trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |          www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

  

 

Thơ LƯ BẠCH

DƯƠNG ANH SƠN

 

 

 
 

 

 BÀI 52



 
古風 其一

 

CỔ PHONG KỲ NHẤT


1 大雅久不作 , Đại nhă cửu bất tác ,
  吾衰竟誰陳。 Ngô suy cánh thùy trần .
  王風委蔓草 , Vương phong ủy mạn thảo ,
  4 戰國多荊榛。 Chiến quốc đa kinh trăn.
  龍虎相啖食 , Long hổ tương đạm thực ,
  兵戈逮狂秦。 Binh qua đăi cuồng Tần.
  正聲何微茫, Chánh thanh hà vi mang ,
  8 哀怨起騷人。 Ai oán khởi tao nhân .
  揚馬激頹波 , Dương mă kích đồi ba ,
  開流蕩無垠。 Khai lưu đăng vô ngân .
  廢興雖萬變 , Phế hưng tuy vạn biến ,
  12 憲章亦已淪。 Hiến chương diệc dĩ luân .
  自從建安來 , Tự ṭng Kiến An lai .
  綺麗不足珍。 Ỷ lệ bất túc trân ,
  聖代複元古 , Thánh đại phức nguyên cổ .
  16 垂衣貴清真。 Thùy y quư thanh chân.
  群才屬休明 , Quần tài chúc hưu minh ,
  乘運共躍鱗。 Thừa vận cộng dược lân .
文質相炳煥
, Văn chất tương bính hoán ,

  20 眾星羅秋旻。 Chúng tinh la thu mân .
  我志在刪述 , Ngă chí tại san thuật ,
  垂輝映千春。 Thùy huy ánh thiên xuân .
  希聖如有立 , Hi thánh như hữu lập ,
  24 絕筆于獲麟。 Tuyệt bút vu hoạch lân.

 


 李白 Lư Bạch

 

 

 

 Dịch nghĩa :


 Cổ phong bài một.


 Đă lâu rồi không làm thơ theo thể Đại nhă ,ta lại yếu mệt mà không có ai để tỏ bày .Cơn gió của kẻ làm vua sẽ có đám cỏ nhỏ quấn quưt hùa theo ! Thời Chiến quốc lắm gai góc với những con rồng con hổ nuốt ăn nhau ! Nhờ binh đao đă đuổi được nhà Tần cuồng bạo. Những âm thanh của sự ngay thẳng sao lại nhỏ bé và xa xôi mờ mịt thế ! Nỗi xót xa ,sầu oán khởi đi từ người làm thơ .Ngựa chạy bốc lên mạnh mẽ ,sóng vỗ tan tành ! Ḍng nước chảy mở ra sự tẩy rửa không bờ bến. Việc lên xuống hưng phế đẩy theo muôn ngàn sự đổi thay làm cho những phép tắc đẹp đẽ ,mẫu mực cũng bị ch́m lấp (C.1-12).
 Từ thời Kiến An cho đến nay vẻ sáng đẹp không c̣n sang trọng quư phái nữa . Thời đại các bậc thánh chồng chất lên nhau vào thời khởi đầu xa xưa .Họ là những người rủ áo (vua Nghiêu ,vua Thuấn) ,trọng sự trong sáng ,chân thành .Rất nhiều người tài giỏi nối tiếp nhau chờ tỏa sáng ,nhân khi (thời thế) thay đổi, bay nhảy như cá ,như rồng . Nền văn cũng đổi lấy vẻ sáng rơ .Các v́ sao giăng rộng ra trên bầu trời ngày mùa thu .Chí của ta là sửa sang lại cái cũ ,truyền cho đời sau ánh sáng rực rỡ chiếu soi ngàn mùa xuân ! Bậc thánh hiếm hoi nếu như được tôn lên , ta sẽ dừng bút lại như đă lấy được con kỳ lân rồi ! (C.13-24)


 
Tạm chuyển lục bát :
 

 CỔ PHONG BÀI THỨ NHẤT

 1 Không làm Đại nhă đă lâu ,
 Ta giờ yếu mệt ,ai đâu giải bày !
 Gió vua : cỏ quấn theo ngay ,
 4 Lắm gai Chiến quốc rậm dày thời nao .
 Hổ rồng cùng nuốt lẫn nhau ,
 Nhà Tần cuồng bạo binh đao đuổi rồi .
 Lời ngay mờ mịt nhỏ nhoi ,
 8 Xót xa sầu oán từ người làm thơ .
 Ngựa chồm ,sóng vỗ ào xô ,
 Khơi ḍng rửa sạch cơi bờ mất phăng .
 Xuống lên ,dời đổi muôn ngàn !
 12 Giữ ǵn luật lệ tan theo sóng này .
 Kiến An từ đó đến nay ,
 Không c̣n sáng đẹp đủ đầy quư sang .
 Thời xưa chồng lấp thánh nhân ,
 16 Quư người rủ áo ,lẽ chân trong vời ,
 Nối nhau người giỏi sáng ngời,
 Cá rồng bay nhảy khi thời đến thôi .
 Nền văn tốt đẹp sáng soi ,
 20 Ngày thu trải rộng bày trời nhiều sao !
 Sách làm,ta để ḷng vào ,
 Ngàn xuân sáng rỡ mai sau truyền đời .
 Dựng nên bậc thánh hiếm hoi ,

24 Sẽ dừng bút viết được rồi kỳ lân .


 Chú thích :

