見征戍兒, Bất kiến chinh thú nhi,

 20 豈知關山苦。 Khởi tri quan san khổ.

 李牧今不在, Lư Mục kim bất tại,

 22 邊人飼 豺虎. Biên nhân tự sài hổ.

 

 李白 Lư Bạch

 

 

 

 Dịch nghĩa :

 

 Cổ phong bài thứ mười bốn.

 

 Ải Hồ rất nhiều gió cát. Cảnh vật buồn bă vắng lặng,cây cỏ xơ xác suốt từ thuở xa xưa.Cây cối rơi rụng,cỏ thu úa vàng. Leo lên cao trông ngóng xem bọn giặc ở biên giới phía tây thế nào ! Thành tŕ hoang vắng trơ trọi ở vùng sa mạc rộng lớn. Các xóm ấp dân cư vùng biên giới không c̣n để lại bức tường nào ! Xương trắng đă (nhiều) ngang ngữa với hàng ngàn giọt sương giăng ! Dáng núi nhấp nhô cao ngất ngưỡng che khuất những bụi cây rậm rạp (C.4-8)

 Thử hỏi ai là kẻ xâm lấn bạo ngược !? Đó là bọn giặc trời kiêu ngạo,ác độc với oai phong mạnh mẽ,đáng nể sợ ! Bậc thánh thượng (vua) của ta giận dữ tơi bời !. Việc này khiến quân binh phải vất vả nhọc nhằn theo tiếng trống thúc quân.Đang êm ấm tươi vui ḥa b́nh biến ra chuyện rối ren giết hại chết chóc ! Bọn giặc khởi quân quấy phá vùng trung thổ. Ba mươi sáu vạn người buồn đau ngậm ngùi nước mắt như mưa tuôn Hăy theo ḷng sầu bi của người lính thú trong chuyến đi ra biên ải. Có được b́nh yên đâu để mưu cầu chuyện trồng trọt rau quả của nghề nông! (C.9-18)

 Có thấy chăng những lính thú trai tráng trẻ trung đi chống giặc ở xa. Há biết không

những nhọc nhằn khổ cực nơi núi non ngoài biên ải của họ? Tướng quân Lư Mục nay không c̣n nữa nên những người ở vùng biên giới làm mồi nuôi ăn cho bọn sói hùm !(C.19-22)

 

 Tạm chuyển lục bát

 

 CỔ PHONG BÀI THỨ MƯỜI BỐN.

 

 1 Nhiều thay gió cát ải Hồ,

 Cảnh buồn vắng vẻ xác xơ điêu tàn.

 Cây rơi,rụng lá thu vàng,

 4 Lên cao trông ngóng bọn Nhung Lỗ thù.

 Thành trơ,sa mạc hoang vu,

 Xóm làng biên giới c̣n chi vách tường !

 Giăng ngang xương trắng ngàn sương,

 8 Khuất che cây rậm vươn cao núi ngàn.

 Hỏi xem ai kẻ bạo tàn ?!

 Hiểm sâu thế mạnh ngang nhiên giặc trời !

 Vua ta giận dữ tơi bời,

 12 Nhọc nhằn trống trận thúc hoài quân binh.

 Biến thành chết chóc trời yên,

 Đem quân gây loạn trung nguyên rối bời.

 Ba mươi sáu vạn con người,

 16 Lệ như mưa trút tuôn rơi sầu buồn.

 Hăy theo lính thú xót thương,

 Yên lo sao được rau vườn nghề nông !

 Đi xa,trai trẻ thấy không ?!

 20 Nào hay cửa ải,núi non nhọc nhằn.

 Ngày nay Lư Mục c̣n chăng ?!

 22 Người nơi biên ải mồi ăn sói hùm !

 

 Chú thích :

 - Hồ quan 胡關 : cửa ải biên giới phía tây Trung Hoa ngày xưa để ngăn cản sự xâm nhập của người Hồ và chỉ chung các bộ tộc phía tây thường xuyên vào trung nguyên đánh phá thành tŕ người Hán.

 - nhiêu  :quá nhiều,dư thừa,đầy đủ,dồi dào,khoan dung,tha thứ,rộng ḷng...

 - tiêu sách 蕭索 : cảnh vật buồn hiu hắt, vắng lặng,cây cỏ úa tàn...

