trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

  

 

Thơ LƯ BẠCH

DƯƠNG ANH SƠN

 

 

 
 

 Bài 25:

        塞下曲

                Bài một

       塞下曲其一 
 

        1 五月天山雪, 

      無花只有寒。 

      笛中聞折柳, 

       4  春色未曾看。 

        曉戰隨金鼓, 

       宵眠抱玉鞍。 

      願將腰下劍, 

       8  直渭斬樓蘭。 

               李白

 

 

 

 

            TÁI HẠ KHÚC 

 

      TÁI HẠ KHÚC Kỳ nhất .

 

     1  Ngũ nguyệt Thiên San tuyết ,

        Vô hoa chỉ hữu hàn .

        Địch trung văn "Chiết liễu" ,

    4  Xuân sắc vị tằng khan .

        Hiểu chiến tùy kim cổ ,

        Tiêu miên băo ngọc an.

        Nguyện tương yêu hạ kiếm ,

    8 Trực Vị trảm Lâu Lan .

                

                 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa :

 

 Khúc ca dưới ải (bài một).


Vào tháng năm , tuyết phủ ngọn núi Thiên San. Không có những bông hoa mà chỉ có

 thời tiết lạnh giá . Nghe trong tiếng địch thổi lời bài hát 'Bẻ liễu" .Và cũng chưa từng thấy sắc màu của mùa xuân !

 Lúc trời sáng đă đi theo tiếng trống vàng (thúc trận ).Khi đêm đến lại ôm chiếc yên ngọc để cưỡi ngựa mà ngủ . Nguyện sẽ cùng thanh gươm đeo bên lưng thẳng đến sông Vị quyết ra tay chém bọn giặc Lâu Lan.

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 KHÚC CA DƯỚI ẢI (Bài 1)

 

 1 Tháng năm ,tuyết phủ Thiên San ,

 Không hoa chỉ có lạnh tràn nơi nơi !

 Địch vang "Bẻ liễu" nghe thôi !

 4 Chưa từng thấy được sắc vời dáng xuân !

 Trống vàng sáng thúc vang rần ,

 Ôm yên ngọc ngủ lúc màn đêm buông .

 Nguyện cùng thanh kiếm bên lưng ,

 8 Lâu Lan quyết chém thẳng ḍng Vị kia !

 

 Chú thích :

                                                        

 

- tái  âm của "tắc" chỉ nơi canh gác ,đồn trú ngoài quan tái (biên tái,quan ải), vùng biên giới để ngăn giặc vào lănh thổ.
- Thiên San (Sơn) 天山 tên dăy núi nằm ở khu vực Tân Cương của người Duy Ngô Nhĩ (Trung Á) giữa biên giới Kyrgyzstan ,Kazakstan .Đối với người Tân Cương (không phải là người Hán, Trung Hoa) ,Thiên San là ngọn núi thiêng liêng có thần linh trú ngụ với ngọn núi cao nhất là Khan Tangri (7010m) .Trước đây ,khi người Hán Trung Hoa chưa chiếm đoạt và sát nhập Tân Cương vào lănh thổ của họ ,đây là vùng tranh chấp ,xâm lấn qua lại giữa các bộ tộc Hung Nô ,Kỳ Liên ,Lâu Lan ..v..v..với người Hán. Biết bao lớp người trai tráng người Hán bị bắt lính đưa đi trấn giữ vùng biên tái xa xôi ,lạnh lẽo và nguy hiểm này. Những áng văn quan trọng của nước ta như "Chinh Phụ Ngâm Khúc" của Đặng Trần Côn chịu ảnh hưởng sâu đậm các địa danh và h́nh ảnh hào hùng của các tướng soái người Hán :"  Quân tâm vạn lư Thiên Sơn tiễn... ". Đoàn Thị Điểm đă dịch nôm trong "Chinh Phụ Ngâm Diễn Ca": "Dạ chàng xa ngoài cơi Thiên San ..." (câu 34).
Chiết Liễu 折柳 tên bài hát "Chiết Liễu (bẻ nhành liễu) Chi Từ" thịnh hành thời Lư Bạch.
- an  yên cưỡi ngựa.
- trực  thẳng đến ,quyết tâm ,lư lẽ thẳng thắn đúng đắn ,dứt khoát...
- Vị  tức Vị Hà  ,nằm ở phía tây trung bộ Trung Hoa .Đây là nhánh sông lớn nhất chảy vào Hoàng Hà bắt nguồn từ huyện Vị Nguyên ,Cam Túc ,Lan Châu dài 818km và khoảng gần Hoàng Hà nhất là 200km khi sông uốn khúc. Sông chảy qua ba tỉnh Cam Túc ,Ninh Hạ,Thiểm Tây là vùng biên giới thường xảy ra chiến trận xưa kia giữa người Hán và các bộ tộc vùng biên giới.
- Lâu Lan  樓蘭  tên vua xứ Lâu Lan cũng là tên một một nước đă từng tồn tại vào thế kỳ thứ 2 (TCN) nằm ở vùng sa mạc La Bố,Tân Cương. Năm 108 (TCN), tướng Hán là Phó Giới Tử đă dùng vàng bạc dụ dỗ và giết chết vua Lâu Lan . Họ xâm chiếm và biến nước này thành nước chư hầu. Ngày nay chỉ c̣n lại ít di tích ở vùng Tân Cương của người Duy Ngô Nhĩ.

 

 

  

 

 

 

 

Bài hai 

  塞下曲其二
 

  1   天兵下北荒, 

        胡馬欲南飲。 

     橫戈從百戰, 

 4     直渭銜恩甚。 

     握雪海上餐, 

     拂沙隴頭寢。 

     何當破月氏, 

 8   然後方高枕。

 李白

 

 

 

 

 

 

 

TÁI HẠ KHÚC Kỳ nhị .

 

 1     Thiên binh há bắc hoang ,

         Hồ mă dục nam ẩm.

         Hoành qua ṭng bách chiến ,

 4      Trực Vị hàm ân thậm .

         Ác tuyết hải thượng xan ,

         Phất sa lũng đầu tẩm .

         Hà đương phá Nguyệt Chi ?

 8      Nhiên hậu phương cao chẩm .

                     
                     
 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa :

 

 Khúc ca dưới ải (bài hai).

 Binh lính của triều đ́nh đi xuống vùng hoang dă phía bắc. Ngựa của quân Hồ cũng muốn uống nước đất phía nam .Ngọn giáo quét ngang đi theo trăm trận chiến đấu . Ngậm ơn sâu dày (của vua ban) quyết thẳng tiến đến ḍng sông Vị . Vốc nắm tuyết trên (băi tuyết lớn như) biển để ăn . Phủi cát, gối đầu nằm nghỉ ngơi trên g̣ đất . Bao giờ sẽ phá được bọn giặc Nguyệt Chi để về sau sẽ luôn được ngủ bên chiếc gối cao yên lành nhàn nhă đây !?

 

 Tạm chuyển lục bát

 

 KHÚC CA DƯỚI ẢI (Bài 2).

