trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

  

 

Thơ LƯ BẠCH

DƯƠNG ANH SƠN

 

 

 
 

BÀI 35

 

Bài 1

 

憶東山其一

 

 不向東山久, 

 薔薇幾度花。 

 白雲還自散, 

 明月落誰家。

 

 李白

 

 

 

ỨC ĐÔNG SƠN KỲ NHẤT

 

Bất hướng Đông sơn cửu,

Tường vi kỷ độ hoa ?

Bạch vân hoàn tự tán,

Minh nguyệt lạc thùy gia ?

 

Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa :

 

 Nhớ Đông Sơn (bài một).

 

Đă lâu không quay về Đông Sơn. Cây tường vi đă đơm hoa mấy lần ? Đám mây trắng có c̣n tản mát bay không ? Vầng trăng sáng (thuở trước) giờ đă gieo rụng xuống nhà của người nào đây ?!

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 NHỚ ĐÔNG SƠN .

 

Lâu không về lại Đông Sơn,

Cây tường vi đă hoa đơm bao lần ?

Có c̣n mây trắng tản giăng ?

 Nhà ai rơi rụng vầng trăng sáng ngời ?!

 

 

 Chú thích :

 

 - Đông Sơn 東山 : núi ở tây nam huyện Thương Ngu, Chiết Giang, Trung Hoa.

 - hướng  : quay về, xoay về, ngoảnh về, hướng về...

 - tường vi 薔薇 : loài hoa cánh mỏng thân leo, có nhiều màu như hồng, hồng nhạt, tím đỏ nhạt..v..v..c̣n gọi là tử vi (cùng họ với hoa bằng lăng) có nhiều ở các vùng phía đông nam, tây nam Trung Hoa và nhiều nước châu Á.

 - kỷ độ 幾度 : bao lần, mấy lần ...

 - hoàn  : vẫn c̣n, quay trở lại, né tránh ...

 

 

 

 

 

Bài hai

 

 

 憶東山其二

 

 我今攜謝妓, 

 長嘯絕人群。 

 欲報東山客, 

 開關掃白雲。

 

 李白

 

 

 

 ỨC ĐÔNG SƠN KỲ NHỊ

 

Ngă kim huề Tạ kỹ,

Trường khiếu tuyệt nhân quần. 

Dục báo Đông Sơn khách,

Khai quan tảo bạch vân.

 

 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa ;

 

 

 Nhớ Đông Sơn (bài hai).

 

 Nay d́u nàng kỹ nữ của nhà họ Tạ theo ta ;(ta) hú dài dứt bỏ hẳn loài người . Muốn báo tin cho người khách ở (núi) Đông Sơn hăy mở cửa ra để quét làn mây trắng .

 

 Tạm dịch :

 

 

NHỚ ĐÔNG SƠN ( bài hai).

 

 Nay ta d́u gái Tạ,

 Hú dài, bỏ loài người .

 Khách Đông Sơn muốn báo,

 Mở quét mây trắng trôi .

 

 Chú thích :

 

 - Tạ kỹ 謝妓 : những cô gái làm nghề múa hát hầu hạ trong nhà Tạ An .Tạ An 謝安 ( 320 - 385), tên tự là An Thạch (安石), nguyên quán ở huyện Lịch Dương, T.H. Ông là nhà chính trị, quân sự lớn làm đại thần dưới thời Đông Tấn trong lịch sử Trung Hoa. Ngay từ thời trẻ, Tạ An đă tỏ ra là người thông minh. Khi trưởng thành, ông từ chối chức quan nhỏ được nhận, lui về ẩn cư ở Đông Sơn vui thú điền viên cùng các cô kỹ nữ. Măi đến năm 360, khi tuổi gần 40, Tạ An theo lời mời gọi của triều đ́nh mới tái xuất, trở lại làm quan, giữ chức Tư mă triều Đông Tấn. Dần dà họ Tạ nắm nhiều quyền bính, xây dựng chính sách giữ yên ổn cho Đông Tấn suốt hai mươi năm cùng với vơ quan Hằng Xung. Tạ An c̣n được người đời đặt tên là "người khách Đông Sơn" (Đông Sơn khách )

 - trường khiếu 長嘯 : tiếng hú, tiếng rống kéo dài, lanh lănh tương tự như tiếng vượn hú ! (khác với trường tức 長息 là tiếng thở dài ).

 - tuyệt  : dứt hẳn, bỏ hết, tiêu diệt, chỉ có một không hai, cạn hết...

 - nhân quần 人群 :loài người, đám đông, đám người quần tụ với nhau...

 

 

 

 

 

 

 BÀI 36

 

靜夜思

 

 床前看月光, 

 疑是地上霜。 

 舉頭望明月, 

 低頭思故鄉。

 

 李白

 

 

 

 

 TĨNH DẠ TỨ

 

Sàng tiền khan nguyệt quang,

Nghi thị địa thượng sương .