 - cánh  : suốt (cách nhật : suốt ngày ),cuối cùng,xong xuôi,trọn,truy cứu...

 - chung cổ 終古 : suốt từ xưa đến nay,măi măi c̣n,không dứt....

 - Nhung Lỗ 戎虜 : cách gọi miệt thị của người Hán nước Trung Hoa xưa đối với các bộ tộc ở phía tây (cả phía nam như nước Việt chúng ta trước kia dẫu chẳng hề muốn cướp phá đất đai của họ mà ngược lại...) thường vào trung nguyên đánh phá. Người Hán xem họ là dân man di nhung địch,thiếu văn minh,mọi rợ (lỗ : bọn giặc,kẻ thù địch,mọi rợ,tù binh binh bị bắt... (Lư Thường Kiệt 李常傑 : "Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?" 如何逆虜來侵犯 Cớ sao lũ giặc ngạo ngược bây lại sang xâm phạm?(Nam quốc sơn hà 南國山河).

 - vô di đổ 無遺堵 : di : để lại,mất, bỏ lại,thất lạc,đánh rơi...; đổ : bức tường,ngăn trở,lấp kín.....Không c̣n để lại vách tường nào !?

 - tha nga 嵯峨 :cao chót vót,cao ngất ngưỡng,dáng núi nhấp nhô....

 - trăn măng 榛莽 :bụi cây gai góc um tùm,rậm rạp,vướng vít...

 - lăng ngược 凌虐 :kẻ xâm phạm lại bạo nghịch tàn ác...

 - hách nộ 赫怒 :nổi giận dữ dội...

 - sư  : làm thầy, binh đoàn,quân binh...

 - bề cổ 鼙鼓 :trống nhỏ để vừa cưỡi ngựa,vừa đánh trống thúc quân.

 - phát tốt 發卒 :sai phái quân lính,khởi binh,gửi quân đi...

 - tao  : quấy phá,quấy nhiễu,uất ức,lo lắng,tao nhă,thanh tao...

 - ai ai 哀哀 : xót thương,buồn sầu,ngậm ngùi...

 - tựu  : theo,nên,nay là...

 - hành dịch  : làm lính thú đi trấn giữ cửa ải biên giới,làm lao dịch theo sự sai khiến,làm việc quân binh...

 - doanh  : mưu cầu,lo lắng cho công việc,nơi đóng quân,xây dựng,cai quản...

 - thú nhi 戍兒: người lính thú đi ra biên cương c̣n trai trẻ,c̣n nhỏ tuổi....

 - Lư Mục 李牧 : 290 – 229 TCN là một danh tướng của nước Triệu trong thời Chiến Quốc.

Lư Mục trấn thủ tại vùng biên giới ở Quận Đại, sau này có tên là Nhạn Môn Quan, để chống lại quân Hung Nô thường quấy phá phía tây.Nhờ chiến thuật "vườn không nhà trống" khi phe Hung Nô tấn công vùng biên cương nên đă làm cho quân địch hao tổn và nản ḷng. Trong khi đó ông huấn luyện quân lính giỏi bắn cung tên,cưỡi ngựa và thiện chiến chờ dịp đánh tan đại quân Thiền Vu khiến bọn họ phải nể sợ kiêng dè.Ông cũng giúp nhà Triệu nhiều lần đánh tan quân Tần.Về sau ông bị người trong triều ly gián khiến vua cho bắt ông đem xử tử....

 - tự  : làm mồi cho ăn,chăn nuôi...

 

 

 

 

 BÀI 59

 

 

 古風 其三十五

 

CỔ PHONG KỲ TAM THẬP NGŨ

 

 

 1 丑女來效顰, Xú nữ lai hiệu tần,

 還家驚四鄰。 Hoàn gia kinh tứ lân.

 壽陵失本步, Thọ Lăng thất bổn bộ,

 4 笑殺邯鄲人。 Tiếu sát Hàm Đan nhân. 一曲斐然子, Nhất khúc phỉ nhiên tử,

 鵰蟲喪天真。 Điêu trùng táng thiên chân. 

 棘刺造沐猴, Cức thứ tạo mộc hầu,

 8 三年費精神。 Tam niên phí tinh thần.

 功成無所用, Công thành vô sở dụng,

 楚楚且華身。 Sở sở thả hoa thân.