 

 1     Binh trời xuống bắc vùng hoang ,

      Những mong uống nước phía nam : ngựa Hồ !

     Vung ngang trăm trận giáo khua ,

 4       Thẳng sông Vị ngậm ơn vua sâu dày .

     Cái ăn : biển tuyết vốc tay ,

     Nghỉ ngơi phủi cát g̣ đây tựa đầu .

     Nguyệt Chi dẹp phá khi nao ?!

 8     Gối cao sẽ có về sau giấc nhàn !

 

 Chú thích :

 

 

- thiên binh 天兵 binh trời: các vua người Hán của Trung Hoa xưa và sau này vẫn tự cao ,tự đại cho ḿnh là "thiên tử " ,là con của trời .V́ thế ,lính của triều đ́nh cũng thậm xưng là binh trời . Họ xem các nước bị họ xâm lăng là man di , mọi rợ ,là giặc trời (thiên kiêu 天驕 ,xem C.T. bài ba tiếp theo ).
 - Hồ mă 胡馬 chỉ chung các bộ tộc phía bắc và tây bắc Trung Hoa như người Hồ Đột ,người Mông Cổ, Hung Nô,Thổ Phồn..v..v.. là các bộ tộc chuyên du mục nên họ thường nuôi các loài ngựa cao khỏe và rất quen với chiến trận .Từ xưa ,họ nhiều lần tràn qua biên giới tiến xuống phía nam để cướp phá với những đoàn kỵ binh thiện chiến.
- Vị  xem chú thích bài 1 T.H.K bên trên .
- ác tuyết 握雪 nắm ,vốc lấy tuyết ...
- phất  phẩy ,quét,giũ đi ,che đi ,đánh...
- lũng  g̣ ruộng ,vũng ,đồi.Cũng là tiếng viết tắc chỉ vùng Lũng Tây ,tỉnh Cam Túc ,T. H.
- tẩm  nằm nghỉ ngơi ,nơi ở,nhà ở ,lăng tẩm ...
- Nguyệt Chi 月氏

 người Hán xưa gọi những bộ tộc nằm ở phía tây vùng Trung Á là Nguyệt Chi hoặc Đại Nguyệt Chi .Họ tập trung sinh sống vùng ḷng chảo Tarim, Tân Cương, Cam Túc.

Về sau ,do sự tranh giành đất đai ,người Nguyệt Chi phải di cư sang phía bắc Ấn Độ lập ra vương triều Quư Sương . Sách do Quản Tử( 管子)soạn năm 645 TCN đă mô tả người Nguyệt Chi hay Quư Sương ở Cam Túc có mắt xanh ,râu rậm ,giỏi cưỡi ngựa .Sách của sử gia Tư Mă Thiên (thế kỷ 2-1 TCN) cũng ghi chép người Nguyệt Chi sống giữa vùng núi Kỳ Liên (Thiên Sơn) và Đôn Hoàng (Sử Kư ,mục 123) phía bắc Cam Túc .Người Nguyệt Chi chịu ảnh hưởng nhiều từ nền văn minh Hy Lạp .Người Hy Lạp gọi họ là Tocharin (Tokharistan). Trong thế kỷ 1-2 (SCN) họ cũng liên kết với tướng nhà Hán là Ban Siêu để tấn công bộ tộc Thổ Phồn và cả Hung Nô. Về sau ,họ dâng nhiều vàng bạc đá quư (ngọc Nguyệt Chi rất có tiếng) và xin cưới các công chúa nhà Hán. Vua Hán không đáp ứng được đ̣i hỏi của người Nguyệt Chi nên họ đă trở mặt tấn công đội quân của Ban Siêu (năm 86 SCN) .Nhưng do đường xa quân lính mệt mỏi ,thiếu lương thực họ đă bị quân nhà Hán ít hơn đánh bại.

- phương  thường hằng ,có , đang lúc này ,khắp nơi ,phương hướng , người có đạo nghĩa, chính trực....
- cao chẩm 高枕 cái gối cao để nằm ngủ . Chỉ sự yên giấc không phải lo nghĩ ǵ (cao chẩm vô ưu).Đồng thời từ này cũng để chỉ những bậc đạo cao đức trọng làm người ở ẩn không c̣n lo bận việc đời ....
   

 

 

 

 

 

Bài ba

 

 塞下曲其三 

 
 1    
駿馬似風飆, 

       鳴鞭出渭橋。 

    彎弓辭漢月, 

 4     插羽破天驕。 

     陣解星芒盡, 

     營空海霧銷。 

     功成畫麟閣, 

 8    獨有霍嫖姚。
 

 李白

 

 

 

TÁI HẠ KHÚC Kỳ tam.

 

 1 Tuấn mă tự phong tiêu ,

 Minh tiên xuất Vị kiều .

 Loan cung từ Hán nguyệt ,

 4 Sáp vũ phá thiên kiêu .

 Trận giải tinh mang tận ,

 Doanh không hải vụ tiêu .

 Công thành họa Lân Các ,

 8 Độc hữu Hoắc Phiêu Diêu !

 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa :

 

 Khúc ca dưới ải (bài ba).

 Con ngựa giỏi giống như ngọn gió lồng dữ dội . Thét lớn ,vung roi (cưỡi ngựa) lên đường ra trận đến cầu sông Vị . Giương cung lên để từ giă trăng đất Hán; lắp tên(vào cây cung) phá tan bọn giặc trời!

 Khi trận đánh đă ngừng lại , sao trời mênh mông cũng đă tắt . Những trại lính cũng bỏ không, sương mù nơi biển rộng cũng đă tan. Công lao (của tướng lĩnh) được cho vẽ khắc nơi gác Lân ,chỉ riêng có tướng Hoắc Phiêu Diêu mà thôi !

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 KHÚC CA DƯỚI ẢI (Bài ba).

 

 1     Ngựa hay như ngọn gió lồng ,

     Thét roi cầu Vị bến sông lên đường .

     Chia tay trăng Hán cung giương ,

 4     Cài tên quyết phá tan luôn giặc trời !

     Trận xong,sao cũng tắt rồi ,

     Trại doanh bỏ trống, sương mù biển tan !