Cử đầu vọng minh nguyệt,

Đê đầu tư cố hương .

 

Lư Bạch 

 

 Dich nghĩa ;

 

 Nghĩ ngợi trong đêm vắng .

 

 Nh́n ánh trăng chiếu sáng trước chiếc giường nằm ngủ. Cứ ngỡ là trên mặt đất sương giăng tỏa nơi nơi. Ngẩng đầu lên : nh́n vầng trăng sáng. Cúi đầu xuống :ḷng thương nhớ quê nhà dâng trào.


 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 

 NGHĨ NGỢI TRONG ĐÊM VẮNG .
 

 Nh́n trăng chiếu sáng trước giường,

 Ngỡ là mặt đất tỏa sương la đà .

 Ngẩng nh́n trăng sáng bao la,

 Cúi đầu thương nhớ quê nhà không nguôi .


 

 Chú thích
 

 - tứ  : ư tứ, nghĩ ngợi những vấn đề trong ḷng, buồn thương, thương nhớ, suy nghĩ...Nhiều khi vẫn thường dùng nghĩa chữ tứ như âm của nó là tư.

 - nghi thị 疑是 : ngỡ là, nghi là, nghi ngờ là...

 

 

 

 

 

 BÀI 37

 

 

 秋思 ( 其一)

 

燕支黃葉落, 

妾望自登臺。 

海上碧雲斷, 

單于秋色來。 

胡兵沙塞合, 

漢使玉關回。 

征客無歸日, 

空悲蕙草摧。

 

 李白

 

 

 

 

 THU TỨ (bài 1)

 

 1 Yên Chi hoàng diệp lạc,

 Thiếp vọng tự đăng đài .

 Hải thượng bích vân đoạn,

 4 Thiền Vu thu sắc lai,

 Hồ binh sa tái hợp .

 Hán sứ Ngọc Quan hồi,

 Chinh khách vô quy nhật .

 8 Không bi huệ thảo tồi .

 

 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa ;

 

 Ư thu (bài 1)

 

 Vùng đất Yên Chi lá vàng đă rơi rụng. Thiếp lên lầu để từ đây trong ngóng chốn xa xôi : (Thiếp như nh́n thấy ) mây xanh trên biển chia cắt rời rạc ; vùng Thiền Vu sắc thu đă đến rồi ; quân lính Hồ tụ họp nhau nơi băi cát ngoài nơi biên tái ; sứ nhà Hán đă quay trở về từ ải Ngọc . Người khách đi xa không có ngày trở lại . Lặng lẽ buồn thương cho cây cỏ huệ phải hao gầy, tàn phai !

 

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 

 Ư THU (bài 1)

 

 1 Yên Chi rơi rụng lá vàng,

Lên đài, thiếp ngóng miên man trông vời :

Mây xanh trên biển chia rời,

 4 Sắc thu đă đến nơi vùng Thiền Vu .

Họp nhau cát ải lính Hồ,

Ngọc Quan sứ Hán về từ ải đây .

Khách đi trở lại không ngày,

 8 Lặng buồn cỏ huệ hao gầy tàn phai !

 

 

 Chú thích :

 

 - Yên Chi 燕支 : vùng đất phía bắc Trung Hoa, giáp với ải Ngọc Quan là nơi sinh sống của các bộ tộc Đột Quyết, Hung Nô, Hồ Đột... thường đem quân xuống trung nguyên đánh phá nên nhà Hán phải thường xuyên bắt trai tráng vào lính để đối phó.

 - vân đoạn 雲斷 : mây bị chia cắt thành từng đoạn, tách rời ra...

 - Thiền Vu 單于: tên gọi các vua của bộ tộc Hung Nô, Đột Quyết cũng dùng để chỉ các vùng 

 các bộ tộc du mục trên sinh sống chiếm đóng.

 - tái  : nơi canh gác, ải đồn vùng biên giới. 

 - chinh khách 征客 : người khách đi xa . 

 - không bi 空悲 : lặng lẽ với nỗi buồn sầu .

 - huệ thảo 蕙草 : một loại cỏ thơm, cây bông huệ có hương thơm nhẹ nhàng tượng trưng cho sự thanh thoát, trong trắng.

 - tồi  : tàn tạ, hủy hoại, bẻ găy, rút lui, đẩy, đến nơi, buồn bă bi thương ...

 

 

 

 

 

 秋思 (其二)

 

 秋風清, 

 秋月明. 

 落葉聚還散, 

 寒鴉棲复驚. 

 相思相見知何日, 

 此時此夜難為情.

 

   

 

 

 

 THU TỨ (bài 2)

 

 Thu phong thanh,

 Thu nguyệt minh .

 Lạc diệp tụ hoàn tán,

 Hàn nha thê phục kinh .

 Tương tư, tương kiến tri hà nhật ?

 Thử th́, thử dạ nan vi t́nh ...