 大雅思文王, Đại nhă tư Văn vương,

 12 頌聲久崩淪。 Tụng thanh cửu băng luân.

 安得郢中質, An đắc Dĩnh trung chất, 14 一揮成斧斤。 Nhất huy thành phủ cân. 

 

 李白 Lư Bạch

 

 

 

 

 Dịch nghĩa :

 

 Cổ phong bài thứ ba mươi lăm.

 

 Cô gái nhan sắc xấu xí đến đây học đ̣i cách nhăn mặt chau mày.Khi trở về nhà đă làm cho láng giềng bốn bên kinh hăi ! Người làng Thọ Lăng (giống như thế ) cũng quên mất cách bước đi đă có từ trước (khiến cho) người( kinh đô) Hàm Đan cười chết bỏ ! Một khúc hát của kẻ văn hoa tao nhă đem chạm khắc,đục giũa,tô chuốc chẳng ra sao sẽ làm mất đi cái bản tính tự nhiên ; những gai góc khó khăn để gột rửa (thiên chân) lại thành ra con khỉ uổng phí ba năm suy tính ! (C. 1-8).

 Công lao để có thành quả đó không có chỗ dùng ! Chuốc bao khổ sở để sửa soạn cho thân ḿnh đẹp đẽ như khúc nhạc "Đại nhă nhớ Văn vương" với âm thanh tán tụng lâu ngày cũng sẽ ch́m đắm, tàn phai mất đi ! Sao được như phẩm chất trung thực của người đất Dĩnh.C̣n đây (như xú nữ hay chàng trai Thọ Lăng kia) một lần xoay chuyển thành ra chuyện búa ŕu (của việc chê trách) !

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 CỔ PHONG BÀI THỨ BA MƯƠI LĂM.

 

 1 Học đ̣i gái xấu nhăn mày,

 Bốn bên hàng xóm hăi thay về nhà !

 Thọ Lăng bước cũ quên đà,

 4 Người Hàm Đan nhạo chết sa nụ cười !

 Bài ca văn vẻ đẹp vời,

 Chạm tô khắc chuốt tính người mất toi !

 Khó khăn lại hóa khỉ thôi !

 8 Tinh thần hao phí uổng đời ba năm.

 Việc thành dùng có được chăng !

 Thân ḿnh làm đẹp nhọc nhằn chẳng sao !

 Văn vương Đại nhă nhớ nao,

 12 Ngợi ca măi sẽ về lâu phai tàn.

 Được như người Dĩnh ḷng thành,

 14 Hơn bao chê trách một lần ra tay !

 

 Chú thích :

 - hiệu tần 效顰: bắt chước,học đ̣i nhăn mày nhíu mặt.Đây là câu chuyện trích từ sách Trang Tử (mục Thiên Vấn) kể việc cô gái Đông Thi nhan sắc rất xấu thấy Tây Thi xinh đẹp nhăn mày nhíu mặt do đau ở ngực lại càng xinh đẹp hơn nên cũng học đ̣i bắt chước không biết rằng ḿnh vốn xấu xí khiến cho người trong làng sợ hăi,kinh dị phải tránh đi không dám ra đường.Thành ngữ Trung Hoa có câu Đông Thi hiệu tần (東施效顰), Đông gia hiệu tần (東家效顰) hay Xú nữ hiệu tần (醜女效顰) để chê cười những người không lượng được khả năng của bản thân thường học đ̣i,bất chước nhưng chẳng đạt kết quả,có khi lại tệ hơn. C̣n Tây Thi 西施, c̣n gọi là Tây Tử 西子, là một trong "Tứ đại mỹ nhân" 四大美人; đây là cụm từ để tả 4 người đẹp nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa gồm : Tây Thi, Vương Chiêu Quân, Điêu Thuyền và Dương Quư phi.Sắc đẹp của họ được mô tả theo thứ tự là: Tây Thi "Trầm ngư" (: cá thấy người đẹp phải ch́m sâu dưới nước); Vương Chiêu Quân "Lạc nhạn" (雁落 : chim nhạn thấy dáng mỹ nhân phải sa xuống đất); Điêu Thuyền "Bế nguyệt" (閉月: mặt trăng phải giấu ḿnh v́ sự xuất hiện của giai nhân) và Dương Quư phi "Tu hoa" (羞花: mỹ nhân khiến hoa cũng phải xấu hổ).....Tây Thi sống trong thời kỳ Xuân Thu, đứng đầu trong Tứ đại mỹ nhân của lịch sử Trung Hoa. Tương truyền, Tây Thi có nhan sắc "cá lặn" được Phạm Lăi tuyển chọn từ nước Việt đem về luyện tập cầm kỳ thi họa và nhiều tài năng khác để dâng cho vua Ngô là Phù Sai khiến vua mê đắm.Khi nước Ngô suy yếu do vua măi mê với sắc đẹp Tây Thi,Việt vương Câu Tiễn đă khởi binh giành lại đất nước khiến nhà Ngô diệt vong trả được thù xưa.....