   Vẽ vời công trạng gác Lân ,

 8     Phiêu Diêu họ Hoắc riêng chàng có thôi !

 

 Chú thích :

 

 

- phong tiêu 風飆 cơn gió mạnh dữ dội , gió lốc ,gió lồng lên ,gió lốc...
- minh tiên 鳴鞭 hét lớn và dùng roi thúc ngựa lên đường .Trong tác phẩm "Chinh phụ ngâm khúc 征婦吟曲 " của Đặng Trần Côn nước ta làm khoảng năm 1741 đời vua Lê Cảnh Hưng đă chịu ảnh hưởng nhiều đến những h́nh ảnh chinh chiến của những triều đại Trung Hoa cổ trong đó có thơ của Lư Bạch : ...."Tây phong minh tiên xuất Vị Kiều 西  " (câu 25) . Bà Đoàn Thị Điểm đă dịch ra tiếng nôm rất tài hoa :...".Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu ".(câu 24- Chinh phụ ngâm diễn ca).
- xuất  ra khỏi ,đi ra ,ra quân lên đường chống giặc...
- loan  trương cây cung để bắn ,giương lên hết cỡ để tên bắn đi xa và mạnh.
- sáp vũ 插羽 cài đặt ,lắp tên vào cây cung.
- thiên kiêu 天驕 bọn giặc trời kiêu ngạo ,giả dối .Đây chỉ những bộ tộc ngoài biên tái thường đem quân đánh phá các vùng lănh thổ biên ải của người Hán ,cũng như người Hán cũng nhiều lần đi cướp phá ,xâm chiếm nước khác . Họ luôn cho ḿnh là chính danh ,là nước lớn , xem các nước bên ngoài là man di và bao giờ cũng cao giọng vu cho họ là giặc dám chống lại thiên triều !
- Lân Các 麟閣 do Hán Cao Tổ cho xây dựng để ghi tên những viên tướng đă giúp ông dựng nghiệp đế .Các vua đời sau cũng dùng Lân Các ghi tên các vị danh tướng có công rất lớn trong việc pḥ vua và giữ ǵn bờ cơi như Hoắc Khứ Bệnh.
- Hoắc Phiêu Diêu 霍嫖姚 tức tướng quân rất trẻ và tài giỏi là Hoắc Khứ Bệnh 霍去病 (140-117 TCN) ,người huyện B́nh Dương ,Hà Đông,T.H . Lúc c̣n niên thiếu ,ông đă được Hán Vũ Đế tin dùng cho làm thị trung để gần gũi và bảo vệ vua. Năm 123 TCN,khi mới mười tám tuổi, ông được Hán Vũ Đế cho cầm quân cùng với tướng Vệ Thanh đi đánh quân Hung Nô thường quấy phá ,uy hiếp nhà Hán từ phía bắc. Chuyến ra quân này quân Hán thắng lớn nên được phong là Phiêu Diêu giáo úy, tước Quan Quân hầu .Năm 121 TCN,thăng chức Phiêu Kỵ tướng quân và cử đi đánh Hung Nô lần thứ hai. Chỉ trong sáu ngày với một vạn phiêu kỵ quân trang bị nhẹ, ông đă tiến nhanh qua năm tiểu quốc Hung Nô về hướng Lũng Tây giết gần một vạn quân địch buộc quân Hung Nô phải lùi chạy lên xa phía bắc tạo sự an toàn cho biên giới phía bắc nhà Hán. Năm 119 TCN , ông cùng Vệ Thanh chia nhau mỗi người nắm năm vạn quân đánh sâu vào các lănh thổ của Hung Nô làm tan đi mối lo sợ bị Hung Nô uy hiếp phía bắc. Với chiến công này ,ông và Vệ Thanh đều được phong là Đại Tư Mă lúc Hoắc Khứ Bệnh mới có hai mươi hai tuổi. Hai năm sau ,do nhiễm bệnh khi chinh chiến ,ông mất năm hai mươi bốn tuổi (117 TCN) được vua Hán phong thụy là Quan Quân Cảnh Hoàn hầu và có tên khắc và ảnh họa trong Lân Các.Ít nhiều h́nh ảnh chàng tướng trẻ Hoắc Phiêu Diêu đă là nguồn cảm hứng cho Đặng Trần Côn trong "Chinh Phụ Ngâm Khúc" và nhất là trong "Chinh Phụ Ngâm Diễn Ca" bản dịch nôm của Đoàn Thị Điểm ở nước ta : " Chàng tuổi trẻ vốn ḍng hào kiệt, Xếp bút nghiên theo việc đao cung"( câu 17-18) hoặc :..."Chỉ ngang ngọn giáo vào vùng hang beo "(câu 36-đối chiếu câu 3 bài Tái Hạ Khúc Kỳ nhất) .Điều đó cho thấy văn chương của người Việt trước đây chịu ảnh hưởng sâu đậm , thường vay mượn h́nh ảnh hay địa danh trong thơ văn Trung Hoa nếu không muốn nói là lệ thuộc rất nhiều vào tư tưởng của nhiều người tài danh của người Trung Hoa như Lư Bạch .Ngay cả bài hát Ḥn Vọng Phu làm giữa thế kỷ 20 về sau rất nổi tiếng của nhạc sĩ Lê Thương lấy nguồn cảm hứng từ Chinh Phụ Ngâm Khúc vẫn chưa thoát được sự vay mượn đó và gián tiếp ca ngợi chiến công của kẻ từng xâm lăng nước nhà : ..."Bên Man Khê c̣n tung gió bụi mịt mùng, bên Tiêu Tương c̣n thương tiếc nuối ngàn trùng " (Ḥn Vọng Phu 1) .Đó là những địa danh hoàn toàn của người Hán, nhất là ẩn chứa h́nh ảnh của tướng Phục Ba Mă Viện từng đi đánh dẹp các bộ tộc phía bắc ở đèo Man Khê phía bắc T.H. và cũng từng cầm quân xâm lăng nước ta ,đánh dẹp sự khởi nghĩa của Hai Bà Trưng một cách tàn bạo ở phía nam. Quả thật , những h́nh ảnh đại loại như Mă Viện cần giúp chúng ta tỉnh táo trước mọi mưu đồ đưa đất nước vào sự lệ thuộc Trung Hoa trong đó có văn học .Thơ văn của họ có rất nhiều cái hay ,cái đẹp nhưng ư đồ của những kẻ cầm quyền của họ từ xưa đến nay vẫn không hề thay đổi ư đồ bành trướng và sự hung hăn của nước lớn .Họ có nền văn học ,có nền văn hiến nhưng con đường tiến đến văn minh của họ c̣n là những bước đi chậm chạp nếu không không muốn nói là nhiều khi đi ngược với xu hướng tiến bộ của thời đại....
   

 

 

 

 

Bài bốn

 

塞下曲其四

 

 白馬黃金塞, 

 雲砂繞夢思。 

 那堪愁苦節, 

 遠憶邊城兒。 

 螢飛秋窗滿, 

 月度霜閨遲。 

 摧殘梧桐葉, 

 蕭颯沙棠枝。 

 無時獨不見, 

 淚流空自知。

 李白

 

 

 

 

 

     TÁI HẠ KHÚC Kỳ tứ .

 

 1     Bạch mă Hoàng Kim tái ,

     Vân sa nhiễu mộng ti (tư) .

     Na kham sầu khổ tiết ,

 4     Viễn ức biên thành nhi .

      Huỳnh phi thu song măn ,

     Nguyệt độ sương khuê tŕ .

     Tồi tàn ngô đồng diệp ,

 8     Tiêu táp sa đường chi .

     Vô th́ độc bất kiến ,

 10     Lệ lưu không tự tri .

 

 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa :

 

 Khúc ca dưới ải (bài bốn).