 - Đại nhă
大雅 : Đại nhă là một trong bốn phần của Kinh Thi (gồm 305 bài thơ) : Quốc phong ,Đại nhă,Tiểu nhă và Tụng. "Nhă " có nghĩa là âm thanh chính đính mang phong cách đẹp đẽ ,trang trọng .Đại nhă là những bài hát dùng trong những lễ lạc quan trọng như khi thiên tử họp các vua chư hầu nơi miếu đường .Trong khi Tiểu nhă là những bài hát chính trong cung cấm của vua chư hầu được truyền ra cho dân gian bên ngoài nhằm đề cao cái đẹp thanh nhă .
 - cánh
: cùng cực ,cuối cùng ,biên giới ,mà ,lại....
 - trần
: trần t́nh ,phô bày ,nói ra ,giải bày ,nêu ra ,con đường trước nhà ,cũ kỹ ...
 - ủy
: thuận theo ,đi theo ,chất chứa ,giao phó ,đầu ngọn ,bỏ đi ....
 - mạn thảo
蔓草 : loại cỏ thân nhỏ ḅ lan và quấn quanh các cây khác.
 - đạm
: đút cho ăn , nuốt ,hối lộ ...
 - đăi
: đuổi bắt, đuổi đi , kịp , đầy đủ ...
 - tao nhân
騷人 : Khuất Nguyên người nước Sở bên Trung Hoa xưa làm tập Ly Tao để nói lên nỗi niềm của ḿnh khi bị vua không tin dùng và bọn xu nịnh dèm pha phải đi đày.Cho nên về sau chữ "tao nhân " chỉ người làm thơ .
 - kích
: chảy xiết ,nước tuôn mạnh mẽ ,chặn lại ,tự làm theo ư ḿnh ,cảm kích...
 - đăng vô ngân
蕩無垠 : nước tuôn chảy tẩy rửa sạch không c̣n dấu vết bờ bến ,giới hạn...
 - hiến chương
憲章 : những luật lệ ,quy tắc tốt đẹp.
 - Kiến An
建安 : Kiến An (196-220) là niên hiệu cuối cùng của Hán Hiến Đế. Cách gọi Kiến An được dùng để chỉ một giai đoạn văn chương có những nét độc đáo kéo dài từ cuối triều Đông Hán đến đầu triều Tào Ngụy nhưng theo Lư Bạch những sự trong sáng ,cái hay ,cái đẹp theo cách Đại nhă không c̣n nữa !
 - ỷ lệ
綺麗 : đẹp đẽ như lụa có hoa văn thêu sáng đẹp .
 - phức
: trùng phức ,chồng lấp lên nhau.
 - thùy y
: trong chương Phệ Hạp (với quẻ Ly nằm trên quẻ Chấn) của Kinh Dịch ,tiết 5 có câu : Hoàng Đế Nghiêu Thuấn thùy y thường nhi thiên hạ trị nghĩa là : Vua Nghiêu ,vua Thuấn (là hai vua được truyền ngôi theo lối lập hiền) buông rủ áo xiêm để cai trị thiên hạ .Chỉ sự thong dong của thời thái b́nh ,vua không phải quá bận bịu cho việc cai trị !
 - chúc
: âm của "thuộc" : nối tiếp nhau ,gửi gắm ,đầy đủ ,gần gũi ,chắp vá ,hướng về ...
 - hưu
: chờ đợi ,nghỉ ngơi ,dừng nghỉ ,tốt đẹp ,rảnh rang,bóng mát...
 - dược
: bay nhảy .
 - lân
: vảy con rồng ,vảy cá .Chỉ chung các loài cá hóa thành rồng bay nhảy.
 - văn chất
文質 : nền tảng của văn chương ,bản chất ,gốc rễ của văn chương ...
 - bính
: sáng rơ .
 - thu mận
秋旻 : bầu trời ngày mùa thu.
 - chí
: để hết tâm ư vào công việc ,ư nghĩ về một việc nào đó ,ghi chép ,làm sách...
 - san thuật
刪述 : sửa sang cái cũ ,sửa lại cho đúng cái cũ từng được ghi chép ...
 - thùy huy
垂輝 : thùy : buông rủ xuống ,truyền lại cho đời sau ,biên thùy xa xôi, gần sắp..Thùy huy: để lại cho đời sau ánh sáng rực rỡ...
 - tuyệt bút
絕筆 : dừng lại không viết nữa , văn chương tuyệt hay độc đáo .

 

 



 
BÀI 53


 
古風 其九

 

CỔ PHONG KỲ CỬU
 

 1 莊周夢胡蝶 , Trang Chu mộng hồ điệp,
  胡蝶為莊周。 Hồ điệp vi Trang Chu.
  一體更變易 , Nhất thể cánh biến dịch,
  4 萬事良悠悠。 Vạn sự lương du du.
  乃知蓬萊水 , Năi tri Bồng Lai thủy,
  復作清淺流 Phục tác thanh thiển lưu.
  青門種瓜人 , Thanh môn chủng qua nhân
  8 舊日東陵侯。 Cựu nhật Đông Lăng hầu
  富貴固如此 , Phú quư cố như thử,
  10 營營何所求。 Doanh doanh hà sở cầu.


 李白 Lư Bạch

 

 


 Dịch nghĩa :


 Cổ phong bài thứ chín.


 Trang Chu mộng thấy con bướm. Bướm kia là Trang Chu từ một thể do biến dịch mà thay đổi .Muôn ngàn chuyện tốt lành đều đă xa xăm rồi .Mới hay nước của chốn Bồng Lai
lại trở thành ḍng nước chảy trong trẻo cạn vơi c̣n ít nước .Người trồng dưa nơi cổng màu xanh ngày trước là hầu tước Đông Lăng .Nếu sự giàu sang cứ vững bền như thế sao lại phải mong ước bay đi lượn lại làm ǵ ?!



 Tạm chuyển lục bát :


 CỔ PHONG BÀI THỨ CHÍN.

 1 Trang Chu mộng bướm trong mơ ,
 Bướm kia là chính Trang Chu đó mà !
 Biến dời từ một gốc ra ,
 4 Muôn ngàn việc tốt đă là xa xôi !
 Nước Bồng Lai đă biết rồi ,
 Lại làm ḍng chảy cạn vơi trong lành .
 Người trồng dưa ở cổng xanh ,
 8 Kẻ đây ngày trước Đông Lăng tước hầu !
 Nếu như yên ổn sang giàu ,
 10 Sao bay lượn măi mong cầu làm chi !?