 - Thọ Lăng 壽陵 : chuyện kể có chàng du tử,thích rong chơi ở làng Thọ Lăng nghe nói người ở

kinh đô Hàm Đan của nước Triệu đi đứng rất tao nhă nên t́m đến học đ̣i cách đi đứng, lâu ngày quên đi cách đi như hồi c̣n ở Thọ Lăng khiến người ở kinh đô Hàm Đan cười chế nhạo không biết giữ cái riêng của ḿnh !

 - phỉ nhiên tử 斐然子: người có dáng vẻ văn hoa nhă nhặn...

 - điêu  : chạm khắc,điêu khắc,măi giũa,chim điêu...

 - trùng  : chỉ chung các loài sâu bọ hay loài vật (VD ; tiểu trùng như sâu, kiến, ve, bướm...; đại trùng như cọp,beo...);cũng dùng có ư khinh thường,việc không ra sao,chẳng đáng bận tâm...

 - thiên chân 天真 : bản tính tự nhiên,bản tính đích thật của một con người...

 - cức thứ 棘刺 :gai nhọn đâm vào, chỉ việc khó khăn gian khổ...

 - tạo mộc 造沐 : gột rửa để làm ra một cái khác,tước bỏ cái cũ để tạo nên cái khác....

 - sở sở 楚楚 : khổ sở,đau đớn,cực khổ,chua cay...

 - thả  : sửa soạn,sắp sửa,mà lại,vả chăng,hăy thế,vội vàng vừa này vừa kia...

 - hoa thân 華身: thân thể xinh đẹp,vẻ đẹp bên ngoài của thân ḿnh...

 - Đại nhă 大雅 : xem chú thích bài 52 kỳ tháng 12/2017 ở trên.

 - Văn vương ( tức Chu Văn vương) 周文王 : tên là Cơ Xương 姬昌,đứng đầu một bộ tộc họ Chu vào cuối đời nhà Thương sang đời nhà Ân đă đứng lên chống lại sự cai trị khắc nghiệt của nhà Thương.Ông chưa kịp hoàn thành tâm nguyện th́ mất.Con là Cơ Phát 姬發 kế nghiệp diệt được vua Trụ tàn ác của nhà Ân,lên ngôi hiệu là Chu Vũ vương周武王 (1046-1043 TCN),truy tôn hiệu của cha ḿnh là Chu Văn vương. Ông xây dựng nên nhà Chu thịnh trị rực rỡ suốt 867 năm bên Trung Hoa được Khổng Tử khen ngợi như là một chuẩn mực trong cách cai trị biết trọng hiền tài và quí dân t́nh không kém các vua hiền như Hoàng Đế,Nghiêu,Thuấn....từ trước. Đại nhă là những khúc hát,những lời thơ thanh nhă có từ các đời trước nhà Chu tâp hợp trong Kinh Thi và được Văn vương ưa chuộng nhằm giáo dục bề tôi và dân chúng về cách sống chính đính thanh nhă....

 - băng luân 崩淪 : vỡ nát và ch́m đắm,sự phai tàn hủy hoại,diệt vong,đổ nát...

 - Dĩnh  : khi Sở Vũ vương Hùng Thông(704 TCN) xưng tước vương ( bất chấp nhà Chu phản đối ) qua đời,con là Hùng Xi 熊貲nối ngôi hiệu là Sở Văn vương 楚文王 (689-675 TCN) cho dời đô về đất Dĩnh,một thành tŕ phía tây nam Trung Hoa và mở rộng thế lực sang trung nguyên.