 Con ngựa lông trắng tuyền đang ở vùng biên tái Hoàng Kim . Những đám mây (cuốn theo) cát (nơi biên tái) ṿng quanh giấc mộng thương nhớ (người đi xa). Làm sao để nỗi sầu khổ cho vơi bớt đi !? Thiếp vẫn nhớ thương người đi nơi chốn thành tŕ biên giới xa xăm! Cửa sổ mùa thu đầy ắp những con đom đóm lập ḷe bay. Vầng trăng đă chậm răi đi qua pḥng khuê bao lần ? Lá ngô đồng tàn tạ , găy nát ; cành cây sa đường cũng hư hao ,tàn tạ ! Kể chi thời gian , cứ chờ trông măi, riêng ḿnh chẳng thấy ; nào hay ḍng lệ âm thầm ,lặng lẽ tuôn trào tự ḿnh ḿnh biết mà thôi !

 

 Tạm chuyển lục bát

 

 KHÚC CA DƯỚI ẢI (Bài bốn ).

 

 

 1     Hoàng Kim ngựa trắng vùng biên ,

     Mộng quanh mây cát nỗi niềm buồn đau .

     Làm sao vơi bớt khổ sầu !

 4     Thành biên xa lắc thiếp đâu quên nào .

     Đóm thu lượn cửa nhiều sao !

     Pḥng khuê qua chậm bao lần vầng trăng .

     Ngô đồng lá đă úa tàn ,

 8     Cành sa đường cũng tan hoang mất rồi !

     Đợi hoài chẳng thấy riêng người ,

 10     Tự ḿnh hay biết lệ rơi lặng thầm !

 

 Chú thích :

                                                

 

- vân sa 雲砂 những đám mây chứa nhiều cát ở những vùng hoang mạc do gió cuốn đi.
- na kham 那堪 làm sao chịu nổi .
- tiết  giảm bớt ,tiết giảm , vơi bớt ,đốt tre ...
- ức  nhớ nhung ,thương nhớ,không quên được .
 - nhi  cách người vợ thời xưa xưng hô với chồng ,nghĩa khác chỉ con trẻ ,con cái ,trẻ em...Ở đây tạm dịch là "thiếp" cũng theo cách xưng hô xưa cũ bên Trung Hoa.
- độ  vượt qua ,độ tŕ , lần ...
- sương khuê 霜閨 căn pḥng lạnh lẽo của người đàn bà lẻ loi , pḥng của người đàn bà vắng chồng . Tác phẩm "Cung oán ngâm khúc 宮怨吟曲 "của Nguyên Gia Thiều có câu : " Ai ngờ tiếng quyên kêu ra rả , Điệu thương xuân khóc ả sương khuê "(câu 281-282).
- tồi tàn 摧殘 hư hao ,găy nát...
- tiêu táp 蕭颯 cây cỏ lụi tàn .
ngô đồng 梧桐 c̣n được gọi là cây tơ đồng ,cây vông hay cây trôm được dùng làm thuốc. Trong văn học Trung Hoa ,cây ngô đồng thường được xem là loài cây quí v́ chim phượng hoàng thường đậu trên cây này. Thành ngữ Trung Hoa có câu : 梧桐一葉落,天下共知秋 Ngô đồng nhất diệp lạc ,Thiên hạ cộng tri thu( Một lá ngô đồng rơi ,người ta sẽ biết mùa thu đă đến )
- sa đường 沙棠 loại cây thân gỗ dùng để đóng thuyền .
- không  trống trải ,bỏ không ,thầm lặng ,vắng vẻ....
   

 

 

 

 

 Bài năm

 

 塞下曲其五

 

 1 塞虜乘秋下, 

 天兵出漢家。 

 將軍分虎竹, 

 4 戰士臥龍沙。 

 邊月隨弓影, 

 胡霜拂劍花。 

 玉關殊未入, 

 8 少婦莫長嗟。

 

 李白

 

 

 

 TÁI HẠ KHÚC Kỳ ngũ.

 

 1     Tái lỗ thừa thu há ,

      Thiên binh xuất Hán gia .

      Tướng quân phân Hổ Trúc ,

 4     Chiến sĩ ngọa Long Sa .

      Biên nguyệt tùy cung ảnh ,

      Hồ sương phất kiếm hoa .

      Ngọc Quan thù vị nhập ,

 8    Thiếu phụ mạc trường ta !

 

 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa :

 

 Khúc ca dưới ải (bài năm).

 Mùa thu ,quân giặc ở vùng biên tái đă thừa cơ tiến xuống phía ải . Quân lính triều đ́nh (binh trời !) nhà Hán cũng ra quân lên đường! Gậy ấn hổ trúc cũng được các tướng quân phân chia cho các bộ phận (nhận nhiệm vụ). Quân lính nằm nghỉ nơi băi Long Sa .Trăng ngoài biên tái cũng đi theo bóng của cây cung (cong vành) ; ánh hoa kiếm (lấp lánh) bị che đi bởi sương đất Hồ . Ngoài Ải Ngọc quân thù vẫn chưa tiến vào ! Những nàng thiếu phụ (có chồng đi ra biên cương) chớ có than dài !

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 KHÚC CA DƯỚI ẢI (Bài năm).

 

 1     Mùa thu giặc xuống biên cương ,

     Binh triều nhà Hán lên đường ra đi .

     Tướng quân hổ trúc phân chia ,

 4     Long Sa quân lính băi kia ăn nằm .

     Theo cung biên ải, bóng trăng ,

     Ánh hoa thanh kiếm ,che giăng sương Hồ .

     Ngọc Quan quân địch chưa vô ,

 8     Chớ than thở măi những cô có chồng !

 

 Chú thích

 

 

- lỗ  quân địch ,tù binh phe địch ,cướp được ,lấy được ,tôi tớ...
 - thừa  chuyên chở ,cưỡi (cưỡi ngựa ,cưỡi thuyền ...),nhân cơ hội ,thừa cơ...
- hổ trúc 虎竹 gậy trúc có bịt đầu con hổ để các tướng quân làm ấn tín giao cho các bộ tướng dưới trướng lănh trách nhiệm ra trận.
- Hồ   người Hán thường gọi các bộ tộc phương bắc và vùng giáp giới phía tây là rợ Hồ với thái độ coi khinh..... Hồ chỉ chung người bộ tộc Hồ Đột ,Thổ Phồn ,Đột Quyết ,Hung Nô ..vv..là những bộ tộc du mục ,cưỡi ngựa giỏi và thiện chiến .
- Ngọc Quan 玉關 tên gọi của Ngọc Môn Quan ,một cửa ải quan trọng vùng biên tái phía bắc Trung Hoa .Đây là cửa ải từng ngăn giữ nhiều trận đột nhập đánh phá của các bộ tộc phía bắc xuống lănh thổ nhà Hán.
- thù  quân thù địch ,quân bên đối phương.
- vị  chưa xảy ra ,chưa đến ,không nên ,chớ nên...

