trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

  

 

Thơ LƯ BẠCH

DƯƠNG ANH SƠN

 

 

 
 

BÀI 30

 

 嘲魯儒

 

 1 魯叟談五經, 

 白髮死章句。 

 問以經濟策, 

 4 茫如墜煙霧。 

 足著遠遊履, 

 首戴方山巾。 

 緩步從直道, 

 8 未行先起塵。 

 秦家丞相府, 

 不重褒衣人。 

 君非叔孫通, 

 12 與我本殊倫, 

 時事且未達, 

 14 歸耕汶水濱。

 

 李白

 

 

 

TRÀO LỖ NHO.

 

 1 Lỗ tẩu đàm ngũ kinh,

 Bạch phát tử chương cú.

 Vấn dĩ kinh tế sách,

 4 Mang như trụy yên vụ.

 Túc trước "Viễn du " lư,

 Thủ đái " Phương sơn " cân.

 Hoăn bộ ṭng trực đạo,

 8 Vị hành tiên khởi trần.

 Tần gia thừa tướng phủ,

 Bất trọng bao y nhân.

 Quân phi Thúc Tôn Thông,

 12 Dữ ngă bản thù luân !

 Thời sự thả vị đạt,

 14 Quy canh Vấn thủy tân !

 

 Lư Bạch

 

 

 Dịch nghĩa :

 

 

 Giỡn cợt ông đồ nước Lỗ.

 

 Ông già nước Lỗ bàn luận năm cuốn kinh (của đạo nho). Mái tóc trên đầu bạc trắng v́ những câu văn chết dở ! Hỏi về kế sách để giúp đời, ông mù mịt như khói tỏa sương mờ. Chân (ông) mang giày "Viễn Du", c̣n đầu đội chiếc mũ "Phương Sơn" bước đi chậm răi theo con đường thẳng !

 Chưa đi mà bụi bặm đă bắt đầu tung lên. Phủ thừa tướng nhà Tần không kính trọng

những người tay áo rộng ! Anh chẳng phải là Thúc Tôn Thông. So với tôi, vốn cũng đă khác nhau.Chuyện đời xảy ra cũng chưa thông hiểu hết.Thôi th́ hăy về đi cày bên bờ sông Vấn ! 

 

 

 Tạm chuyển lục bát

 

 GIỠN CỢT ÔNG ĐỒ NƯỚC LỖ.

 

 1 Năm kinh già Lỗ đem bàn,

 Bạc đầu chết dở câu văn nghĩa vời !

 Hỏi về cách thức giúp đời,

 4 Cứ như khói tỏa sương rơi mịt mờ !

 Giày mang chân xỏ "Viễn Du",

 Mũ "Phương Sơn" đội khư khư ở đầu !

 Thẳng đường chậm răi theo nào !

 8 Chưa đi trước đă khởi đầu bụi tung.

 Phủ quan Thừa tướng nhà Tần,

 Người tay áo rộng đâu cần trọng chi.

 Thúc Tôn : anh sánh được ǵ !

 12 Với tôi, vốn cũng khác đi hạng này !

 Chuyện đời chưa hiểu lắm thay !

 14 Về bên sông Vấn ráng cày ruộng thôi !

 

 

 Chú thích :

 

 - trào  : bỡn cợt, đùa giỡn, diễu cười..

 - Lỗ nho 魯儒 : nhà nho nước Lỗ.Những người theo học và áp dụng những lời dạy của Khổng Tử, người nước Lỗ, thường được gọi là đạo nho hay Lỗ nho.Ở đây cũng có nghĩa là người bạn của Lư Bạch là người nước Lỗ và có theo học đạo nho của Khổng Tử nước Lỗ. Khổng Tử có tên là Khổng Khâu 孔丘, tự là Trọng Ni 仲尼 sinh khoảng 551 TCN tại ấp Trâu, thôn Xương B́nh nước Lỗ (nay là huyện Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Hoa) được người Trung Hoa tôn xưng là Vạn Thế Sư Biểu 萬世師表 ( người thầy gương mẫu muôn đời ).Ông cũng được xem là một trong những triết gia vĩ đại của nhân loại và là nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng đối với đời sống đạo đức, chính trị của nhiều nước Á đông như Trung Hoa, Nhật Bản, Cao Ly, Việt Nam...v.v. trong một thời gian dài hơn cả ngàn năm. Đạo nho của Trung Hoa khi bàn về nhân cách, đạo đức. làm người..v..v...cùng với nền văn chương đa dạng với việc đề cao chân thiện mỹ vẫn được xem là tinh túy góp phần xây dựng nhân loại tốt đẹp hơn.C̣n văn hóa kiểu như văn hóa của "Trung quốc bây giờ" không có tính nhân bản, dân chủ, bóp nghẹt quyền con người và những giá trị đích thực đưa nhân loại tiến bộ hơn, văn minh hơn. Nền tảng của "kiểu Trung quốc bây giờ "đặt trên sự gian dối, không bao giờ biết tôn trọng sự thật y như sự bạo tàn, hung hăn của các triều đại "Trung hoa đại hán"của các vua chúa xưa. " Kiểu Trung quốc" gian trá, tàn bạo, xấu xí như thế ít nhiều thừa hưởng từ các triều đại trong lịch sử và rất khác xa những tư tưởng, nền văn học nghệ thuật đáng học hỏi của cha ông thời xa xưa của họ.Rơ ràng những cái hay cái đẹp trong thơ văn của Lư Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy, Bạch Cư Dị..v..v. hay những tư tưởng nhân bản của Khổng Tử, Mạnh Tử, tư tưởng sâu xa, thâm thúy của Lăo Tử..v..v.. đứng tách rời với con đường tơ lụa "kiểu Trung quốc "hiện thời !

 - ngũ kinh 五經 : Công việc của Khổng Tử trong cuộc đời chủ yếu là đi du thuyết, dạy học tṛ và san định 删定 sách vở (san định : bỏ những chỗ rườm rà, nghĩa mơ hồ, định lại cho chuẩn xác để sách vở có giá trị giáo dục lâu dài ).Bộ sách được Khổng Tử san định sau đây sinh thời chỉ được đặt gọn với tên là : Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu.(6 cuốn). Các đời sau tôn xưng Khổng Tử lên hàng bậc thánh nhân nên gọi là KINH.(Kinh là những sách do các bậc chân tu, hoặc thánh hiền viết ra hay do các đệ tử ghi chép các lời dạy của họ như Trường Bộ Kinh của đạo Phật, Đạo Đức Kinh của Lăo Tử..v..v..) Năm cuốn kinh sách chủ yếu của đạo nho do Khổng Tử sưu tập và sắp xếp c̣n lại sau thời Tần Thủy Hoàng gồm có :

1/ Kinh Thi (詩經): là những sưu tập có chọn lựa và san định của Khổng Tử về thơ ca dân gian.

2/ Kinh Thư(書經) : Khổng Tử chọn những sự kiện lịch sử, các biến cố hay các truyền thuyết của các triều đại cổ san định như một công việc sử học và mang tính giáo dục vào đó khi đề cao các đời vua đem lại thái b́nh an vui cho dân chúng như đời vua Nghiêu, vua Thuấn cũng như phê phán những đời vua tàn ác gây ra nhiều khổ ải cho bá tánh như đời vua Kiệt, vua Trụ nhà Thương.