 - trung chất 中質 : bản chất trung thực, chân thành, tính người trung thực...An đắc Dĩnh trung chất 安得郢中質 : có lẽ Lư Bạch muốn nói đến Khuất Nguyên 屈原 (340 - 278 TCN), tên thực B́nh , tự Nguyên, lại có hiệu là Linh Quân 霛均,làm quan Tả đồ ở Dĩnh Đô,kinh đô nước Sở (nay thuộc Hồ Bắc /Trung Hoa).Ông can gián Sở Hoài vương không nên đi qua Tần nhưng vua không nghe nên bị Tần giam giữ và chết bên Tần. Ông là người học rộng,giỏi thơ phú nổi tiếng với tập Ly Tao,am hiểu chính trị,tính t́nh trung thực,thẳng thắng nên bị nhiều người trong triều ghen ghét dèm pha khiến Sở Tương vương đày ông đi Giang Nam.Trên đường đi,ông buồn cho nhân t́nh thế sự,làm bài Hoài Sa phú rồi tự trầm trên ḍng Mịch La.....

 - huy  : vẫy tay,ra tay,xoay trở,lay động,mở rộng,tan ra...

 - phủ cân 斧斤: búa ŕu,sự chê trách,sự trừng phạt,sự đàm tiếu,phê phán...

 

 

 

 

 BÀI 60

 

 古風 其四十五

 

CỔ PHONG KỲ TỨ THẬP NGŨ

 

 

 1 八荒馳驚 , Bát hoang tŕ kinh hăi,

 萬物盡凋落。 Vạn vật tận điêu lạc.

 浮雲蔽頹陽, Phù vân tế đồi dương,

 4 洪波振大壑。 Hồng ba chấn đại hác. 

 龍鳳脫罔罟, Long phượng thoát vơng cổ,

 飄搖將安托。 Phiêu dao tương an thác.

 去去乘白駒, Khứ khứ thừa bạch câu,

 8 空山詠場藿。 Không san vịnh "Tràng hoắc".

 

 李白 Lư Bạch

 

 

 

 

 

 Dịch nghĩa :

 

 Cổ phong bài bốn mươi lăm.

 

 Vùng hoang vu xa xôi phải rong ruổi thật mau với nhiều nỗi sợ hăi ! Muôn vật hết thẩy đều héo rụng tơi tả. Đám mây nổi che khuất mặt trời le lói đang lặn xuống ; những cơn sóng to làm vang dội vùng sông hồ rộng lớn (C 1-4). Rồng phượng thoát khỏi lưới vơng lưới buông ; cơn gió thổi lay động cất đi sự yên ổn êm đềm. Chiếc xe có ngựa trắng kéo rong ruổi nơi vùng núi vắng lặng (chỉ c̣n tiếng )vịnh ngâm bài thơ "Tràng hoắc " thôi !(C.5-8)

 

 Tạm chuyển lục bát :

 CỔ PHONG BÀI THỨ BỐN MƯƠI LĂM.

 

 1 Hăi hùng rong ruổi vùng hoang,

 Xác xơ muôn vật điêu tàn tả tơi.

 Trời chiều mây nổi che rồi,

 4 Dội vang hồ lớn tơi bời sóng tuôn.

 Phượng rồng thoát khỏi lưới buông,

 Nhấc đem yên ổn thổi bung gió lồng.

 Chiếc xe ngựa trắng ruổi rong,

 8 Khúc ngâm "Tràng hoắc " nơi vùng núi yên.

 

  

 Chú thích :

 - bát hoang 八荒 : vùng hoang vu khắp tám hướng rất hiếm sự có mặt của con người

 - tŕ  : chạy mau,rong ruổi,theo đuổi,truyền đi...

 - điêu lạc 凋落 : héo rụng, tàn tạ,điêu linh....

 - đồi dương 頹陽 : mặt trời lặn c̣n chút ánh sáng le lói....( đồi : rơi rụng,suy giảm,suy đồi,sa sút,đỗ nát....).

 - hồng ba 洪波 :cơn sóng lớn ( hồng : lớn lao,nước lũ,mưa to nước dâng,hồng thủy( lụt lớn).

 - chấn  : chấn động,vang dội,thâu nhận,thôi,dừng lại,nhấc lên,chấn chỉnh,phấn chấn...