 

 Lư Bạch

 

 

 Dịch nghĩa

 

 

 Ư thu (bài 2)

 

 Gió thu trong lành, mát mẻ. Trăng thu sáng sủa . Lá vàng rơi rụng tụ lại rồi tản mát rời nhau . Con quạ ngủ lạnh lẽo bỗng lại giật ḿnh . Thương nhớ nhau nhưng biết ngày nào mới gặp nhau ! Đêm này vào thời gian ấy, t́nh cảm dâng trào sâu đậm!

 

Tạm chuyển lục bát ;

 

 Ư THU ( bài 2)

 

Trăng thu sáng,

Gió trong vời,

 Rụng rơi lá tụ lại rời nhau ra.

 Giật ḿnh quạ ngủ sa đà,

 Nhớ nhau, mong gặp biết là ngày nao ?!

 T́nh nồng đêm ấy thuở nào.....

 

 Chú thích :

 

 - Đây là bài thơ Cổ phong làm theo thể" tam ngũ thất ngôn" gồm hai câu ba chữ, tiếp đến hai câu năm chữ và cuối là hai câu bảy chữ .

 

 - nan vi t́nh 難為情 : t́nh cảm nồng nàn sâu đậm khó tả.


 

 


 

 BÀI 38


 

 贈錢徵君少陽

 

 1 白玉一杯酒, 

 綠楊三月時。 

 春風餘幾日? 

 4 兩鬢各成絲。 

 秉燭唯須飲, 

 投竿也未遲。 

 如逢渭川獵, 

 8 猶可帝王師。

 

   

 

 

 

 TẶNG TIỀN TRƯNG QUÂN THIẾU DƯƠNG

 

 1 Bạch ngọc nhất bôi tửu,

 Lục dương tam nguyệt th́ .

 Xuân phong dư kỷ nhật,

 4 Lưỡng mấn các thành ti .

 Bỉnh chúc duy tu ẩm,

 Đầu can dă vị tŕ .

 Như phùng Vị xuyên liệp (lạp),

 8 Do khả đế vương si (sư) .

 

 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa :

 

 

 Tặng Tiền trưng quân Thiếu Dương. 

 

Uống một ly rượu rót trong chén ngọc màu trắng. Hàng cây dương màu xanh lục đang lúc tháng ba . Gió xuân c̣n dư được bao nhiêu ngày ? Mái tóc hai bên đều đă thành tơ bạc trắng ! Chong đèn lên chỉ cần uống rượu thôi ! Buông cần câu cá cũng chưa muộn màng !

Nếu đi săn ở sông Vị gặp nhau, vẫn có thể được làm thầy của vua chúa !

 

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

TẶNG TIỀN TRƯNG QUÂN THIẾU DƯƠNG.

 

 1 Một bôi ngọc trắng rượu đong,

 Hàng dương xanh thắm lúc c̣n tháng ba .

 Gió xuân c̣n mấy bữa qua,

 4 Đôi bờ mái tóc đă là tơ mang .

 Nên chong đèn uống say tràn,

 Buông câu chưa phải muộn màng lắm đâu !

 Đi săn sông Vị gặp nhau,

 8 Làm thầy vua được há nào lại không !

 

 

Chú thích :

 

 - trưng quân 徵君 : chức vụ đón tiếp những kẻ sĩ được mời vào cung.

 - tu  : chờ đợi, nên .cần, gấp, thoáng chốc...

 - đầu can 投竿 : buông cần câu cá, thả cần câu buông dây để câu cá.

 - tŕ  : muộn, đi chậm, chậm trễ, chậm lụt...

 - Vị xuyên liệp 渭川獵 : thủ lĩnh bộ tộc nhà Chu là Tây Bá Cơ Xương khi chưa khởi nghĩa chống nhà Thương của Trụ vương khi đi săn gặp Khương Thượng 姜尚 tự là Tử Nha 子牙 đang ngồi câu cá bên ḍng sông Vị. Cơ Xương nhớ lời dặn của bậc trưởng thượng trước đây là Thái công nhà Chu báo trước sẽ gặp người tài khi đi săn.Cơ Xương hỏi han và bàn luận biết Tử Nha là người có thực tài nên cho xe rước về tôn làm thầy. Khương Thượng giúp nhà Chu chấn chỉnh việc nội trị, rèn luyện binh lính trở nên một nước mạnh .Cơ Xương mất, con là Cơ Phát lên thay liên kết với các chư hầu khác tiêu diệt được nhà Thương của Trụ vương bạo tàn.Khương Tử Nha có công hàng đầu khi dẫn quân đánh thẳng kinh đô nhà Thương diệt vua Trụ, mở rộng lănh thổ và cơ nghiệp cho nhà Chu được 800 năm .Ông được tôn làm Thái Công Vọng 太公望 ( mong ước của Thái công) như là một khai quốc công thần nhà Chu.

 

 

(C̣n Tiếp)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

DƯƠNG ANH SƠN
Sài G̣n, 6/2017

 

 

 

 

 

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com