 

 

  

 

 

 

Bài sáu

  塞下曲其六

 

 烽火動沙漠, 

 連照甘泉雲。 

 漢皇按劍起, 

 還召李將軍。 

 兵氣天上合, 

 鼓聲隴底聞。 

 橫行負勇氣, 

 一戰靜妖氛。

 李白

 

 

 

TÁI HẠ KHÚC Kỳ lục.

 

 1     Phong hỏa động sa mạc ,

     Liên chiếu Cam Tuyền vân .

     Hán hoàng án kiếm khởi ,

 4     Hoàn triệu Lư tướng quân .

     Binh khí thiên thượng hợp ,

     Cổ thanh lũng để văn .

     Hoành hành phụ dũng khí ,

 8     Nhất chiến tĩnh yêu phân .

 

 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa :

 Khúc ca dưới ải (bài sáu).

 

 Lửa hiệu được đốt lên từ đài hiệu làm chấn động một vùng sa mạc (ngoài quan tái). Khói bốc lên như những đám mây ở núi Cam Tuyền được đốt lên liên tục soi sáng (cả một vùng ). Vua Hán chống kiếm đứng lên cho triệu hồi Lư tướng quân trở về triều. Khí thế binh lính như hợp nhau lại trên trời ! Nghe tiếng trống (trận) bên dưới vùng thung lũng . Quân lính xông xáo (ngoài trận mạc), nhờ vào khí thế mạnh mẽ nên chỉ trong một trận đă sạch bóng yêu quái xấu xa !

 

 Dịch thơ :

 KHÚC CA DƯỚI ẢI (Bài sáu).

 

 1     Lửa hiệu rối sa mạc ,

      Cam Tuyền mây tiếp nhau .

     Chống kiếm dậy ,vua Hán

 4     Vua mời tướng Lư vào ,

     Họp quân trời : khí thế !

     Dưới lũng ,tiếng trống ào !

     Xông xáo nhờ khí mạnh ,

 8     Một trận ,sạch quái yêu !

 

 Chú thích:

 - phong hỏa 烽火 : thời nhà Tần ,để ngăn sự quấy phá của các bộ tộc như Hồ Đột , Thổ Phồn ,Hung Nô..v..v ..ở phía bắc thường tiến xuống phía nam cướp phá , vua Tần Thủy Hoàng đă cho xây dựng Trường Thành (hay c̣n gọi Vạn Lư Trường Thành sau này ) và cho đặt các đài cao chứa gỗ củi ,chất dễ cháy gọi là Phong hỏa đài để khi có quân địch tràn xuống sẽ cho đốt liên tiếp và liên tục những phong hỏa đài đặt dọc theo Trường Thành để báo tin làm hiệu cấp thời cho triều đ́nh và dân chúng pḥng bị giặc tiến vào.Các vua triều đại sau vẫn tiếp tục duy tŕ Trường thành và các phong hỏa đài này.

 - động  : chuyển động ,chấn động ,rung động ,xúc động ,rối ren ,bèn...

 - liên chiếu 連照 : chỉ các phong hỏa đài được đốt để có ánh sáng và mây khói liên tục.

 - Cam Tuyền 甘泉 : tên một cửa ải quan trọng về phía bắc nhà Hán có đặt liên tiếp các phong hỏa đài .Khi quân địch tràn xuống ,binh lính sẽ đốt liên tục các phong hỏa đài tạo thành những đám mây khói và ánh sáng từ lửa có thể nh́n thấy từ rất xa để báo tin nhanh về triều đ́nh. Do chịu ảnh hưởng sâu đậm của thơ văn Trung Hoa nhất là thơ Đường nên nhiều h́nh ảnh trong thơ văn cổ của nước ta như Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn cũng lấy ư thơ từ thơ Lư Bạch:   Cổ bề thanh động Trường Thành nguyệt,    Phong hỏa ảnh chiếu Cam Tuyền vân,   Cửu trùng án kiếm khởi đương tịch....( Đoàn thị Điểm đă dịch nôm : ..."Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt ,Khói Cam Tuyền mù mịt thức mây .Chín tầng gươm báu trao tay ...."- c.5,6,7 ,Chinh Phụ Ngâm Diễn Ca).

 - án kiếm khởi 按劍起 : đứng dậy chống kiếm để bắt đầu một công việc lớn như khởi binh ra trận ,ban bố quân lệnh của các vua chúa .

 - Lư tướng quân 李將軍 : tức Lư Quảng李廣 ,người đất Lũng Tây,Cam Túc, T.H. Ông c̣n được gọi là Phi tướng quân 飛將軍 v́ có tài cưỡi ngựa ,bắn cung thần tốc .Từ trẻ ,ông đă tham gia quân đội chống quân Hung Nô(160 TCN) được Hán Văn Đế phong chức Lang Trung lệnh.Thời Hán Vũ Đế được làm Vệ Úy cung Vị Ương .Năm 133 TCN, vua phong làm Phiêu Kỵ tướng quân đi đánh Hung Nô cùng các cánh quân khác. Ông thắng nhiều trận nhưng cũng bị thua nhiều trận và có lần bị quân Hung Nô bắt giữ nhưng trốn thoát được .Triều định luận tội xử chết chém nhưng nhờ đem hết gia sản lo liệu nên thoát tội .Năm 119 TCN ,do sự điều phối của đại tướng quân Vệ Thanh không rơ ràng khiến đoàn quân của Lư Quảng đi lạc nên hội quân trễ tạo cơ hội cho thiền vu (tức tên gọi vua Hung Nô) trốn thoát .Vệ Thanh cho triệu về doanh trại để hạch tội .Lư Quảng cho là ḿnh bị sỉ nhục nên rút gươm tự tử. H́nh ảnh cao to và khí lực mạnh mẽ của Lư Quảng khi xông pha trận mạc luôn làm cho quân Hung Nô khiếp sợ. (xem Sử Kư Tư Mă Thiên). 

 - binh khí 兵氣 : khí giới cho quân lính đánh kẻ thù , khí thế của quân binh khi ra trận.

 - hoành hành 橫行 : ngang ngược ,trái đạo lư , xông xáo chẳng sợ hăi khi xung trận.

 - phụ  : cậy nhờ , gánh vác ,dựa vào ,lo lắng,phụ bạc...

 - tĩnh  : sạch sẽ ,trinh trắng,yên tĩnh ,ḥa dịu ,mưu trí...

 - phân  : khí tượng không lành ,xấu xa,không tốt...


 

 

 

 

 Bài 26:

 

 將進酒


 1
君不見: 

 黃河之水天上來, 

 奔流到海不復回? 

 4 又不見: 

 高堂明鏡悲白髮, 

 朝如青絲暮成雪? 