 

 Chú thích :

 - Trang Chu
莊周 : thường được gọi là Trang Tử 莊子 (khoảng 365–290 TCN), có tên là Mông Lại (蒙吏), Mông Trang (蒙莊) hay Mông Tẩu (蒙叟), là một triết gia chuyên về Đạo giáo của Lăo Tử. Tên thật của ông là Trang Chu (莊周) có lẽ sống cùng thời với Mạnh Tử 孟子(372–289 TCN) ,đệ tử xuất chúng theo trường phái Khổng Tử . Tác phẩm của Trang Chu về sau đều được gọi bằng tên Trang Tử.Ông sống vào thời Chiến Quốc và tương truyền khi về ở ẩn vùng núi Nam Hoa ,ông dành tâm trí soạn Nam Hoa Kinh 南華經 gồm hơn mười vạn câu để đề cao " đạo "của Lăo Tử, châm biếm tư tưởng của Khổng Tử (theo Sử Kư Tư Mă Thiên) - hồ điệp vi Trang Chu 胡蝶為莊周: con bướm là Trang Chu .Lư Bạch(701- 762) cũng như nhiều nhà thơ đều viện dẫn h́nh ảnh không có sự tách biệt giữa mộng và thực ,giữa Trang Chu và con bướm để nói về sự hư ảo của cuộc sống được nói đến trong Nam Hoa Kinh. Chẳng hạn nhà thơ Lư Thương Ẩn 李商隱 (813 - 858) là một trong những nhà thơ lớn nhất của văn học Trung Hoa sống vào đời Văn Đường được xếp ngang hàng với Đỗ Phủ ,Bạch Cư Dị ,Lư Bạch, trong bài thơ Cẩm sắt (錦瑟) có hai câu :
 ...... Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp
莊生曉夢迷蝴蝶
 Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên
望帝春心託杜鵑
 (Trang Chu buổi sáng nằm mộng thành con bướm .Ḷng xuân của Vọng đế -tức Đỗ Vũ ,vua nhà Thục bị mất nước lúc chết đi hồn vua vọng về đất cũ -gửi vào chim đỗ quyên).
 - nhất thể
一體 : cùng do một gốc rễ ,một nền tảng mà có .
 - cánh biến dịch
更變易: thay đổi ,cải biến , dời đổi theo sự chuyển hóa .Đây là tư tưởng căn bản của Kinh Dịch là tác phẩm quan trọng của đạo giáo và được Lăo Tử thường đề cập trong Đạo Đức Kinh.
 - Bồng Lai
蓬萊 : theo Sơn Hải kinh, núi Bồng Lai là một trong năm ḥn đảo phía đông của Bột Hải, cùng với 4 đảo khác tương truyền trên đó các vị tiên sống, gồm có Phương Trượng (方丈), Doanh Châu (瀛州), Đại Dư (岱輿) và Viên Kiều (員嬌).Mặc dầu trên thực tế có thị trấn Bồng Lai ở Sơn Đông ,T.H. nhưng nhiều người vân xem đảo Bồng Lai là một truyền thuyết.
 - thanh thiển lưu
清淺流 : ḍng nước chảy bị vơi cạn nhưng vẫn trong trẻo và sạch sẽ.
 - Đông Lăng hầu
東陵侯 : tức Triệu B́nh trước làm quan cho nhà Tần được phong tước Đông Lăng hầu .Khi nhà Tần bị diệt vong ,ông ẩn cư ngoài cổng thành Trường An trồng dưa sinh sống (theo Sử kư thế gia Tiêu tướng quốc )
 - cố
: vững bền ,ổn định ,yên ổn ,vốn như thế...
 - doanh doanh
營營: bay đi ,lượn lại

 

 

 




 
BÀI 54

 

 



 
古風其二十三

 

CỔ PHONG KỲ NHỊ THẬP TAM
 

 1 秋露白如玉, Thu lộ bạch như ngọc ,
 
團團下庭綠。 Đoàn đoàn há đ́nh lục .
 
我行忽見之, Ngă hành hốt kiến chi ,
 4
寒早悲歲促。 Hàn tảo bi tuế xúc .
 
人生鳥過目, Nhân sinh điểu quá mục ,
 
胡乃自結束。 Hồ năi tự kết thúc .
 
景公一何愚, Cảnh Công nhất hà ngu ,
 8
牛山淚相續。 Ngưu sơn lệ tương tục .
 
物苦不知足, Vật khổ bất tri túc ,
 
得隴又望蜀。 Đắc Lũng hựu vọng Thục .
 
人心若波瀾, Nhân tâm nhược ba lan
 12
世路有屈曲。 Thế lộ hữu khuất khúc .
 
三萬六千日, Tam vạn lục thiên nhật ,
 14
夜夜當秉燭。 Dạ dạ đương bỉnh chúc .


 李白 Lư Bạch

 

 


 Dịch nghĩa :


 Cổ phong bài thứ hai mươi ba .


 Những hạt móc sương mùa thu trong sáng như viên ngọc tṛn trịa (rơi) xuống sân nhà màu xanh biếc . Ta đang đi chợt thấy cảnh đó. Buổi sáng sớm trời lạnh ,ḷng buồn sầu v́ năm tháng vội vàng qua nhanh .Đời người như chim bay qua tầm mắt sao lại tự trói buộc ḿnh !? Cảnh Công sao lại là một kẻ ngu đần ? Nơi núi Ngưu , nước mắt Cảnh Công tuôn tiếp theo nhau .Muôn loài khổ đau v́ không biết (thế nào) dầy đủ ! Được ở vùng đất Lũng lại trông ngóng đất Thục!(C.1-10). Ḷng người như những đợt sóng lớn cứ lên lên , xuống xuống đổi thay luôn. Đường đời có nhiều khúc quanh co trong ba mươi vạn sáu ngàn ngày . Đêm đêm hăy nên cầm đuốc mà đi! (C.11-14).