 - đại hác 大壑 : hang hốc rộng lớn, ao lớn, vùng ao hồ chứa nước to lớn...

 - phiêu diêu (dao) 飄搖 : gió thổi lay động,gió thổi bùng lên...

 - an thác 安托 : nhấc khỏi,lấy đi sự yên ổn...

 - tràng hoắc 場藿 : tên một khúc ngâm, vùng đất có nhiều cây rau hoắc ( cây dâu,cây có lá thơm,loại rau có thể ăn được của người nghèo khổ. (Nguyễn Du 阮攸: Khuông trung hà sở thịnh? Lê hoắctạp t́ khang 筐中何所盛,藜藿雜枇糠 -Sở kiến hành 所見行 / Bắc hành tạp lục - Trong giỏ đựng ǵ nhiều thế? Rau lê, rau hoắc lẫn vỏ cám ).

 

 

 

 

 

 BÀI 61

 

 

 古風 其五  

 

CỔ PHONG KỲ NGŨ THẬP BÁT

 

 

 1 我到巫山渚, Ngă đáo Vu Sơn chử, 尋古登陽臺。 Tầm cổ Đăng Dương đài.

 天空彩雲滅, Thiên không thái vân diệt,

 4 地遠清風來。 Địa viễn thanh phong lai.

 神女去已久, Thần nữ khứ dĩ cửu,

 襄王安在哉。 Tương vương an tại tai.

 荒淫竟淪替, Hoang dâm cánh luân thế,

 8 樵牧徒悲哀。 Tiều mục đồ bi ai !

 

 李白 Lư Bạch

 

 

 

 Dịch nghĩa :

 

 

 Cổ phong bài thứ năm mươi tám.

 

 Ta đi đến băi sông ở vùng núi Vu t́m đài Đăng Dương thuở xưa trước. Bầu trời đă vắng bặt những làn mây sắc màu rực rỡ,vùng đất xa xa cơn gió mát và trong lành đă đến (C.1-4). Nữ thần (trong giấc mộng của vua Sở Tương vương) đă đi xa lâu rồi ; c̣n Tương vương vẫn c̣n ở yên lành nơi đây ! Vua ham mê nữ sắc nên cuối cùng phải bị phế bỏ. Chỉ c̣n người đốn củi và kẻ chăn dắt gia súc đang đi với nỗi buồn sầu mà thôi !(C. 5-8)
 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 CỔ PHONG BÀI THỨ NĂM MƯƠI TÁM.

 

 1 Vu Sơn ta đến băi sông,

 Đi t́m đài cũ Đăng dương thuở nào.

 Mây trời vắng bặt sắc màu,

 4 Vùng xa gió đến mát sao trong vời !

 Nữ thần đi đă lâu rồi,

 Tương vương yên ổn ở nơi chốn này !

 Ham mê nữ sắc phải thay,

 8 Trên đường tiều mục ḷng day dứt sầu.

 

 Chú thích

- Vu Sơn 巫山 : Vùng đất Cao Đường (nay thuộc Hồ Bắc,Trung Hoa) có hai ngọn núi là Vu Sơn và Vu Giáp ở gần đầm Vân Mộng là một danh lam rất nổi tiếng, Sở Tương vương 楚襄王 đời Chiến Quốc vẫn thường đến đây để thưởng ngoạn và một hôm v́ mệt nên cho quầy trại nghỉ dưới chân núi Vu.Trong lúc đang say giấc nồng,nhà vua thấy một một thiếu nữ tuyệt đẹp duyên dáng đến chơi với ḿnh cùng tṛ chuyện tương đắc rồi cùng nhà vua chăn gối mặn mà ! Sau đó nhà vua mới hỏi gốc ngọn nàng thiếu nữ xinh đẹp kia.Nàng cho biết nàng là thần nữ 神女 Vu Sơn có nhiệm vụ sáng làm mây,tối làm mưa ở Dương Đài 陽臺 nhân v́ đi qua đây và có nhân duyên với nhà vua nên gặp gỡ trao duyên.Tỉnh dậy,nàng thiếu nữ xinh đẹp đă biến mất.Vua thương nhớ và rất lưu luyến bèn cho lập một miếu thờ thần nữ có tên là Đăng Dương đài 登陽臺. Quan đại phu Tống Ngọc trong triều nhân câu chuyện đă làm bài "Cao Đường Phú " để ghi nhớ việc giao hoan của Sở Tương vương......Riêng Lư Bạch,ông có cái nh́n khác hơn thông qua câu chuyện và nêu rơ việc thay thế, phế truất Tương vương nguyên do v́ sự ham mê nữ sắc với người mang danh là thần nữ và nhiều cung phi mỹ nữ khác,vẫn yên ổn trong giấc mộng Vu Sơn không lo việc triều chính như câu chuyện trên đă dựng ra tương tự việc Đường Huyền tông với Dương Quư phi đương thời....