3/Kinh Lễ (禮記) : Khổng Tử ghi chép và lựa chọn những lễ nghi các thời trước nhằm giáo dục đạo đức và giữ ǵn các giềng mối, các trật tự cần thiết cho một xă hội có văn minh, văn hóa.

4/ Kinh Dịch (易經) : được xem là tinh hoa của triết học Trung Hoa có từ thời cổ đại chuyên về âm dương, bát quái và mở ra một cái nh́n bao quát về vũ trụ, về con người trong sự vận hành của vũ trụ.Thời Chu Văn vương, Chu Công Đán đă hệ thống hóa các tư tưởng này và gom trong một tập sách gọi là Chu Dịch. Khổng Tử đă sắp xếp lại và giải nghĩa thêm cho rơ quẻ Thoán và quẻ Hào thường được gọi là Thoán từ và Hào từ.

5/ Kinh Xuân Thu (春秋經) : Khổng Tử ghi chép và lựa chọn những biến cố lịch sử nước Lỗ xảy ra trong các thời kỳ, các giai đoạn (mùa xuân cho đến mùa thu, mùa thu cho đến mùa xuân) rồi thêm các lời b́nh luận nhằm giáo dục việc an dân trị nước cho các bậc vua chúa cũng như các tôi thần phù tá các vua chúa. Ngoài ra có một kinh thứ sáu là Kinh Nhạc nhưng đă bị Tần Thủy Hoàng đốt mất ( trong vụ "đốt sách, chôn nho") chỉ c̣n vài chương được người đời sau gom chung trong Kinh Lễ (chương Nhạc Kư).

 - tử chương cú 死章句 : câu văn chết tiệt, câu văn nghĩa lư chưa được hiểu rơ thấu đáo, câu văn tối nghĩa...

 - kinh tế sách 經濟策 : những kế sách, mưu lược để giúp vua trị nước và giúp đời (sách : roi quất ngựa, văn thư của vua ban tước, phong hầu, mưu lược, sách lược, thẻ tre để viết chữ) Thời Đường Minh Hoàng của Lư Bạch đă sử dụng chữ "kinh tế" theo nghĩa vừa nêu.Vua Minh Trị của Nhật Bản khi lên ngôi bắt đầu canh tân nước Nhật (được gọi là "thời đại Minh Trị 明治時代 ") cách thời Lư Bạch cả mười một thế kỷ (701-762 &1868-1912) cũng sử dụng từ "kinh tế" nhưng với nghĩa rộng hơn là "Kinh bang tế thế" theo những tư tưởng và học thuyết kinh tế mới mẻ của phương tây lấy việc giao thương, sản xuất, buôn bán..v..v, , với mục đích chính là làm cho đất nước và xă hội thịnh vượng.Nhờ đó, chỉ trong ṿng trên ba chục năm Nhật Bản đă lớn mạnh và ngày nay là một trong những cường quốc hàng đầu của thế giới. Làm" kinh tế" theo cách người Nhật trước hết là làm cho đất nước dân tộc giàu mạnh chứ không phải là sự vun quén làm giàu v́ lợi ích quá nhỏ hẹp của cá nhân và gia đ́nh như ở nhiều nước chậm tiến hiện nay.....

 - trụy  : rơi rụng, mất đi.đi xuống...

 - trước  : mang vào, xỏ (giày)vào, mặc (áo) vào, ghi vào, manh mối...

 - Viễn Du lư & Phương Sơn cân 遠遊履 & 方山巾: tên loại giày (lư) và khăn đội đầu (cân) được sử dụng nhiều thời đó.

 - đái  : đội trên đầu, tôn kính.

 - hoăn  : chậm răi, từ từ, rộng răi, mềm mại...

 - bao y nhân 褒衣人 : người mặc áo có tay áo rộng. Đời Tần Thủy Hoàng, thừa tướng Lư Tư đă dâng kế sách "chôn nho đốt sách" v́ cho rằng các nho sĩ "tay áo rộng"chỉ là những kẻ thích bàn luận thiếu thực tế và cản trở việc cải cách quốc gia của nhà Tần..

 - Thúc Tôn Thông 叔孫通 : là một nho sĩ mới theo Lưu Bang sau này. Tôn ít được trọng dụng v́ Lưu Bang chỉ chú ư hàng vơ tướng thường là những người ít học.Lưu Bang xuất thân là nông dân nên khi dẹp được Sở Hạng vương lên ngôi là Hán Cao tổ.Do học vấn có hạn, lại không trọng đạo nho của Khổng Tử lắm nên khi lên ngôi, các công thần tranh nhau kể công lao gây ra t́nh trạng ồn ào náo động không khí trang nghiêm của triều đ́nh mới lập !Thúc Tôn Thông nhân cơ hội lúng túng của Hán Cao tổ trong việc tái lập trật tự trong triều cũng như hệ thống công quyền bên dưới đă hiến kế sử dụng có lựa chọn những nghi lễ, hệ thống điều hành đă có sẵn từ trước từ triều đ́nh xuống các tỉnh thành và huyện, làng... của các triều đại trước cộng với những nghi thức đă được đề cập trong Nho giáo của Khổng Tử để thiết lập lễ nghi tạo nên vẻ uy nghi và trật tự trên dưới trong triều. Nhờ Thúc Tôn Thông mà triều đ́nh của Lưu Bang hầu hết xuất thân từ vơ biền ít học chỉ nhờ đánh nhau giỏi, làm nên công trạng đă bắt đầu có uy nghi và qui củ trên dưới tạo nên một mẫu mực mới cho các triều đại về sau khi xây dựng lễ nghi và uy quyền cho các vua chúa.Hán Lưu Bang đă nhận xét : "Nhờ vào lễ nghi mà ta mới biết sự uy nghiêm và oai vệ của người làm vua! ".Cũng nhờ đó, đạo nho của Khổng Tử thời nhà Hán được chú ư v́ đem lại những lễ nghi và đạo đức cần thiết tạo giềng mối cho việc xây dựng và củng cố cơ đồ cho triều đại mới.

 - bản  : gốc rễ, căn bản, căn cội, ngọn nguồn, vốn có, vốn sẵn...

 - thù luân 殊倫 : sự khác nhau về loại, về trật tự, về đạo lư, về vốn hiểu biết..

 - Vấn thủy 汶水 : tên một ḍng sông ở tỉnh Sơn Đông, Trung Hoa.

 

 

 

 

 

 BÀI 31

 

 

 經下邳圯橋懷張子房

 

 1 子房未虎嘯, 

 產不為家。 

 滄海得壯士, 

 4 椎秦博浪沙。 

 報韓雖不成, 

 天地皆振動。 

 潛匿遊下邳, 

 8 豈曰非智勇? 

 我來圯橋上, 

 懷古欽英風。 

 惟見碧流水, 

 12 曾無黃石公。 

 嘆息此人去, 

 14 蕭條徐泗空。

 

 

 李白 

 

 

 

 

 KINH HẠ B̀ DĨ KIỀU HOÀI
TRƯƠNG TỬ PH̉NG.

 

 1 Tử Pḥng vị hổ khiếu,

 Phá sản bất vi gia.