 Tạm chuyển lục bát :


 CỔ PHONG BÀI THỨ HAI MƯƠI BA.
 

1 Móc thu như ngọc trong ngần ,
 Tṛn vo rơi xuống sân xanh biếc này .
 Ta đi chợt thấy cảnh bày ,
 4 Buồn trời sớm lạnh tháng ngày vội trôi .
 Chim bay qua mắt : đời người ,
 C̣n ta cứ trói buộc đời vậy chăng ?
 Cảnh Công sao lại ngu đần ?
 8 Núi Ngưu nước mắt tuôn tràn măi thôi !
 Khổ không biết đủ loài người ,
 Được vùng đất Lũng ,ngóng vời Thục chi ! Ḷng người sóng lớn nhiêu khê ,
Đường đời khúc khuỷu nhiều bề lắm thay!
Ba mươi vạn sáu ngh́n ngày ,
 14 Hăy nên cầm đuốc măi hoài hằng đêm !

 

 Chú thích :


- bạch
: màu trắng ,trắng xóa ,trong trẻo ,trong vắt ,trong trắng...
- đoàn đoàn
團團: tṛn trịa ,tṛn vo ,nắm cuộn lại , tập hợp lại , h́nh tṛn...
- xúc
: vội vàng , gấp gáp ,cần kíp ,mau chóng ....
- điểu quá mục
鳥過目 : chim bay qua tầm mắt ,thoáng chốc ,nhanh chóng ...
- tự kết thúc
自結束 : tự ḿnh ràng buộc chính ḿnh ,tự ḿnh thắt chặt lấy ḿnh ,tự làm cho xong việc... - Cảnh Công : tức vua Tề Cảnh Công 景公 (547-490 TCN) ,tên là Khương Chữ Cữu là vua thứ 26 của nước Tề ,chư hầu nhà Chu, Trung Hoa.Một hôm Cảnh Công đi chơi Ngưu Sơn(nay là huyện Lâm Chí,Sơn Đông,T.H.) đang ngắm cảnh núi non bỗng khóc như mưa tuôn mà than rằng : giang sơn đẹp đẽ như thế này mà ta rồi phải bỏ đi không sống măi để hưởng ! Hai đại thần Lữ Sử Không và Lương Khưu Cứ thấy vua khóc cũng khóc theo nói là chịu ơn vua có cơm ăn, áo mặc ,ngựa xe để cưỡi chẳng muốn chết huống ǵ là vua trên ngôi cao được hưởng bao nhiêu thứ .Chỉ có đại thần sáng suốt,thẳng tính ,giỏi chính trị là Án Tử đứng bên cạnh nghe vậy mà cười .Vua Cảnh Công hỏi lư do .Án Tử mới nói rằng :nếu các vua giỏi trước đây giữ măi được đất nước này như Thái Công ,Hoàn Công ,Linh Công ,Trang Công có đâu cho vua hưởng như bây giờ hay là phải đội nón ra đồng làm ruộng rồi ! Tôi thấy vua bất nhân ,bầy tôi siểm nịnh nên cười .Đó là cái ngu của Tề Cảnh Công theo cách gọi của Lư Bạch và nhiều người đời sau nhận xét về việc làm của Tề Cảnh Công (bất nhân :không biết qui luật và đạo lư làm người..)
- vật
: muôn loài ,muôn vật ,sự vật ,cũng chỉ con người trong muôn loài đó.
- Lũng
: cách gọi vùng đất Cam Túc xưa của người Trung Hoa
- Thục
: vùng đất xưa , nay nằm ở tỉnh Tứ Xuyên phía tây nam Trung Hoa ,gần cao nguyên Tây Tạng .
- ba lan
波瀾 : sóng vỗ mạnh mẽ khi lên khi xuống.Chỉ sự thay đổi ,thăng trầm của cuộc đời.
- khuất khúc
屈曲 :quanh co khúc khuỷu ,cong queo,khó hiểu ,không rơ ràng thẳng thắng...
- tam vạn lục thiên nhật
三萬六千日 : ba mươi vạn sáu ngh́n ngày: 36000:360 = một trăm năm (100).

 

 

 

 BÀI 55

 
古風 其十二

 

Cổ phong kỳ thập nhị

 

 1 松柏本孤直 , Tùng bách bổn cô trực, 
  難為桃李顏。 Nan vi đào lí nhan.  
  昭昭嚴子陵 , Chiêu chiêu Nghiêm Tử Lăng , 
  4 垂釣滄波間 Thùy điếu thương ba gian .
  身將客星隱 , Thân tương khách tinh ẩn ,
  心與白雲閑 Tâm dữ bạch vân nhàn . 
  長揖萬乘君 , Trường ấp vạn thừa quân , 
  8 還歸富春山。 Hoàn quy Phú Xuân san . 
  清風洒六合 , Thanh phong sái Lục Hợp, 
  邈然不可攀 Mạc nhiên bất khả phan .
  使我長嘆息 , Sử ngă trường thán tức ,
  12 冥棲岩石間 Minh thê nham thạch gian.