 - chử  : băi cát làm thành g̣ giữa sông,băi cát bờ sông,người đánh cá dọc con sông...

 - đăng  : cái bát đựng đồ cúng trong đền miếu,cái tô đựng thức cúng...Ở đây tên miếu thờ là Đăng Dương đài vẫn thường được gọi tắt là miếu Dương Đài như lối nói của thần nữ của câu chuyện.

 - thiên không 天空 : bầu trời trống trải,vắng lặng....

 - thái  : màu sắc rực rỡ, tia sáng sặc sở, vẻ sáng của văn chương,lời khen ngợi...

 - Tương vương 襄王 : tức Sở Tương vương hay c̣n tên gọi là Sở Khoảnh Tương vương楚頃襄王 con của Sở Hoài vương, có tên là Sở Hùng Hoành (c̣n có tên Mị Hoành ) lên ngôi khi vua cha đang bị Tần giam giữ,ông làm vua được 36 năm (299-263 TCN).

 - luân  : ch́m đắm,trầm luân,trôi dạt,dây dưa,vướng víu,sa sút,làn sóng nhỏ...

 - thế  : thay thế,phế bỏ,suy bại....

 

 

 

 

 

 BÀI 62

 

 

 古風 其五十九

 

CỔ PHONG KỲ NGŨ THẬP CỬU

 

 

 1 惻惻泣路歧, Trắc trắc khấp lộ ḱ,

 哀哀悲素絲。 Ai ai bi tố ti.

 路歧有南北。 Lộ ḱ hữu nam bắc,

 4 素絲易變移, Tố ti dịch biến di.

 萬事固如此。 Vạn sự cố như thử,

 人生無定期, Nhân sanh vô định kỳ.

 田竇相傾奪。 Điền đậu tương khuynh đoạt,

 8 賓客互盈虧, Tân khách hỗ doanh khuy.

 世途多翻覆。 Thế đồ đa phiên phúc,

 交道方險巇。 Giao đạo phương hiểm hi.

 斗酒強然諾, Đẩu tửu cường nhiên nặc,

 12 寸心終自疑。 Thốn tâm chung tự nghi.

 張陳竟火滅, Trương trần cánh hỏa diệt,

 蕭朱亦星離。 Tiêu chu diệc tinh ly.

 眾鳥集榮柯, Chúng điểu tập vinh kha,

 16 窮魚守枯池。 Cùng ngư thủ khô tŕ.

 嗟嗟失權客, Ta ta thất quyền khách,

 18 勤問何所規。 Cần vấn hà sở quy.

 

 李白 Lư Bạch

 

 

 

 Dịch nghĩa :

 

 Cổ phong bài thứ năm mươi chín.

 

 Khóc không thành tiếng với nỗi đau thương, ngậm ngùi nơi nhánh rẽ của con đường đi. Buồn sầu xót xa không nguôi dù khóc (không có nước mắt) và ráo hoảnh như tơ trắng ! Đường đi rẽ nhánh có hướng nam,hướng bắc ; tơ trắng cũng thay đổi biến hóa (C.1-4).

 Muôn việc xưa nay vẫn như thế đó ! Đời người cũng không đoán định hạn kỳ ! Việc đào xới đất đai làm ruộng vườn cũng là để cùng nhau tranh đoạt.Người khách (được mời) đến nhà để giúp đỡ làm cho đầy đủ những chỗ c̣n thiếu sót. Đường đời bao việc tráo trở. C̣n những con đường đi luôn kề cận với nhiều nỗi hiểm nguy trắc trở ! Thôi hăy bằng ḷng đốt nóng với chén rượu mạnh.Một tấc ḷng của ḿnh rốt cùng cũng bị ngờ vực ! (C.5-12).