 Thương hải đắc tráng sĩ,

 4 Chùy Tần Bác Lăng sa.

 Báo Hàn tuy bất thành,

 Thiên địa giai chấn động.

 Tiềm nặc du Hạ B́,

 8 Khởi viết phi trí dũng ?

 Ngă lai Dĩ kiều thượng,

 Hoài cổ khâm anh phong.

 Duy kiến bích lưu thủy,

 12 Tằng vô Hoàng Thạch công.

 Thán tức thử nhân khứ,

 14 Tiêu điều Từ, Tứ không !

 

 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa

 

 Qua cầu Dĩ ở Hạ B́ nhớ Trương Tử Pḥng.

 

 Tử Pḥng khi chưa là con hổ gầm rú đă tiêu phá hết của cải không sửa sang nhà cửa. Ông về miền (kề cận) biển xanh t́m được người có tâm chí và mạnh mẽ đem chùy lớn ném vua Tần ở băi cát Bác Lăng. Việc báo thù cho nước Hàn tuy không thành nhưng đă làm cho trời đất chấn động !

 Ông phải ẩn tránh rong chơi đất Hạ B́.Há không phải người có trí dũng là đây hay sao ? Ta đến trên cầu Dĩ, nhớ chuyện xưa rất tôn kính dáng vẻ của người anh hùng nhưng chỉ thấy ḍng nước xanh trôi chảy. Ông Hoàng Thạch chẳng từng có bao giờ ! Ta than thở cho người đă ra đi này(Trương Lương).Vùng đất Từ, nước Tứ đă quạnh vắng không c̣n ǵ nữa !

 

 

 Tạm chuyển lục bát ;

 

 QUA CẦU DĨ Ở HẠ B̀,
NHỚ TRƯƠNG TỬ PH̉NG.

 

 1 Tử Pḥng lúc hổ chưa gầm,

 Phá tan của cải, nhà cần sửa chi !

 Được người miền biển khỏe kia,

 4 Băi vùng Bác Lăng chùy vung đánh Tần.

 Thù không báo được cho Hàn,

 Vẫn gây rúng động dậy vang đất trời !

 Hạ B́ ngầm tránh rong chơi,

 8 Há không trí dũng nơi người này sao !

 Dĩ kiều, ta đến trên cầu,

 Nhớ người dáng vẻ xưa nao anh hùng !

 Thấy chăng nước biếc xuôi ḍng,

 12 C̣n ông Hoàng Thạch chẳng từng có chi !

 Thở than người ấy đă đi,

 14 Quạnh hiu Từ, Tứ c̣n ǵ nữa đâu !

 

 

 Chú thích :

 

 - Hạ B́ 下邳 : thuộc huyện Túc Thiên, tỉnh Giang Tô giáp với An Huy, T.H.

 - Dĩ kiều 圯橋 : nằm trên sông Nghi ở Hạ B́ là nơi tương truyền Trương Lương( tức Trương Tử Pḥng )khi c̣n trẻ đă dùng gia sản chiêu mộ được tráng sĩ khỏe mạnh và làm ra cây chùy nặng hầu t́m cách ám hại Tần Thủy Hoàng nhưng thất bại (xem C.T. bài 29) phải đi ẩn lánh ở Hạ B́ được ông già tên Hoàng Thạch tặng sách "Thái công binh pháp" nhờ đó giúp mưu tính kế cho Lưu Bang đánh dẹp được nhà Tần và thắng Sở Hạng vương.Tương truyền ông Hoàng Thạch có hẹn sẽ gặp lại Tử Pḥng mười ba năm sau ở chân núi Cốc nơi có ḥn đá vàng.....

 - vi  : làm, sửa sang, khiến cho, làm cho, mà, nếu như...Một âm là vị : giúp đỡ, v́, để cho...

 - thương hải 蒼海 : do câu thành ngữ "Thương hải biến vi tang điền 蒼海變為桑田 " (biển xanh biến thành nương dâu) chỉ sự thay đổi lớn lao.Ở đây, chữ "thương hải' chỉ dùng theo nghĩa đơn giản là vùng sát biển là nơi Trương Lương chiêu mộ được người tráng sĩ cùng chí hướng lại rất khỏe có khả năng vung vật nặng nên được Tử Pḥng bán gia sản chế tạo chùy đồng dùng cho việc giết bạo chúa Tần Thủy Hoàng.

 - tráng sĩ 壯士 : người có tâm huyết, có ư chí và khỏe mạnh.

 - tiềm nặc 潛匿 : ngầm tránh, ẩn lánh chờ cơ hội.

 - khởi viết 豈曰 : phải nói rằng, há chẳng nói, sao chẳng nói là...

 - khâm anh phong 欽英風 : kính cẩn, tôn sùng dáng vẻ, phong cách của người anh hùng tài năng hơn người.

 - tằng vô 曾無 : từng không có, chưa hề có...

 - Từ, Tứ 徐泗 : Từ là một trong chín châu thời cổ, cũng là tên một nước thời xa xưa, nay c̣n một số di tích phía bắc tỉnh An Huy.Thời của Lư Bạch đất Từ tức Từ Châu ; thời cổ thuộc nước Tứ. 

 

 

 

 

 

 BÀI 32

 

 

 俠客行

 

 1 趙客縵胡纓, 

 吳鉤霜雪明 

 銀鞍照白馬, 

 4 颯沓如流星。 

 十步殺一人, 

 千里不留行。 

 事了拂衣去, 

 8 深藏身與名。 

 閑過信陵飲, 

 脫劍膝前橫。 

 將炙啖朱亥, 

 12 持觴勸侯嬴。 

 三杯吐然諾, 

 五岳倒為輕。 

 眼花耳熱後, 

 16 意氣素霓生。 

 救趙揮金鎚, 

 邯鄲先震驚。 

 千秋二壯士, 

 20 烜赫大樑城。 

 縱死俠骨香, 

 不慚世上英。 

 誰能書閣下, 

 24 白首太玄經。

 

 

 李白

 

 

 

 

 HIỆP KHÁCH HÀNH

 

 1 Triệu khách mạn hồ anh,

 Ngô câu sương tuyết minh.

 Ngân an chiếu bạch mă,

 4 Táp đạp như lưu tinh.

 Thập bộ sát nhất nhân,

 Thiên lư bất lưu hành.

 Sự liễu phất y khứ,

 8 Thâm tàng thân dữ danh.

 Nhàn quá Tín Lăng ẩm,

 Thoát kiếm tất tiền hoành.

 Tương chích (chá) đạm Chu Hợi,

 12 Tŕ thương khuyến Hầu Doanh.

 Tam bôi thổ nhiên nặc,

 Ngũ nhạc đảo vi khinh.

 Nhăn hoa nhĩ nhiệt hậu,

 16 Ư khí tố nghê sinh.

 Cứu Triệu huy kim chùy,

 Hàm Đan tiên chấn kinh.

 Thiên thu nhị tráng sĩ,

 20 Huyên hách Đại Lương thành.

 Túng tử hiệp cốt hương,

 Bất tàm thế thượng anh.

 Thùy năng thư các hạ,

 24 Bạch thủ Thái Huyền kinh ! 

 

 Lư Bạch

 

 

 Dịch nghĩa :

 

 

 Bài ca người khách nghĩa hiệp.