 

 李白 Lư Bạch

 

 

 

 Dịch nghĩa :

 

 Cổ phong bài mười hai

 

Cây tùng cây bách lẻ loi vốn mọc thẳng , khó có nhan sắc dáng vẻ như là cây đào ,cây mận .Con người Nghiêm Tử Lăng sáng ngời ngồi buông câu giữa ḍng sông sóng vỗ . Thân làm khách ẩn lánh cùng với sao trời , tấm ḷng thanh thản nhàn nhă cùng với đám mây trắng trôi .( C.1-6 )

 Vái người (quyền uy nắm giữ) muôn ngàn chiếc xe lớn , quay về lại với núi Phú Xuân . Ngọn gió trong trẻo mát lạnh thời Lục Hợp đă xa thăm thẳm chẳng thể bám vào được .Điều đó khiến cho ta buồn sầu than thở măi giữa vùng vách đá khi đang nghỉ ngơi trong đêm ! ( C.7-14)

 

 Dịch thơ :

 

 CỔ PHONG BÀI MƯỜI HAI .

 

 1 Bách tùng vốn riêng thẳng ,

 Khó xinh như mận đào .

 Nghiêm Tử Lăng ngời sáng ,

 4 Sóng giữa ḍng buông câu .

 Khách sao trời thân lánh ,

 Nhàn cùng mây trắng phau .

 Vái người muôn xe cộ ,

 8 Núi Phú Xuân về nào !

 Gió mát lạnh Lục Hợp ,

 Xa xăm khó bám vào .

 Khiến ta buồn than măi ,

 12 Vách đá nghỉ đêm thâu .

 

 Chú thích :

- nhan  : sắc mặt ,dung mạo ,nhan sắc ,vẻ dáng bề ngoài ;có khi dùng chỉ vẻ đẹp..

- chiêu chiêu 昭昭 : sáng ngời ,rạng rỡ ,rơ ràng ,rạng ngời...

- Nghiêm Tử Lăng 嚴子陵 : tên thực là Nghiêm Quang   tự là Tử Lăng 子陵, người vùng Dư Diêu 余姚 ,Cối Kê 会稽,là một ẩn sĩ nổi tiếng đức tính cao khiết ,xa lánh danh lợi thời Đông Hán, không rơ năm sinh năm mất. Ông vốn họ Trang , nhân v́ kỵ huư Hán Minh Đế Lưu Trang 刘庄 nên đổi sang họ Nghiêm . Lúc c̣n trẻ ông nổi tiếng khắp nơi về tài văn chương .Ông lại là bạn thân với Hán Quang Vũ Lưu Tú 刘秀 thời trẻ(sau này Quang Vũ đánh đông dẹp bắc lên ngôi hoàng đế tức Hán Cao tổ) vẫn thường bàn luận ,trao đổi chuyện thiên hạ và đi đây đi đó t́m thầy giỏi để học cũng như giúp ư kiến cho bạn khi Tú mới khởi binh .Lúc Hán Quang Vũ làm hoàng đế Trung Hoa, Nghiêm Quang biết thế nào Tú cũng t́m ḿnh để mời ra làm quan nên đi ẩn cư lánh ḿnh ở núi Phú Dương Xuân 富阳春 ở Triết Giang  .Lưu Tú nhớ bạn hiền có đức ,có tài nên cho vẽ h́nh Nghiêm Quang truyền người t́m khắp nơi. Về sau có người báo cho triều đ́nh h́nh dáng người buông câu có phong thái giống như Nghiêm Quang . Vua mừng rỡ cho đem lễ vật đến mời về triều .Nghiêm Quang từ chối đôi bận .Vua vẫn kiên tŕ cho sứ đi mời lần thứ ba .Chẳng đặng đừng Nghiêm Tử Lăng lên kiệu theo sứ về kinh đô Lạc Dương 洛阳 . Hán Cao tổ nghe tin xa giá đến thăm bạn .Tử Lăng vờ ngủ như không hay biết . Vua vỗ bụng bạn thân nói rằng :" Tử Lăng sao không thể giúp ta cai trị nước ? Nghiêm Quang giờ mới ngồi dậy nói với vua rằng :"Xưa Đường Nghiêu  nhường thiên hạ cho Sào Phủ 巢父, Sào Phủ nghe qua liền đi rửa tai, có ư không muốn nghe những lời mà ông cho là dơ bẩn ! Kẻ sĩ chúng ta mỗi người đều có chí hướng của riêng ḿnh, hà tất lại bắt tôi theo ư ngài " .Hán Cao tổ nghe xong biết ư Tử Lăng đă quyết nên tiếp bạn ân cần và cho tiễn bạn về lại núi Phú Dương Xuân. Ông mất khoảng 80 tuổi, an táng ở núi Phú Xuân. Người đời sau gọi núi Phú Xuân là “Nghiêm Lăng sơn” 嚴陵山, gọi nơi ông ngồi câu ở sông Phú Xuân là “Nghiêm Lăng lại” , gọi tảng đá nơi ông ngồi câu là “Nghiêm Tử Lăng điếu đài” 嚴子陵钓台. Thời Bắc tống, quan đại phu Phạm Trọng Yêm 范仲淹 đă cho trùng tu “Nghiêm tiên sinh từ đường” bên bờ sông Phú Xuân ở Đồng Lư , đồng thời viết bài Nghiêm tiên sinh từ đường kí 嚴先生祠堂 để lưu niệm.

- thương  : chỉ chung các con sông ,nghĩa khác là sự lạnh lẽo.

- Lục Hợp (Hiệp)六合 : bên Trung Hoa hiện nay có huyện Lục Hợp ở Giang Tô nhưng Lục Hiệp cũng là cách gọi sáu nước chư hầu trong Thất hùng liên kết nhau để đánh Tần : Bảy nước lớn thời Chiến Quốc (thế kỷ thứ 3 TCN) (戰國七雄/战国七雄 Chiến Quốc thất hùng), gồm có Tề , Sở, Yên, Hàn, Triệu , Ngụy  và Tần . Đó là thời của nhiều anh hùng hào kiệt trọng nghĩa khí ,cùng chung ḷng muốn diệt Tần cuồng bạo và Lư Bạch lại là người rất mến mộ những người như thế ( xem: Hiệp khách hành ,Kinh Hạ B́ dĩ kiều hoài Trương Tử Pḥng ,Phù Phong hào sĩ ca ..v..v.. của Lư Bạch bên trên )

- bạch vân 白雲 : mây trắng ,cũng để chỉ những người xa lánh cuộc đời ,giữ khí tiết trong sáng như Nguyễn Bỉnh Khiêm ở nước ta (tác phẩm chính là Bạch Vân Am Thi Tập ). Một số sách ghi là :" Tâm dữ phù vân nhàn " 心與浮雲閑 (Ḷng vẫn thong dong nhàn hạ giữa những đổi thay ,biến dời như mây nổi )

- trường ấp 長揖 : vái dài để từ chối . 