 Chuyện phô bày lâu ngày cũng bị thiêu rụi tan biến ! Đă vắng vẻ màu đỏ sang trọng đẹp đẽ đă bị rải nhỏ ly tán khắp nơi ! Đàn chim tụ họp nơi cành cây tươi tốt ; con cá ở thế cùng cũng chờ đợi ao hồ cạn khô ! Than thở và xót thương khi kẻ làm khách phải mất đi sự quyền biến nên ân cần hỏi thăm đâu là những khuôn phép mẫu mực ( cho cuộc sống ) ! ? (C.13-18).

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 CỔ PHONG BÀI THỨ NĂM MƯƠI CHÍN.

 

 1 Xót xa thầm khóc đường đi,

 Sầu thương ráo hoảnh như tơ trắng ngần.

 Đường đi rẽ nhánh bắc nam,

 4 Tơ màu trắng muốt cũng đang đổi dời.

 Xưa nay muôn việc thế thôi !

 Không hề đoán định đời người được đâu !

 Ruộng cày giành xới với nhau,

 8 Đến nhà chỗ thiếu khách nao giúp đầy !

 Đường đời tráo trở lắm thay,

 Hiểm nguy,trắc trở ngay đường đi thôi.

 Thôi th́ rượu mạnh tràn bôi,

 12 Tấc ḷng rốt lại bị người hồ nghi.

 Phơi bày lâu cũng tan đi,

 Màu son vắng vẻ rải chia khắp rồi !

 Đàn chim tụ họp cành tươi,

 16 Thế cùng ao cạn,cá rồi héo hon.

 Xót xa quyền khách chẳng c̣n,

 18 Ân cần mà hỏi đâu khuôn phép nào ?!

 

 Chú thích :

 - trắc trắc 惻惻 : buồn sầu thảm thiết,xót thương bùi ngùi....

 - khấp  : khóc thầm,khóc không thành tiếng....

 - kỳ  : sự khác biệt,đường rẽ nhánh,lầm đường,khác nhau....

 - ai ai 哀哀 : buồn rầu,thương xót không nguôi.

 - bi  : buồn bă,sầu thương,khóc không có nước mắt....

 - tố ti 素絲 : sợi tơ sống trắng nơn chưa nhuộm màu...

 - dịch biến di 易變移 :đang đổi thay biến dời,di chuyển..v..v..

 - cố  : xưa nay vẫn thế,bền vững, kiên quyết,cố chấp,hẹp ḥi...

 - điền đậu 田竇 : cày xới, đào bới ruộng vườn.

 - khuynh đoạt 傾奪 : áp đảo để giành giật cướp đoạt...

 - phiên phúc 翻覆 : tráo trở,lật lọng, phản phúc...

 - giao đạo 交道 : đường đi tiếp giáp nhau,kề cận con đường đi...

 - phương hiểm hi 方險巇 : những hướng đi trắc trở,nguy hiểm...

 - nhiên nặc 然諾 : bằng ḷng như thế,ưng chịu, đồng ư,ưng cho....

 - trương trần 張陳 :phô bày,khoe khoang đă lâu năm...

 - tiêu chu 蕭朱 : tiêu : cây ngăi,vắng vẻ,tiêu điều....; chu :màu son đỏ,nhà sơn đỏ của các vua quan bên Trung Hoa xưa để phô bày sự quyền quư,giàu sang.Chỉ những nơi quyền quư giờ đă trống vắng,quạnh hiu.Đây có lẽ Lư Bạch nói đến sự thăng trầm của những kẻ quyền quư như Đường Huyền tông và Dương Quư phi cùng các quan lớn nhỏ trong triều phải rời kinh thành xa hoa để chạy giặc An Lộc Sơn...

 - tinh ly 星離 : rải nhỏ ra và phân tán khắp nơi...

 - vinh kha 榮柯 : cành cây tươi tốt.

 - thủ khô tŕ 守枯池 : chờ đợi ao bị khô hạn,cạn nước...

 - ta ta 嗟嗟 : xót xa than thở...

 - cần vấn 勤問 : ân cần hỏi thăm...

 

 

 

 

 

 

 

 

 

DƯƠNG ANH SƠN
Sài G̣n,
01/2018

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |          www.ninh-hoa.com