 

 1 / Người khách nước Triệu có giải mũ thô mộc, không tô vẽ cầu kỳ. Thanh đao móc câu làm ở nước Ngô sáng rỡ như tuyết.Yên ngựa bạc soi chiếu con ngựa trắng.Gió thổi vù vù nhiều lớp chồng lên nhau như những v́ sao di chuyển.

 5/ Trong mười bước có thể sát hại ngay một người nên không cần phải đi xa ngàn dặm làm ǵ ! Khi việc đă xong là giũ áo ra đi, giấu kín thân thế cùng tên tuổi.

 9/ Lúc rảnh rang qua chỗ Tín Lăng quân uống rượu. Thanh gươm được rút ra đặt ngang trên gối. Tín Lăng quân nướng thịt đút mời Chu Hợi rồi cầm chén rượu rót mời Hầu Doanh.

 13/ Ba chén rượu là tỏ ư chấp nhận ḷng chân thành.Năm ngọn núi cao lớn vẫn đảo ngược nhẹ nhàng ! Mắt (như đă) nở hoa, tai (như)bừng nóng ở phía sau ! Ư chí và khí lực như phát sinh thành vành ngoài của cầu vồng màu tơ sống trắng.

 17/ Cứu nước Triệu phải vung cây chùy bằng kim loại.Trước hết đă làm cho thành Hàm Đan nước Triệu phải chấn động, thất kinh ! Ngàn thu tiếng tăm hiển hách của hai vị tráng sĩ lan rộng khắp thành Đại Lương.

 21/ Cho dầu có mất đi, xương cốt của người hiệp nghĩa vẫn c̣n thơm ! Họ không hổ thẹn là những bậc anh hùng trên đời ! Như ai đó kia đầu bạc trắng khi viết "Thái Huyền Kinh" bên dưới gác sách !

 

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 

 BÀI CA NGƯỜI KHÁCH NGHĨA HIỆP.

 

 1 Mũ thô khách Triệu giải x̣a,

 Sáng như sương tuyết, chói ḷa Ngô câu.

 Ngựa mang yên bạc trắng phau,

 4 Gió ào lớp lớp như sao chuyển dời !

 Ra tay mười bước giết người,

 Cần chi ngàn dặm xa vời ruổi rong !

 Ra đi giũ áo : việc xong,

 8 Đem thân giấu kín với cùng tiếng tăm.

 Thảnh thơi ghé uống Tín Lăng,

 Tuốt gươm đầu gối để nằm trải ngang.

 Nướng mời Chu Hợi thịt ăn,

 12 Cầm bầu rượu rót mời chàng Hầu Doanh.

 Ba bôi vâng thuận ḷng thành,

 Lật năm núi lớn nhẹ tênh xem thường !

 Mắt hoa, tai đă nóng bừng !

 16 Nẩy sinh ư khí trắng bung móng vồng.

 Ra tay cứu Triệu chùy vung,

 Hàm Đan trước hết hoảng rung tơi bời.

 Ngàn thu tráng sĩ hai người,

 20 Tiếng tăm vang rộng nơi thành Đại Lương.

 Chết đi, kẻ hiệp thơm xương !

 Không hề thẹn bậc hùng anh trên đời.

 Dưới lầu viết sách ai người ?!

 24 Thái Huyền kinh ấy bạc phơi mái đầu !


 

 Chú thích :

 - hiệp khách 
俠客 : hiệp có nghĩa là dùng sức mạnh và ḷng trọng nghĩa để giúp đời ;khách: người được mời đến, người được kính nể, tôn trọng....Hiệp khách là người hào hiệp có hành động nghĩa khí, anh hùng để giúp đời.

 - hành  : một thể nhạc phủ thời cổ phát triển mạnh thời nhà Hán, cũng là tên khúc nhạc (như Trường Can Hành 長干行 của Lư Bạch, Cổ Bách Hành 古柏行 của Đỗ Phủ, Tỳ Bà Hành琵琶行, Hạo Ca Hành 浩歌行 của Bạch Cư Dị, Trường Ca Hành長歌行 thời nhà Hán.....); nghĩa khác : bước đi, trải qua, con đường, hành trang, rời, trôi chảy....

 - mạn hồ anh 縵胡纓 : giải mũ đơn giản, không thêu hoa văn để rủ xuống. Triệu Thái tử (hay Triệu công tử Tín Lăng quân) thường nói : "Những tráng sĩ mà vua ta tiếp kiến đều đầu bù tóc rối như cỏ bồng, giải mũ của họ mộc mạc để rủ xuống, khoác chiếc áo ngắn...."(Sách Trang Tử).

 - Ngô câu 吳鉤 : một loại đao thép có h́nh dạng uốn cong như móc câu hoặc liềm hái tương truyền do vua Ngô Hạp Lư làm ra rất sắc bén.

 - táp đạp 颯沓 : dáng đông đảo rối bùng lên, ùn lên nhiều.

 - tương  : đem mời, dâng mời (V.D :Tương tiến tửu 將進酒 của Lư Bạch )giúp đỡ, nuôi dưỡng, theo, tiến lên, đi mất, và, với, điều ấy, há sao, hoặc là, ắt là, vừa bên cạnh, nếu như.....

 - Chu Hợi 朱亥, Hầu Doanh 侯嬴 : hai tráng sĩ được Tín Lăng quân Ngụy Vô Kỵ 魏无忌(?- 243 TCN) thời Chiến Quốc mời làm thượng khách trong tôn phủ. Vô Kỵ là thái tử con thứ tư của Ngụy Chiêu vương và em cùng cha khác mẹ của Ngụy An Ly vương.Khi Chiêu vương mất, Ngụy An Ly vương lên ngôi phong Vô Kỵ làm Tín Lăng quân.Ông là một người rất giàu ḷng nghĩa hiệp và rất coi trọng những con người như thế. Ông đă mời được một ẩn sĩ là Hầu Doanh là người tráng sĩ hào hiệp và có tài. Họ Hầu đă tiến cử cho Tín Lăng quân một ẩn sĩ tài giỏi khác làm nghề giết lợn là Chu Hợi ở thành Đại Lương. Năm thứ 20 đời Ngụy An Ly vương, quân nhà Tần vây hăm thành Hàm Đan nước Triệu của người bạn thân là B́nh Nguyên quân cũng là anh rễ của ḿnh.Vua Ngụy cho đại tướng quân Tấn Bỉ đưa quân đi cứu Triệu nhưng do sự đe dọa của Tần sẽ đánh Ngụy nên vua Triệu do dự không tiến quân. Nóng ḷng v́ bạn nên Vô Kỵ xin vua Ngụy cho lệnh tiến công nhưng vua Ngụy không chấp thuận v́ sợ oai Tần. Tín Lăng quân nhờ người chị dâu là vương phi Như Cơ được vua sủng ái. Như Cơ từng chịu ơn Vô Kỵ để cứu mạng cho cha của phi nên t́m cách lấy binh phù của vua Ngụy rồi đưa Tín Lăng quân đem đến doanh trại ra lệnh cho Tấn BỈ tiến công.Bỉ nghi ngờ không đón lệnh. Châu Hợi đi tùy tùng cùng Tín Lăng quân đă vung chùy sắt nặng bốn mươi cân giết chết Tấn Bi, không để cho cận vệ kịp trở tay! Tín Lăng quân cầm binh phù và ấn tướng phát lệnh cho quân Ngụy tiến quân nhanh đánh tan quân Tần, giải cứu thành Hàm Đan và nước Triệu của bạn thân là B́nh Nguyên quân. Lư Bạch đă ca ngợi ḷng nghĩa hiệp của những người như Tín Lăng quân, Hầu Doanh, Chu Hợi....xem họ như những anh hùng đáng quư trọng hơn là những người như Dương Hùng chỉ làm được chuyện viển vông, không thiết thực.