- sái  : âm của tẩy (chùi rửa, lau sạch ) có nghĩa là lạnh run .

- mạc nhiên 邈然 : xa thẳm ,xa xôi ,rất xa...

- phan  : bám víu ,vịn kéo ,nhờ cậy .

 

 

 

 

 

 BÀI 56

 

 

 古風 其十八

 

CỔ PHONG KỲ THẬP BÁT

 

 1 天津三月時 , Thiên Tân tam nguyệt th́ ,

 千門桃與李。 Thiên môn đào dữ lí .

 朝為斷腸花 , Triêu vi đoạn trường hoa ,

 4 暮逐東流水。 Mộ trục đông lưu thủy .

 前水復後水 , Tiền thủy phục hậu thủy ,

 古今相續流。 Cổ kim tương tục lưu .

 新人非舊人 , Tân nhân phi cựu nhân ,

 8 年年橋上游。 Niên niên kiều thượng du .

 雞鳴海色動 , Kê minh hải sắc động ,

 謁帝羅公侯。 Yết đế la công hầu .

 月落西上陽 , Nguyệt lạc tây Thượng Dương ,

 12 余輝半城樓。 Dư huy bán thành lâu .

 衣冠照雲日 , Y quan chiếu vân nhật , 朝下散皇州。 Triều hạ tán hoàng châu .

 鞍馬如飛龍 , An mă như phi long ,

 16 黃金絡馬頭。 Hoàng kim lạc mă đầu .

 行人皆辟易 , Hành nhân giai tích dịch ,

 志氣橫嵩丘。 Chí khí hoành Tung khâu .

 入門上高堂 , Nhập môn thượng cao đường ,

 20 列鼎錯珍羞。 Liệt đỉnh thố trân tu .

 香風引趙舞 , Hương phong dẫn Triệu vũ ,

 清管隨齊謳。 Thanh quản tùy Tề âu .

 七十紫鴛鴦 , Thất thập tử uyên ương ,

 24 雙雙戲庭幽。 Song song hí đ́nh u .

 行樂爭晝夜 , Hành nhạc tranh trú dạ ,

 自言度千秋。 Tự ngôn độ thiên thu ,

 功成身不退 , Công thành thân bất thối ,

 28 自古多愆尤。 Tự cổ đa khiên vưu .

 黃犬空嘆息 , Hoàng khuyển không thán tức ,

 綠珠成舋仇。 Lục châu thành hấn cừu .

 何如鴟夷子 , Hà như si di tử ,

 32 散髮棹扁舟。 Tán phát trạo biển chu. 

 

 李白 Lư Bạch

 

 

 

 

 Dịch nghĩa :

 

 Cổ phong bài thứ mười tám .

 

 Vùng Thiên Tân vào lúc tháng ba ,ngàn ngôi nhà với những cây đào cây mận (đang rộ hoa) .Sáng sớm làm những bông hoa nở cũng đớn đau xé ḷng , thế mà buổi chiều tối đă theo ḍng nước xuôi chảy về phía đông ! Con sông thuở trước đây quay trở lại thành con sông đời sau. Xưa và nay theo nhau như ḍng nước xuôi chảy ; người mới đến đây không phải là người xưa nữa! Hằng năm trên cầu nhiều người vẫn rong chơi .(C .1-8)

 Tiếng gà gáy làm cho sắc mầu của biển cả lay động . Chầu vua (trong triều) có rất nhiều bậc công hầu .Vầng trăng đă lặn xuống phía tây của cung điện Thượng Dương c̣n lại ánh sáng rực rỡ chiếu vào nửa lầu cao của thành tŕ .Áo mũ (các quan) như mây trời tản mát khắp đất vua sau buổi thiết triều . Họ lên yên cưỡi ngựa như rồng bay với chiếc dàm bằng vàng tṛng ở đầu ngựa .Người đi đường đều dạt tránh họ . Ḷng dạ khí phách của họ (tưởng như)ngang ngữa với dăy núi Tung ! Họ đi vào nhà hướng đến căn pḥng cao ráo bày biện vạc đỉnh đặt vào những thức ăn quư hiếm .Những luồng gió thơm tho dẫn đến điệu múa của nước Triệu cùng với tiếng sáo thanh thoát mang theo bài dân ca nước Tề .(C . 9-22)

 Cặp uyên ương tuổi bảy mươi áo vải màu tía ,đôi lứa cười đùa ở sân trong vắng lặng. Họ vui chơi giành hết ngày lại đêm thâu và tự nói rằng ḿnh vượt qua bến bờ ngàn thu !(C. 23-26).

 Khi việc đă thành nhưng thân không chịu lui về; từ xưa đă lắm chuyện sai lầm như thế! Con chó màu vàng lặng lẽ than thở ! Viên ngọc màu xanh lục thành sự rạn nứt hờn oán ! Tại sao không như kẻ nâng chén rượu sống b́nh dị, xơa tóc buông bỏ mọi thứ để chèo con thuyền nhỏ kia !(C.27 -32).

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 CỔ PHONG BÀI MƯỜI TÁM .

 

 1 Thiên Tân đang lúc tháng ba ,

 Rộ đào cùng mận ngàn nhà thắm bông .