 人生得意須盡歡, 

 8 莫使金樽空對月。 

 天生我才必有用, 

 千金散盡還復來。 

 烹羊宰牛且為樂, 

 12 會須一飲三百杯。 

 岑夫子, 

 丹丘生, 

 將進酒, 

 16 杯莫停。 

 與君歌一曲, 

 請君為我傾耳聽。 

 鐘鼓饌玉不足貴, 

 20 但願長醉不願醒。 

 古來聖賢皆寂寞, 

 唯有飲者留其名。 

 陳王昔時宴平樂, 

 24 斗酒十千恣歡謔。 

 主人何為言少錢, 

 逕須沽取對君酌。

 五花馬, 

 28 千金裘, 

 呼兒將出換美酒, 

 30 與爾同消萬古愁。

 李白

 

  

 

 

 TƯƠNG TIẾN TỬU

 

 1 Quân bất kiến :

 Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai .

 Bôn lưu đáo hải bất phục hồi ,

 4 Hựu bất kiến :

 Cao đường minh kính bi bạch phát ,

 Triêu như thanh ty mộ thành tuyết .

 Nhân sinh đắc ư tu tận hoan ,

 8 Mạc sử kim tôn không đối nguyệt .

 Thiên sinh ngă tài tất hữu dụng ,

 Thiên kim tán tận hoàn phục lai .

 Phanh dương ,tể ngưu thả vi lạc ,

 12 Hội tu nhất ẩm tam bách bôi .

 Sầm phu tử ,

 Đan Khâu sinh .

 Tương tiến tửu ,

 16 Bôi mạc đ́nh .

 Dữ quân ca nhất khúc ,

 Thỉnh quân vị ngă khuynh dĩ thính .

 Chung cổ soạn ngọc bất túc quư ,

 20 Đăn nguyện trường túy bất nguyện tinh .

 Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch ,

 Duy hữu ẩm giả giai kỳ danh .

 Trần Vương tích thời yến B́nh Lạc ,

 24 Đẩu tửu thập thiên tứ hoan hước .

 Chủ nhân hà vi ngôn thiểu tiền ,

 Kính tu cô thủ đối quân chước .

 Ngũ hoa mă ,

 28 Thiên kim cừu .

 Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu ,

 30 Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu .


 

 Lư Bạch

 Dịch nghĩa :

 Rượu sắp mời .

 Bạn không thấy sao ?! : nước Hoàng Hà đến từ trên trời ,vội vàng chảy ra biển không quay trở lại ! Lại không thấy : thương cho mái tóc bạc khi soi vào tấm gương sáng trong ngôi nhà cao! Buổi sáng(mái tóc)như là những sợi tơ xanh mà chiều tối đă thành bông tuyết!(c. 1-6)

 Cho nên ,đời người khi nào đạt được như ư hăy nên hưởng cho hết niềm vui thú. Chớ nên để cho chén vàng trống không trước vầng trăng . Trời sinh ra ta có tài năng ắt sẽ có chỗ dùng. Ngàn vàng tan biến hết cả rồi lại quay về ! Mổ dê ,giết trâu hăy tạm vui chơi. Hăy mau họp nhau lại uống vội một lần ba trăm chén !(c. 7-12).

 Hỡi thầy họ Sầm ,hỡi bạn Đan Khâu ! Rượu sắp mời , xin chớ dừng chén ! V́ các bạn, ta sẽ ca một khúc hát . Xin mời bạn nghiêng tai nghe ta ca ! Chuông trống , thức ăn ngon của bàn tiệc, châu ngọc kia cũng không đủ quư giá ! Chỉ mong muốn say măi ,chẳng mong tỉnh táo ! Xưa nay thánh hiền đều lặng lẽ , im ắng ; chỉ có kẻ uống say tiếng tăm c̣n lưu giữ măi !(c. 13-22) .

 Xưa kia Trần Vương mở tiệc ở B́nh Lạc vui chơi đùa giỡn với mười ngàn chung rượu .Chủ nhân sao lại nói thiếu tiền ? Hăy mau mua rượu chuốc mời bạn ! Này là ngựa hoa năm sắc ,này là áo cừu ngàn vàng ! Gọi con trẻ đem đi đổi lấy rượu ngon để cùng với bạn làm tan biến mối sầu muôn thuở (c. 23-30).

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 RƯỢU SẮP MỜI .

 

 1 Bạn sao chẳng thấy :

 Hoàng Hà nước chảy từ trời ,

 Vội vàng xuôi biển chẳng lui trở về !

 4 Lại chẳng thấy :

 Gương soi tóc trắng tái tê !

 Sáng như tơ biếc ,tuyết che xế trời !

 Hăy vui được ư đời người !

 8 Trước trăng chớ để trống vơi chén vàng !

 Tài ta ,dùng được trời ban , Quay về trở lại ,ngàn vàng hết thôi !

 Nấu dê ,trâu giết tạm vui !

 12 Ba trăm chén hăy uống vơi một lần .

 Chàng Đan Khâu với thầy Sầm !

 Chớ dừng uống rượu, nâng bôi sắp mời .

 Ta ca một khúc v́ người !

 V́ ta xin bạn lắng người nghiêng tai !

 16 Quư ǵ chuông ,ngọc ,thức đầy ! ,

 Không cầu tỉnh táo , mong say măi hoài .

 Thánh hiền đều vắng xưa nay !

 Chỉ người uống rượu tên rày c̣n kia !

 20 Trần Vương B́nh Lạc tiệc xưa ,

 Mười ngàn chung rượu giỡn đùa cười rân !

 Nói chi tiền ít chủ nhân !

 Hăy mau mua rượu bạn thân rót tràn ,

 24 Ngựa hoa ,áo ấm ngàn vàng ,

 Gọi con đem đổi lấy hàng rượu ngon ,

 26 Cùng sầu muôn thuở tiêu ṃn......

 

 Chú thích :

 - tương : sắp sửa ,nhận lấy ,bên cạnh ,điều ấy,đi mất ,tiến lên,giúp đỡ ,vâng theo,theo, nuôi dưỡng....;một âm là thương : xin mời ; âm nữa là tướng :tướng soái ,chỉ huy cấp cao của quân lính.

 - tiến  : tiến lên ,vào ,dâng lên ,dâng mời một cách kính trọng ,thân cận....

 - Hoàng Hà 黃河 : đây là con sông lớn thứ hai bên Trung Hoa sau Trường Giang .Sông dài 5464 km đi qua chín tỉnh thành.Sông phát nguyên từ các dăy núi Côn Lôn trên cao nguyên Thanh Tạng chảy về hướng đông ra Bột Hải ở Sơn Đông. Hoàng Hà là niềm tự hào của người Hán v́ nước nhiều phù sa màu vàng cung cấp chất dinh dưỡng cho các đồng bằng trồng lúa và hoa màu nó chảy qua cũng như sự mạnh mẽ chảy cuồn cuộn của nó ; nhưng ḍng sông này cũng gây ra nhiều thảm họa cho dân chúng nhất là những năm mưa lớn ,nước dâng cao...

 - bôn lưu 奔流 : chảy nhanh ,chảy vội vàng...

 - tu  :hăy nên ,đợi chờ,râu ,thoáng chốc ,gấp gáp...

 - phanh  : nấu chín ,giết mổ loài vật...