 - thương  : rót rượu dâng mời uống, chén uống rượu.

 - chích (chá)  : nướng thịt.

 - đạm  : đút cho ăn, mời ăn đưa tận miệng chỉ sự trân trọng, quư mến người khách.

 - khuyến  : mời mọc (V.D: khuyến tửu : mời rượu ) nghĩa khác : khuyên gắng, khuyên nhủ...

 - thổ nhiên 吐然 : vui ḷng nhận công việc, tỏ ư thành thật, phơi bày ḷng thành

 - nặc  : chấp nhận, hứa hẹn, đồng ư...

 - câu 15, 16 : lấy từ thơ của Trương Hoa 張華 (232-300 tự Mậu Tiên 茂先, người Phương Thành, Phạm Dương, Trung Hoa, nay thuộc tỉnh Hà Bắc), là một nhà chính trị, nhà văn, nhà thư pháp có tiếng đời Tây Tấn. Ông là cháu 16 đời của Trương Lương 張良 đời Tây Hán, và cháu 14 đời của danh tướng Trương Cửu Linh 張九齡 đời Đường ). Thơ Trương Hoa có câu : "Nhĩ nhiệt nhăn trung hoa " và " Khảng khái tố nghê sinh " (nghĩa là : Tai bừng nóng, trong mắt nở hoa ; khảng khái tỏa ra cầu vồng (nghê) màu trắng ( tố  : tơ sống màu trắng, không có thực...) khi nói về hành vi của những tráng sĩ lúc vui say uống rượu.

 - câu 23, 24 : đề cập đến cuộc đời của Dương Hùng thời Hán Thành Đế.Ông là người có tiếng về tài văn thơ, được giữ chức Lang trung. Qua thời của Vương Măng王莽 ( 45 TCN tiếm quyền rồi cướp ngôi nhà Hán lập ra nhà Tân [9-23 SCN] xưng là hoàng đế), ông được giữ chức Hiệu thư làm việc ở Thiên Lộc Các (sử sách Trung Hoa đều xem Vương Măng là kẻ làm loạn cướp ngôi nhà Hán nên không xem nhà Tân của Vương Măng là chính sử ).Ông dành công sức trong việc soạn Thái Huyền Kinh dựa vào cuốn Kinh Dịch có từ thời Khổng Tử đến nỗi đầu bạc trắng xóa.Trong triều có biến, ông sợ liên lụy nên nhảy lầu tự tử nhưng chỉ bị thương nặng... Lư Bạch tỏ rơ sự quư mến, trân trọng những con người nghĩa hiệp như Chu Hợi, Hầu Doanh hoặc những con người mưu trí và thức thời như Trương Lương hơn là những kẻ mọt sách, cổ hủ....



 

 

 

 

 BÀI 33

 

 行路難其一

 

 1 金樽清酒斗十千, 

 玉盤珍饈值萬錢。 

 停杯投箸不能食, 

 4 拔劍四顧心茫然。 

 欲度黃河冰塞川, 

 將登太行雪暗天。 

 閒來垂釣坐溪上, 

 8 忽復乘舟夢日邊。 

 行路難,行路難, 

 多岐路,今安在。 

 長風破浪會有時, 

 12 直掛雲帆濟滄海。

 

 李白

 

 

 

 

 HÀNH LỘ NAN Kỳ nhất.

 

 1 Kim tôn thanh tửu đẩu thập thiên,

 Ngọc bàn trân tu trị vạn tiền.

 Đ́nh bôi đầu trợ bất năng thực,

 4 Bạt kiếm tứ cố tâm mang nhiên.

 Dục độ Hoàng Hà băng tắc xuyên,

 Tương đăng Thái Hàng tuyết ám thiên.

 Nhàn lai thùy điếu tọa khê thượng,

 8 Hốt phục thừa chu mộng nhật biên.

 Hành lộ nan ! Hành lộ nan !

 Đa kỳ lộ kim an tại ?

 Trường phong phá lăng hội hữu th́,

 12 Trực quải vân phàm tế thương hải.

 

 Lư Bạch



 Dịch nghĩa :

 

 Đường đi khó (bài một).


 Chén vàng dùng với rượu trong vắt mỗi đấu giá mười ngàn. Mâm ngọc bày thức ăn ngon quí hiếm đáng giá bạc vạn.Dừng chén, ném đũa tre không ăn được nữa. Rồi rút kiếm, nh́n chăm chú bốn hướng mà ḷng hoang mang.

 Muốn vượt qua Hoàng Hà nhưng ḍng sông đóng băng làm cản trở.Sắp sửa leo lên dăy Thái Hàng nhưng tuyết (rơi) che khuất bầu trời ! Khi rảnh rỗi, thong dong đến ngồi buông câu ở trên khe suối. Bỗng dưng lại mơ cưỡi chiếc thuyền đến bên mặt trời.

 Đường đi khó ! Đường đi khó ! Nhiều nhánh đường nơi ấy nay ở nơi chốn nào !?

Gió lớn, sóng mạnh như ào ạt có khi gặp nhau ! Treo cánh buồm mây đi thẳng qua biển xanh.



 Tạm chuyển lục bát :

 

 

 ĐƯỜNG ĐI KHÓ (Bài 1)

 

 

 1 Chén vàng, rượu giá mười ngàn,

 Vạn tiền, mâm ngọc, thức sang xứng rồi !

 Chẳng ăn, ném đũa dừng bôi,

 4 Rút gươm bốn hướng trông vời hoang mang.

 Muốn qua, băng nghẽn ḍng Hoàng,

 Trời giăng mờ tuyết Thái Hàng toan lên,

 Buông câu thong thả khe trên,

 8 Bỗng dưng mộng cưỡi thuyền bên mặt trời.

 Đường đi khó lắm ! Đường ơi !

 Nhiều đường, lắm nhánh nay nơi chốn nào !

 Có khi sóng gió gặp nhau,

 12 Treo buồm mây vượt thẳng ào biển xanh.



 

 Chú thích :

 

 - thanh tửu 清酒 : rượu trong vắt được lấy từ mẻ đầu tiên làm từ bằng loại gạo ngon.

 - trị  : giá trị, xứng đáng, đánh giá, thu góp, nắm giữ....

 - tâm mang nhiên 心茫然 : hoang mang, không biết ǵ cả, không rơ chuyện ǵ...

 - tương  : sắp, toan, dự tính, giúp đỡ, tiến lên, lớn mạnh, nhận lấy, bên cạnh, đem dùng....