 Sớm làm hoa nở xé ḷng ,

 4 Xế chiều theo nước xuôi ḍng về đông .

 Ḍng sau ḍng trước con sông ,

 Xưa nay trôi măi nối cùng với nhau .

 Đây người mới ,cũ c̣n đâu ,

 8 Hằng năm nhàn dạo trên cầu thong dong.

 Tiếng gà màu biển động rung ,

 Chầu vua lắm kẻ công hầu đó đây !

 Thượng Dương trăng lặn về tây ,

 12 Nửa thành lầu sáng c̣n bày ánh soi .

 Chiếu vào mũ áo mây trời ,

 Đất vua tản mát khắp rồi chầu xong .

 Bay lên yên ngựa như rồng !

 16 Dàm vàng buộc ngựa tṛng lên đằng đầu .

 Đi đường người hoảng lùi mau !

 Chí người ,khí phách khác nào núi Tung !

 Pḥng cao hướng đến vào trong ,

 20 Cho bày vạc đỉnh thức ngon đặt vào .

 Gió lùa múa Triệu thơm sao !

 Ca Tề tiếng sáo theo nhau trong vời !

 Uyên ương áo tía bảy mươi ,

 24 Lứa đôi sân vắng giỡn cười lao xao .

 Vui ngày giành hết đêm thâu ,

 Tự cho bờ bến ngàn thu vượt rồi !

 Việc thành ,thân chẳng chịu lui ,

 28 Từ xưa lắm chuyện bao người lầm sai ,

 Chó vàng lặng lẽ thở dài ,

 Ngọc xanh rạn nứt thành đây hận tràn !

 Như người b́nh dị ,chén nâng ,

 32 Thuyền con xơa tóc thong dong mái chèo !

 

 Chú thích :

 

 - Thiên Tân 天津 : là vùng đất có từ thời cổ đại bên Trung Hoa ,nằm về phía đông trên vùng đồng bằng do Hoàng Hà phát nguyên từ phía tây chảy ra biển Bột Hải bồi đắp .Từ thời Chiến quốc (thế kỷ thứ 5 TCN) nơi đây đă có dân cư sinh sống .Thiên Tân cũng là nơi có bến cảng để thuyền bè qua lại trao đổi mua bán hàng hóa từ xa xưa.

 - câu 3&4 : Triêu vi đoạn trường hoa , 朝為斷腸花 , Mộ trục đông lưu thủy 暮逐東流水..... của Lư Bạch có lẽ là nguồn cảm hứng cho nhiều văn nhân nước ta .Chẳng hạn Nguyễn Du trong bài Hành lạc từ kỳ nhị 行樂詞其二 làm sau bài này của Lư Bạch khoảng một ngàn năm đă có những suy nghĩ tương tự như Lư Bạch về sự biến dịch và vô thường của cuộc sống và con người : Sơn thượng hữu đào hoa 山上有桃花 , Xước ước như hồng ỷ 綽約如紅綺。Thanh thần lộng xuân nghiên 清神弄春妍, Nhật mộ trước nê trĩ 日暮著泥涬. (Trên núi có hoa đào xinh đẹp như tấm lụa hồng .Lúc sáng sớm c̣n đùa giỡn xinh tươi với mùa xuân,chiều hôm đă đến với bùn dơ).Xem Thanh Hiên Tiền hậu tập, bài 41/D A Sơn /ninh-hoa.com) - trục  : đuổi theo ,lần lượt ,đuổi đi ,tranh giành....

 - Thượng Dương 上陽 : tên một cung điện nhà Đường là nơi Đường Minh Hoàng dùng để tiếp các quan vào yết kiến.

 - yết đế 謁帝 : diện kiến,hầu chuyện với vua, chầu vua...

 - chí khí 志氣 : chỗ đặt tâm trí vào đó ,chí nguyện và khí phách của một người...

 - Tung khâu 嵩丘 : chỉ ngọn Tung Sơn là một trong năm ngọn núi( Ngũ Nhạc) nằm ở Đăng Phong , Trịnh Châu , Hà Nam gần bên Hoàng Hà được người Trung Hoa xem là nơi linh thiêng v́ có các kẻ đắc đạo hay thần tiên ẩn dật .Xưa kia nó có được xem là ngọn núi nằm giữa trung tâm của nước Trung Hoa có tên là Trung Nhạc trên đỉnh có ngọn Tuấn Cực là nơi cao nhất tiếp giáp với trời ! Ở đây ,Lư Bạch châm biếm những ông quan có tước vị chút đỉnh tự cho ḿnh tài trí giỏi giang ngang với bậc đạo cao đức trọng đang ẩn cư trên ngọn núi Tung này !

 - liệt  : bày biện ,bày trận , thứ hạng ,ngôi thứ....

 - khiên vưu 愆尤 : sai lầm ,lầm lỗi...

 - thố  : âm của Thác (mạ kim loại ,sai lầm ,lẫn lộn ,vẻ cẩn thận...) .Thố là bày biện ,đặt vào, đặt để ,loại bỏ ,thi hành....

 - âu  : ca ngợi ,ca tụng ,dân ca của nước Tề thời Chiến quốc.

 - hấn  : vết nứt rạn trên viên ngọc hay mu rùa ,sành sứ...

 - si di tử 鴟夷子: người thích nâng chén rượu uống với cuộc sống b́nh dị ,đơn giản...

 - tán phát 散髮 : xơa tóc ra , tóc không ràng buộc ,tóc không búi lại... Nguyễn Du trong Nam Trung Tạp Ngâm với bài " Giang đầu tản bộ kỳ nhất 江頭散步其一 " có câu : Tán phát cuồng ca tứ sở chi 散髮狂歌恣所之 cho thấy thái độ phóng túng ,không muốn bị trói buộc của Tố Như tiên sinh khi ra làm quan nhà Nguyễn....(xem Nam Trung Tạp Ngâm ,bài.29/D.A Sơn/ninh-hoa.com )

 

 

 

 

 

 BÀI 57

 

 

 古風 其十

 

CỔ PHONG KỲ THẬP

 

 1 齊有倜儻生 , Tề hữu thích thảng sinh ,

 魯連特高妙。 Lỗ Liên đặc cao diệu .