 - thả  : hăy tạm ,huống chi ,sắp sửa ,vừa này vừa kia...

 - Sầm phu tử 岑夫子 : thầy Sầm ,tức Sầm Huân 岑勳 ,bạn thân của Lư Bạch thường được nói đến trong nhiều bài thơ của họ Lư nhưng tiểu sử và thân thế không được rơ .

 - Đan Khâu sinh 丹丘生 : tức Nguyên Đan Khâu 元丹丘 ,bạn thân của Lư Bạch cũng không rơ tiểu sử và thân thế.

 - đăn nguyện 但願 : chỉ mong ước .

 - Trần Vương 陳王 : tức Trần Tư Vương Tào Thực 曹植 ,con của Tào Tháo nhà Ngụy ,đời Tam Quốc là một nhà thơ lớn đă để lại nhiều thơ văn có giá trị.Trong bài "Danh đô thiên" 名都篇 (mục viết về nơi tụ hội danh tiếng) , Tào Thực đă viết : "Quy lai yến B́nh Lạc ,mỹ tửu đẩu thập thiên" 歸來宴平樂,美酒斗十千 ( Trở về mở tiệc ở B́nh Lạc ,rượu ngon mười ngàn đấu). 

 - cô  :mua bán ,thô ráp,xấu xí,sơ sài.

 - thiên kim cừu 千金裘 : cừu : áo làm bằng da một loài chồn bạc rất quư hiếm đáng giá ngàn vàng được cho là của Mạnh Thường Quân 尝君, tên thật là Điền Văn田文 ,nhà giàu có, làm đến chức Tể tướng nước Tề, thời Chiến Quốc thường hay giúp đỡ người khác ,chiêu hiền đăi sĩ nên trong luôn có cả ngàn khách đủ các thành phần trong nhà ...

 

 

 

 BÀI 27:

 

 送友人

 

 青山橫北郭, 

 白水遶東城。 

 此地一為別, 

 孤蓬萬里征。 

 浮雲遊子意, 

 落日故人情。 

 揮手自茲去, 

 蕭蕭班馬鳴。

 

 李白

 

 

 TỐNG HỮU NHÂN

 

 1     Thanh sơn hoành bắc quách ,

 Bạch thủy nhiễu đông thành .

 Thử địa nhất vi biệt ,

 4     Cô bồng vạn lư chinh .

 Phù vân du tử ư ,

 Lạc nhật cố nhân t́nh .

 Huy thủ tự tư khứ ,

 8     Tiêu tiêu ban mă minh .

 Lư Bạch

 

 Dich nghĩa ;

 Tiễn bạn .

  Dăy núi xanh nằm ngang phía bắc thành bao bên ngoài (thành ngoại ) .Ḍng nước trong trẻo chảy ṿng quanh phía đông của thành (nội) .Nơi vùng đất này một lần chia tay ,bạn như cây cỏ bồng trơ trọi ,lẻ loi đi xa muôn dặm . Những ư nghĩ của người khách đi xa như đám mây trôi nổi. T́nh cảm của bạn cũ như khi mặt trời lặn,màn đêm buông xuống ! . Bạn vẫy tay, ra đi từ đây .Tiếng ngựa hí vang khắp nơi trong tiếng gió lạnh lùng vù vù thổi .

 

 Dịch thơ

 TIỄN BẠN

 

 1     Núi xanh ngang thành bắc ,

 Nước trong ,quanh thành đông .

 Một lần rời đất ấy ,

 4     Muôn dặm trơ cỏ bồng .

 Người đi : ư mây nổi ,

 T́nh bạn : trời đêm buông .

 Vẫy tay đi, từ đó ,

 8     Ngựa hí ,gió lạnh lùng .

 

 Chú thích :

 - quách  : thành nằm bên ngoài bao quanh và che chở cho thành chính bên trong. Thành và quách thường dùng chỉ chung thành tŕ ngày xưa.

 - bạch : trong trẻo ,trong trắng,trong sạch ,màu trắng ,sáng sủa ,rơ ràng... Đây kết hợp với chữ thủy và toàn câu thơ này chỉ ḍng nước trong trẻo chảy quanh các hào dưới chân thành tŕ .

 - nhiễu  : ṿng quanh ,quấn quanh .Dùng như chữ  (bộ mịch).

 - bồng  : cây cỏ bồng ,một loại cỏ hoang, thân nhẹ dễ bị gió cuốn đi .

 - du tử 遊子 : con cái rời cha mẹ đi xa ,khách đi xa.

 - ư  : ư nghĩ , ư chí ,dự định ,sự định liệu trong suy tính...

 - tư  : đây ,nơi đây, th́ ,càng thêm, chiếu làm bằng cỏ...

 - tiêu tiêu 蕭蕭 : tiếng ngựa hí kêu the thé ,tiếng gió thổi vù vù lạnh lùng. Trong " Thích khách liệt truyện" (刺客列傳),mục "Kinh Kha truyện 荊傳軻 trong Sử Kí 史記 của Tư Mă Thiên đă mô tả buổi chiều khi tráng sĩ Kinh Kha ra đi , qua sông Dịch: "Phong tiêu tiêu hề Dịch thuỷ hàn, Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn" 風蕭蕭兮易水寒, 壯士一去兮不復還 (Gió thổi vù vù chừ sông Dịch lạnh tê tái ; tráng sĩ một lần ra đi chừ không trở lại ).

 - ban  : khắp nơi, ban phát ,loang lổ,trở về (ban sư) ,thứ lớp ,ngay ngắn....

 

 

 

 

       BÀI 28:

 

   丁都護歌

 

 1   雲陽上征去, 

 兩岸饒商賈。 

 吳牛歂月時, 

 4   拖船一何苦! 

 水濁不可飲, 

 壺漿半成土。 

 一唱都護歌, 

 8   心摧淚如雨。 

 萬人繫盤石, 

 無由達江滸。 

 君看石芒碭, 

 12   掩淚悲千古。

 

         李白

 

 

 

 ĐINH ĐÔ HỘ CA

 

 1   Vân Dương thướng chinh khứ ,

 Lưỡng ngạn nhiêu thương cổ .

 Ngô ngưu suyễn nguyệt th́ ,

 4   Đà thuyền nhất hà khổ .

 Thủy trọc bất khả ẩm ,

 Hồ tương bán thành thổ .

 Nhất xướng Đô hộ ca ,

 8   Tâm tồi lệ như vũ .

 Vạn nhân tạc bàn thạch ,

 Vô do đạt giang hử.

 Quân khan thạch Mang Đăng ,

 12   Yểm lệ bi thiên cổ .

 

 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa :

 Bài ca " Đinh đô hộ".

  Ở Vân Dương đi lên phía trên ,hai bên bờ sông buôn bán đầy đủ các thứ . Con trâu đất Ngô ph́ pḥ khi có trăng ! Kéo thuyền đi sao lại là việc khổ cực nhất ! ? : nước đục ngầu không thể nào uống được ; bầu chứa nước phân nửa đă (lắng) thành bùn đất !