 - Thái Hàng 太行 : tức Thái Hàng Sơn (âm của hành  là hàng ) là dăy núi lớn đi qua các t́nh Hà Nam, Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Bắc (Trung Hoa )trải dài 400 km từ đông bắc đến tây nam.Đỉnh cao nhất là Tiểu Ngũ Đài Sơn 小五臺山 (2882m).

 - kim an tại 今安在 : nay c̣n nơi đâu, nay ở chốn nào.

 - tế  : vượt qua sông, sang qua, nên, có lợi, xong việc, cứu tế, giúp đỡ, ngừng nghỉ...

 

 

 行路難其二

 

 1 大道如青天, 

 我猶不得出。 

 羞逐長安社中兒, 

 4 赤雞白狗賭梨栗。 

 彈劍作歌奏苦聲, 

 曳裾王門不稱情。 

 淮陰巿井笑韓信, 

 8 漢朝公鄉忌賈生。 

 君不見: 

 昔時燕家重郭隗, 

 擁篲折節無嫌猜。 

 12 劇辛樂毅感恩分, 

 輸肝剖膽效英才。 

 昭王白骨縈蔓草, 

 誰人更掃黃金臺。 

 16 行路難,歸去來

 

 李白

 

 

 

 

 HÀNH LỘ NAN KỲ NHỊ

 

 1 Đại đạo như thanh thiên,

 Ngă do bất đắc xuất.

 Tu trục Trường An xă trung nhi,

 4 Xích kê bạch cẩu đổ lê lật.

 Đàn kiếm tác ca tấu khổ thanh,

 Duệ cư vương môn bất xứng t́nh.

 Hoài Âm thị tỉnh tiếu Hàn Tín,

 8 Hán triều công khanh kỵ Giả sinh.

 Quân bất kiến :

 Tích th́ Yên gia trọng Quách Ngỗi.

 Ủng trệ chiết tiết vô hiềm sai,

 12 Kịch Tân, Nhạc Nghị cảm ân phân.

 Thâu can phẫu đảm hiệu anh tài,

 Chiêu Vương bạch cốt oanh mạn thảo.

 Thùy nhân cánh tảo Hoàng Kim đài,

 16 Hành lộ nan ! Quy khứ lai !

 

 Lư Bạch

 

 

 Dịch nghĩa ;

 

 Đường đi khó (bài hai)

 

 Con đường lớn rộng như bầu trời xanh ! Ta vẫn c̣n đây, không thể đi ra được. Nhục nhă thay (nếu) đi theo bọn trai trẻ vùng Trường An chơi cờ bạc lấy gà đỏ, chó trắng ăn thua với trái lê, hạt dẻ. 

 Vỗ kiếm ca lên với giọng ca đau khổ ! Kéo vạt áo nơi cửa vua không thích hợp với t́nh cảnh. Người vùng Hoài Âm họp chợ cười nhạo Hàn Tín. Các quan lớn hàng công khanh của triều đ́nh nhà Hán đều kiêng dè Giả sinh.

 Anh thấy không : trước đây nhà Yên quí trọng Quách Ngỗi nên ôm chổi, khom người

để quét dọn (cho khách mời) không hề ngại ngùng ! Kịch Tân, Nhạc Nghị chia nhau nhận ơn (vua ban) .

 Trao gan, mổ mật dâng hiến tài năng của kẻ anh hùng hơn người ! Nắm xương trắng của Chiêu vương rải quanh đám cỏ ḅ tràn lan ! Ai sẽ là người thêm vào việc quét dọn nơi đài 

Hoàng Kim đây ?! Đường đi khó lắm thay ! Hăy về đi thôi !

 

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 ĐƯỜNG ĐI KHÓ (Bài hai)

 

 1 Như trời xanh rộng : con đường,

 Ta ra chẳng được, vẫn c̣n đấy thôi !

 Trường An theo trẻ nhục người,

 4 Dẻ, lê cờ bạc chơi ăn chó gà !

 Vỗ gươm giọng khổ xướng ca,

 Cửa vua kéo áo t́nh đà hợp không !?

 Chợ Hoài, nhạo Tín cười ông,

 8 Giả sinh triều Hán công khanh kiêng dè.

 Thấy chăng bạn hỡi xem ḱa ! 

 Nhà Yên : Quách Ngỗi nể v́ thuở nao !

 Khom người ôm chổi ngại đâu,

 12 Kịch Tân, Nhạc Nghị chia nhau ơn dày.

 Dâng gan, mổ mật trao tài,

 Chiêu vương xương trắng vây quanh cỏ tràn !

 Ai người quét dọn đài Hoàng,

 16 Hăy quay về lại, đi đường khó khăn !

 

 

 Chú thích:

 

 - do  : c̣n, vẫn c̣n, đấy là, giống như, con đường, dáng ung dung thong thả, c̣n có thể, dáng tươi cười, mưu chước, con khỉ....

 - tu  : thẹn, ngượng, nhục nhă, tiến dâng, thức ăn ngon...

 - Trường An xă 長安社 : vùng, đất Trường An: kinh đô nhà Đường thời Lư Bạch.

 - đổ lê tật 賭梨栗 : cờ bạc ăn thua(đổ) đổi lấy trái lê, hạt dẻ.

 - tấu khổ thanh 奏苦聲 : xướng lên bài hát có âm điệu đau khổ.

 - duệ  : kéo dẫn, hết sức mỏi mệt.

 - cư  : vạt áo (âm của cư là cứ : chiếm cứ, xấc láo, nghênh ngang...).

 - xứng  : xứng hợp, thích ứng, hợp, vừa vặn, xứng đáng, cái cân.

 - Hoài Âm 淮陰 : tên vùng đất Hàn Tín sinh ra. Nay là huyện Hoài Âm, Giang Tô, T.H.

 - thị tỉnh 巿省 : tập họp những người buôn bán ở chợ, nơi chợ họp. Ngày xưa giữa những nơi sinh hoạt, tụ họp của cộng đồng trong thị trấn lớn nhỏ thường có một cái giếng nước dùng chung cũng là nơi họp chợ quanh đó nên gọi là "thị tỉnh ".