 明月出海底 , Minh nguyệt xuất hải để ,

 4 一朝開光曜。 Nhất triêu khai quang diệu .

 卻秦振英聲 , Khước Tần chấn anh thanh ,

 後世仰末照。 Hậu thế ngưỡng mạt chiếu .

 意輕千金贈, Ư khinh thiên kim tặng ,

 8 顧向平原笑。 Cố hướng B́nh Nguyên tiếu .

 吾亦澹蕩人 , Ngô diệc đạm đăng nhân ,

 10 拂衣可同調。 Phất y khả đồng điệu .

 

 李白 Lư Bạch

 

 

 

 Dịch nghĩa :

 

 Cổ phong bài thứ mười .

 

 Có người người nước Tề sống thong dong ,không chịu buộc ràng .Chỉ riêng Lỗ Liên 

là người tài giỏi lại cao khiết hơn hẳn ! Trăng sáng nhô lên từ đáy biển ,một sớm nao đă bừng sáng lên ! Việc dẹp được nhà Tần gây tiếng vang tốt đẹp ,chiếu soi măi cho người đời sau ! Ḷng coi nhẹ ngàn vàng được ban tặng ,quay đầu lại cười ngạo B́nh Nguyên quân ! Ta là người đơn giản , mê chuộng sự yên tĩnh lại là kẻ đă giũ áo nên cũng có thể ḥa hợp cùng nhau!

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 CỔ PHONG BÀI THỨ MƯỜI

 

 1 Người Tề sống rất thong dong ,

 Lỗ Liên hơn hẳn tài ông cao vời !

 Trăng lên đáy biển sáng ngời ,

 4 Sớm nao lấp lánh ánh trời mở bung ,

 Dẹp Tần tiếng đẹp vang lừng !

 Sáng soi ngưỡng mộ suốt cùng đời sau .

 Ngàn vàng ban tặng nhẹ khào ,

 8 Quay đầu nh́n lại cười ào B́nh Nguyên .

 Ta mê đơn giản lặng yên ,

 10 Đă cùng giũ áo ḥa bên nhau rồi !

 

 Chú thích :

 - Tề hữu 齊有: cách gọi thân mật với người bạn Tề . Nước Tề là một trong những nước mạnh thời Chiến quốc (xem CT bài 55 trên) là một công quốc chư hầu được nhà Chu ban cho Khương Thượng tức Khương Tử Nha khoảng thế kỷ 11 TCN (khoảng 1046 TTN) v́ có công bảo vệ nhà Chu được gọi là Khương Tề .Năm 385 TCN ,Điền Ḥa ,giữ quyền lực trong triều tiếm quyền xưng là Tề vương (c̣n được gọi là Điền Tề ) buộc Chu An vương phải công nhận .Năm 221 ,Tề là nước cuối cùng trong Lục Hiệp bị nhà Tần diệt tiến tới việc thống nhất Trung Hoa .

 - thích thảng 倜儻 : thong dong ,tự do ,không chịu ràng buộc ....

 - Lỗ Liên 魯連 : tức Lỗ Trọng Liên ,một nhân vật thời Chiến quốc người nước Tề được Lư Bạch đề cao v́ phong cách cao thượng và có công trong việc đánh Tần (xem : Tặng ṭng huynh Tương Dương thiếu phủ hạo - Lư Bạch).Ông sống ẩn dật không thích ra làm quan .Khi có việc sang Triệu gặp lúc quân Tần đang vây hăm thành rất gấp. Sứ vua Ngụy là Tôn Viên Diễn đến Triệu bàn việc tôn vua Tần làm hoàng đế để hoăn binh.Trọng Liên t́m gặp sứ nước Ngụy cương quyết chống lại việc Tần xưng đế và tham gia với các tướng Triệu đẩy lui quân Tần ra xa hơn năm mươi dặm rồi 

buộc quân Tần phải rút về nước .B́nh Nguyên quân muốn tặng ông ngàn lượng vàng.Ông khẳng khái từ chối nói rằng cái quư nơi kẻ sĩ là khi gặp sự an nguy cùng nhau chống lại chứ không phải nhận quà biếu như hạng con buôn (xem Đông Châu Liệt Quốc )

 - đặc  : chỉ ,hơn hẳn ,đặc biệt ,riêng ,đôi lứa...

 - anh  : tốt đẹp ,tinh anh, loài hoa đẹp...

 - mạt chiếu 末照 : chiếu soi khắp cùng ,chiếu soi măi...

 - B́nh Nguyên 平原 : tức B́nh Nguyên quân tên thật là Triệu Thắng 赵胜, là Tướng quốc nước Triệu thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Hoa, dưới thời Triệu Huệ Văn vương và Triệu Hiếu Thành vương. Ông là một tôn thất có quyền lực là một trong bốn công tử thời Chiến Quốc :Mạnh Thường quân Điền Văn nước Tề ,Tín Lăng quân Ngụy Vô Kỵ nước Ngụy ,Xuân Thân quân Hoàng Yết nước Sở và B́nh Nguyên quân Triệu Thắng nước Triệu.

 - đạm đăng nhân 澹蕩人 : người chuộng sự yên tĩnh ,lặng lẽ lại ưa sự tự do, không thích ràng buộc...

 - phất y 拂衣 : giũ áo ,hành vi từ bỏ danh lợi để sống tự do không bị ràng buộc...

 

 

 

 

 

 

 

 

DƯƠNG ANH SƠN
Sài G̣n,
12/2017

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |          www.ninh-hoa.com