 - Hàn Tín 韓信 : 229-196 TCN người đất Hoài Âm nước Sở thời đó. Cha mẹ Tín nhà nghèo lại mất sớm nên từ bé Tín phải tự lo kiếm sống bằng việc câu cá ở sông khi có khi không. Cuộc sống tạm bợ như thế nên Tín thường đói. Tín được một bà lăo giặt áo bên sông thương t́nh cho cơm ăn. Tín nói rằng sau này làm nên sự nghiệp sẽ trả ngàn vàng cho bà. (Về sau khi làm tướng, Tín đă giữ đúng lời hứa thưởng ngàn vàng và chu cấp cho bà lăo).Bà lăo nói rằng chỉ muốn giúp Tín chuyện thiếu ăn chứ đâu mong báo đáp ! Có lúc Hàn Tín người to cao, vác kiếm đi trong chợ bị người hàng thịt thách đấu kiếm hoặc phải chịu luồn trôn. Tín đă chui qua háng người hàng thịt khiến cả chợ Hoài Âm cười nhạo nhục nhă.Họ cho Tín là hạng người hèn kém ! Năm 209TCN, Trần Thắng khởi binh chống nhà Tần. Tín theo Hạng Lương nước Sở và cháu là Hạng Vũ cho gia nhập quân ngũ nhưng tài năng bị xem thường.Nhiều phen Tín cũng bày mưu hiến kế nhưng Hạng Vũ không tin dùng.Khi nhà Tần sụp đổ, Lưu Bang bị Hạng Vũ là người cầm đầu các chư hầu đẩy vào miền đất Thục xa xôi hiểm trở.V́ không được Sở Hạng vương tin dùng nên Tín bỏ Sở đi theo Lưu Bang với sự tiến cử của Trương Lương nhưng chỉ được giao cho việc coi kho. Sau đó, Tín trực tiếp ra mắt hầu chuyện với Đằng vương Hạ Hầu Anh là một tướng giỏi của Lưu Bang. Hầu Anh hài ḷng và tâu lên Hán vương. Lưu Bang cho Tín làm đô úy coi kho lương thực.Đường vào đất Thục rất gian nan hiểm trở nên nhiều bộ tướng bỏ trốn.Tuy từng được Trương Lương rồi Tiêu Hà cùng Hạ Hầu Anh tiến cử nhưng Tín thấy ḿnh không được nắm quân binh trực tiếp chiến đấu và thiếu sự tin dùng nên cũng bỏ trốn.Tiêu Hà nghe Tín rời Hán không kịp báo với Lưu Bang đuổi theo t́m cách chiêu dụ Tín quay trở lại. Lưu Bang cứ phân vân, không rơ nguồn cơn khi thấy Tiêu Hà là một công thần thân cận lại bỏ đi cùng Tín. Hai hôm sau Tiêu Hà và Tín trở về.Hà nói với Lưu Bang là ḿnh đi t́m cho được người "quốc sĩ" có tầm nh́n và mưu kế lớn lao để diệt Sở. Nhà vua ở măi Hán Trung th́ không cần Tín, c̣n muốn tranh thiên hạ th́ ngoài Tín không ai có tài năng cầm quân giúp cho việc này !.Do Tiêu Hà khẩn cầu tha thiết cùng với sự đề cử của quân sư Trương Lương từ trước nên Lưu Bang dù chưa tin tưởng lắm nhưng đành theo lời Tiêu Hà cho lập đàn trai giới phong cho Hàn Tín làm đại tướng quân trước sự ngạc nhiên của nhiều tướng quân. Tín dâng vua sách lược đánh Sở giành thiên hạ. Dần dà Lưu Bang nhận ra tài năng của Tín như hai công thần Tiêu Hà và Trương Lương.Nhờ tài cầm quân xuất chúng, Tín đă tiến quân tiêu diệt được Tam Tần do các vua chư hầu nắm giữ là Ung vương Chương Hàn, Tắc vương Tư Mă Hân, Địch vương Đổng Ế, chặn đứng sức tiến của quân Hạng vương nước Sở, đánh tan quân của Ngụy vương Báo phản Hán theo Sở. Các nước chư hầu nhỏ như nước Triệu, nước Đại...đều do Tín đem quân đánh tan. Do công lao to lớn như thế nên Hán vương theo lời Tiêu Hà phong cho Tín làm Hoài Âm vương để Tín dốc ḷng ra trận chứ thực tâm rất nghi kỵ.Sau này, nhờ công Tín phối hợp với các cánh quân khác của Hán vương đă tiêu diệt được đoàn quân uy lực của Hạng Vũ đem thắng lợi về cho Hán vương Lưu Bang. Nhưng khi kết thúc chuyện tranh giành thiên hạ, thống nhất đất nước Hán vương giờ là Hán Cao Tổ hoàng đế sợ khả năng của Tín có thể chống lại ḿnh nên gài bẫy hạ xuống c̣n chức Hoài Âm hầu cũng như không cho nắm quân nữa. Về sau, khi Lưu Bang rời kinh thành đi dẹp loạn, Lữ hậu cùng Tiêu Hà đă bày mưu mời ông vào triều và cho vơ sĩ bắt trói giết chết ở gác chuông trong cung Trường Lạc.

 - Giả sinh 賈生 : tức Giả Nghị 賈誼 (201-169TCN) thường được gọi là thư sinh họ Giả. Ông là một người học rộng, giỏi từ, phú, nghị luận nên năm hai mươi tuổi đă là quan bác sĩ trong triều (bác sĩ : người học rộng, kiến thức uyên bác, nắm rơ nhiều lĩnh vực ). Thời Hán Văn đế (trị v́ từ 180-157 TCN) trọng hiền tài nên Giả Nghị dù c̣n rất trẻ vẫn được đề cử giữ chức Thái Trung đại phu.Do ghen ghét tài năng của ông v́ thường dâng sớ cải cách lên vua nên ông bị các công khanh trong triều nói xấu về ông với vua trên. Ông bị triều đ́nh đày đi làm Thái phó cho Trường Sa vương. Trên đường đi đày, khi ngang qua sông Mịch La, ông có làm bài điếu "Viếng Khuất Nguyên".( Khuất Nguyên người nước Sở cũng bị triều thần dèm pha phải đi đày nên phẫn chí tự trầm ở Mịch La, một nhánh của Tương giang).Khi Lương Hoài vương của đất Trường Sa do ngă ngựa chết đi, Giả Nghị buồn phiền rồi bị bệnh mất lúc mới 32 tuổi.

 - tích th́ 昔時 : lúc trước, hôm trước, trước đây, lâu, ban đêm....

 - Quách Ngỗi 郭隗, Nhạc Nghị樂毅, Kịch Tân 劇辛 : Quách Ngỗi là một lăo thần của nước Yên rất giỏi về việc trị quốc lại là người được nhiều người kính trọng và yêu mến. Nước Tề thời Tề Tuyên vương sai Khuông Chương tiến đánh nước Yên giết vua cũ là Yên Khoái và vua đương nhiệm được tiến cử từ Yên Khoái do tuổi cao là Tử Chi khiến triều đ́nh và dân chúng bất măn. Nhân đó, nước Tề cử binh đánh chiếm nước Yên. Tề cai trị nước Yên ba năm rất tàn bạo, sau phải rút về do áp lực của các chư hầu nhà Chu. Triệu Vũ Linh vương nước Triệu có mối giao hảo tốt với nước Yên nên sai Nhạc Tŕ sang nước Hàn mời công tử Chức nước Yên đang làm con tin ở đây đưa về Yên lên ngôi là Yên Chiêu Tương vương 燕昭襄王 (311 -279 TCN ) tức Yên Chiêu vương (燕昭王). Chiêu vương có ư chiêu hiền đăi sĩ để t́m người hiền tài giúp nước và trả thù nước Tề. Trong triều nhiều người tiến cử một lăo thần là Quách Ngỗi. Chiêu vương đến hỏi han vị lăo thần và cho mời về cung tôn làm sư phụ hầu hạ kính cẩn. Theo ư của Quách Ngỗi và cũng do cách đối xử trọng thị với các hiền tài nên Nhạc Nghị từ nước Ngụy, Trâu Diễn từ nước Tề, Kịch Tân ở nước Triệu..v..v..nghe tiếng Chiêu vương nên t́m đến giúp vua nước Yên . Nhạc Nghị được sự tín nhiệm của vua Yên cũng như vua Triệu Sở, Hàn, Ngụy giao cho ấn tướng hợp quân lại đánh tan quân nước Tề ở Tế Tây. Quân chư hầu dừng binh chỉ c̣n quân nước Yên của Nhạc Nghị tiếp tục đánh đuổi quân Tề chiếm đất, lấy thành đến tận thành Lâm Tri, chỉ c̣n lại thành Cử và Tức Mặc(nay thuộc tỉnh Sơn Đông, T.H.). Yên Chiêu vương đích thân đến thành Lâm Tri phong cho Nhạc Nghị làm Xương Quốc hầu, sau khi chiếm gần hết thành của Tề. Bọn triều thần tiểu nhân trong triều ghen tài Nhạc Nghị dèm pha là Nhạc Nghị có ư phản muốn làm Tề vương nên không chịu tiến chiếm hai thành nhỏ c̣n lại. Yên Chiêu vương gạt phăng lờ́ dèm đố kỵ đó và thật sự cũng muốn phong chức Tề vương nước Tề cho Nghị. Nhạc Nghị rất cảm kích nhưng cương quyết chối từ.Thắng được quân Tề phần lớn là nhờ tài cầm quân của Á khanh Nhạc Nghị và mưu kế của các hiền tài.Đồng thời cũng may mắn có được vua trên sáng suốt trọng hiền tài mới được như thế ! Khi Yên Chiêu vương mất (279 TCN), Yên Huệ vương lên thay. Ngay từ khi c̣n làm thái tử, Huệ vương vốn đă không thích Nhạc Nghị. Nhân cơ hội đó, tướng Điền Đan của nước Tề đang ở thành Tức Mặc dùng kế ly gián nói với Huệ vương là Nhạc Nghị có ư định chiếm cho hết nước Tề để làm Tề vương như cách dèm pha trước đây của bọn quan tiểu nhân trong triều.Do không thích Nghị nên Yên Huệ vương cho triệu Nghị từ thành Lâm Tri về Yên.Nghị biết rằng nếu tuân lệnh về triều có thể bị giết nên theo hướng tây bỏ sang nước Triệu. Nhạc Nghị không c̣n nắm quân nên tướng Tề là Điền Đan nhân đó tiến chiếm nhiều thành tŕ bị mất.Vua Yên hối hận cho triệu Nhạc Nghị về nhưng Nghị đă từ chối và phúc đáp một bức thư bằng những lời lẽ chí t́nh cho thấy ḷng tận tụy đối với tiên vương là Yên Chiêu vương do cách đối đăi của ông ấy với hào kiệt.Nhạc Nghị về sau mất ở nước Triệu.(xem thêm bài thơ : Cổ phong /Yên Chiêu duyên Quách Ngỗi 古風/燕昭延郭隗 của Lư Bạch). 

 - hiệu  : trao phó, giao cho, dâng hiến, cống hiến tận tụy...

 - oanh  : quẩn quanh, ṿng quanh, quanh đó...

 - mạn thảo 蔓草 : loại cỏ thân nhỏ mọc ḅ lan.

 - cánh  : âm của canh (sửa đổi, thay thế, trải qua, ban thưởng, canh /giờ ) là cánh : thêm vào, lại càng thêm )

 - Hoàng Kim đài 黃金臺 : Yên Chiêu Tương vương lên ngôi năm 311 TCN, năm sau ông cho xây đài Hoàng Kim là nơi đón tiếp các bậc hiền tài và được trao tặng vàng.Đài được thường xuyên quét dọn và khi chào đón hiền tài đích thân Yên vương sẽ cầm chổi đi trước quét dọn mời khách để tỏ sự trọng thị người hiền tài được mời. Dưới cái nh́n của Lư Bạch mọi sự kiện lịch sử tuy c̣n đó nhưng cũng bị tàn phai theo sự thăng trầm của lịch sử và thời gian(xem c.14, 15, 16 )

 

 * Xem : "Hành lộ nan kỳ 3 " : Bài 5 (phần trên)

 

 

 

 

 

 BÀI 34

 

 

寄遠

 

 美人在時花滿堂, 

 美人去後餘空床。 

 床中繡被卷不寢, 

 至今三載聞餘香。 

 香亦竟不滅, 

 人亦竟不來。 

 相思黃葉盡, 

 白露濕青苔。

 

 

 李白

 

 

 

 

 KƯ VIỄN

 

 1 Mỹ nhân tại thời, hoa măn đường,

 Mỹ nhân khứ hậu, dư không sàng.

 Sàng trung tú bị quyển bất tẩm,

 4 Chí kim tam tải văn dư hương.

 Hương diệc cánh bất diệc,

 Nhân diệc cánh bất lai.

 Tương tư hoàng diệp tận,

 8 Bạch lộ thấp thanh đài.

 

 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa :

 

 Gửi đến nơi xa.

 

 Lúc c̣n người đẹp ở nơi đây, nhà luôn đầy hoa. Sau khi người đẹp đă đi rồi chỉ c̣n lại chiếc giường trống trơn vắng lặng.Trong giường, chiếc chăn thêu đủ màu đă cuốn lại không nằm.Đến nay đă ba năm vẫn ngửi được mùi hương thơm c̣n vương lại. Hương thơm không hề mất đi mà người (đẹp đă ra đi) cũng không hề trở lại ! Thương nhớ nhau chẳng thôi dù lá vàng cũng đă (rụng) hết cả và những hạt sương móc trắng làm ướt đẫm đám rêu xanh.

 

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 

 GỬI ĐẾN NƠI XA.

 

 1 Nhà c̣n người đẹp hoa đầy,

 Người đi giường trống nơi này vắng tăm.

 Chăn thêu cuốn lại không nằm,

 4 Hương thơm c̣n đó ba năm nay rồi !

 Hương thơm vẫn măi c̣n thôi,

 Chẳng bao giờ đến, người không về nào !

 Lá vàng dẫu hết nhớ nhau,

 8 Rêu xanh ướt đẫm trắng màu móc sương.

 

 

 Chú thích :

 

 - tại thời 在時 : lúc ở nơi đây, khi c̣n ở đó.

 - dư không sàng 餘空床 : c̣n lại chiếc giường trống trơn vắng vẻ.

 - tú bị 繡被 : tú : thêu vào đủ năm màu chính của chỉ thêu, có thêu chỉ màu ; bị : cái mền, cái chăn đắp ấm. Chăn đắp có thêu đủ màu sắc.

 - tẩm  :nằm, nghỉ ngơi, lăng tẩm...

 - văn  : ngửi thấy, nghe thấy, tri thức, truyền cho sự hiểu biết...

 - hương  : mùi thơm, hương vị thơm tho...

 - diệc  : lại lần nữa, chẳng những, trợ từ...

 - cánh  : xong, cuối cùng, mà, lại, cùng cực, biên giới (cánh biên)....

 - c.7 : có sách ghi là " Tương tư hoàng diệp lạc ".Chữ "lạc"  có nghĩa là rơi rụng. Ở đây chữ "tận" làm cho câu thơ sâu đậm hơn khi nói về nỗi niềm thương nhớ (dẫu những chiếc lá vàng đă rụng hết cả nhưng ḷng thương nhớ chẳng hề nguôi ngoai).

 

 

 

 

(C̣n Tiếp)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

DƯƠNG ANH SƠN
Sài G̣n,5/2017

 

 

 

 

 

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com