 Mỗi lần hát lên bài ca "Đinh đô hộ" th́ ḷng dạ buồn bă bi thương , lệ trào như mưa đổ.

Hàng muôn người đục đẽo phiến đá lớn như mâm bàn không đưa đến được bờ sông .Anh hăy trông ngọn núi đá Mang Đăng và hăy ngăn lại những giọt lệ đau buồn muôn thuở !

 

 Dịch thơ :

 

 BÀI CA " ĐINH ĐÔ HỘ ".

 

 1     Vân Dương đi trên đó ,

 Buôn bán đông hai bờ .

 Trâu Ngô trăng lên thở ,

 4     Kéo thuyền sao bơ phờ ! :

 Nước đục không uống được ,

 Nước bầu nửa bùn dơ !

 Một lần ca "Đô hộ" ,

 8     Ḷng đau ,lệ như mưa .

 Muôn người đẽo thớt đá ,

 Không qua nổi đến bờ .

 Anh nh́n núi Mang Đăng ,

 12     Ngăn lệ sầu ngàn xưa !

 

 Chú thích :

 - Đinh Đô hộ ca 丁都護歌 : là bài ca của những tráng đinh bị bắt đi làm những công việc nặng nhọc như chẻ đá xây thành ,kéo thuyền chở đá hay quân lương ,làm phu mỏ ...v..v.. .(Từ "đô hộ" cũng chỉ việc các triều đại nhà Đông Hán ,nhà Đường ..v..v..đi xâm lược các nước yếu hơn rồi cho thiết lập sự cai trị gọi là Đô hộ phủ ,đặt chức quan Thái thú, Tiết độ sứ...v..v.. cai quản, bắt dân chúng các nước ấy làm phu dịch .Năm 679 , nhà Đường xâm lược nước Giao Châu của ta rồi cử Lư Diên Hựu sang cai quản đặt tên nước ta là An Nam đô hộ phủ 安南都護府. Về sau người Trung Hoa gọi nước ta là An Nam . (Các người làm bản đồ Trung Hoa xưa và nay cứ xuyên tạc nói là nước Việt Nam một thời là của họ chứ không bao giờ nói rơ là họ đă dùng vũ lực để xâm chiếm như việc cưỡng chiếm nước Tây Tạng ,Tân Cương.,..v..v. Họ xem đó là việc đă rồi và thời gian sẽ hợp pháp hóa ,"nước đă đánh bùn" việc cưỡng chiếm lănh thổ của dân tộc khác ! Óc năo xâm lược và mưu đồ bá quyền luôn được nhiều thế hệ cầm quyền người Trung Hoa ra sức liên tục giáo dục và bóp méo sự thật lịch sử .Họ đi ngược lại những chuẩn mực đạo đức mà những bậc thánh như Khổng tử ,Mạnh tử ..v..v..của họ gọi là "bất liêm" ,"xảo ngôn " -không ngay chính ,lời nói gian dối ,xảo trá )

 - Vân Dương 雲陽 : tên một huyện ở Giang Tô .Ở Thiểm Tây cũng có một địa danh tên là Vân Dương.

 - nhiêu thương cổ 饒商賈 : nhiêu ; đầy đủ ,rộng răi ,dư thừa ,khoan dung...;thương cổ : việc mua bán. Đây chỉ việc buôn bán sầm uất ,tấp nập với đầy đủ các loại hàng hóa .

 - Ngô ngưu 吳牛 : trâu đất Ngô quen cày lúc mặt trời nóng gay gắt nên khi nghỉ ngơi ban đêm thấy vầng trăng cứ ngỡ là mặt trời nên thở ph́ pḥ ,hỗn hễn .

 - hồ tương 壺漿 : nước cất trong bầu hay ṿ nước để uống .

 - tâm tồi 心摧 : ḷng dạ đau buồn , bi thương ,xót xa ...

 - giang hử 江滸 : bờ sông ,ven sông...

 - Mang Đăng 芒碭 : tên núi đá dùng khai thác đá ở Đăng Sơn ,Giang Tô, T.H.

 

 

 

        BÀI 29:

 

    扶風豪士歌

 

 1 洛陽三月飛胡沙, 

 洛陽城中人怨嗟。 

 天津流水波赤血, 

 4 白骨相撐如亂麻。 

 我亦東奔向吳國, 

 浮雲四塞道路賒。 

 東方日出啼早鴉, 

 8 城門人開掃落花。 

 梧桐楊柳拂金井, 

 來醉扶風豪士家。 

 扶風豪士天下奇, 

 12 意氣相傾山可移。 

 作人不倚將軍勢, 

 飲酒豈顧尚書期。 

 雕盤綺食會眾客, 

 16 吳歌趙舞香風吹。 

 原嘗春陵六國時, 

 開心寫意君所知。 

 堂中各有三千士, 

 20 明日報恩知是誰。 

 撫長劍,一揚眉。 

 清水白石何離離, 

 脫吾帽,向君笑。 

 24 飲君酒,為君吟。 

 張良未隨赤松去, 

 26 橋邊黃石知我心。

 

               李白

 

 

 

 PHÙ PHONG HÀO SĨ CA .

 

 1 Lạc Dương tam nguyệt phi Hồ sa ,

 Lạc Dương thành trung nhân oán ta .

 Thiên Tân lưu thủy ba xích huyết ,

 4 Bạch cốt tương sanh như loạn ma .

 Ngă diệc đông bôn hướng Ngô quốc ,

 Phù vân tứ tắc đạo lộ xa .

 Đông phương nhật xuất đề tảo nha ,

 8 Thành môn nhân khai tảo lạc hoa .

 Ngô đồng dương liễu phất kim tỉnh ,

 Lai túy Phù Phong hào sĩ gia .

 Phù Phong hào sĩ thiên hạ kỳ ,

 12 Ư khí tương khuynh sơn khả di .

 Tác nhân bất ỷ tướng quân thế ,

 Ẩm tửu khởi cổ thượng thư kỳ .

 Điêu bàn ỷ thực hội chúng khách ,

 16 Ngô ca ,Triệu vũ hương phong xuy .

 Nguyên ,Thường ,Xuân , Lăng lục quốc th́ ,

 Khai tâm tả ư quân sở tri .

 Đường trung các hữu tam thiên sĩ ,

 20 Minh nhật báo ân tri thị thùy ?

 Phủ trường kiếm ,nhất dương mi ,

 Thanh thủy ,bạch thạch hà ly ly .

 Thoát ngô mạo hướng quân tiếu ,

 24 Ẩm quân tửu vị quân ngâm .

 Trương Lương vị tùy Xích Tùng khứ ,

 26 Kiều biên Hoàng Thạch tri ngă tâm .

 

 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa :

 Bài ca các hào sĩ đất Phù Phong . 

 Tháng ba ở thành Hàm Dương cát (do vó ngựa ) quân Hồ bay khắp thành .Thành Lạc Dương vang tiếng rên la ai oán của người trong thành . Cơn sóng nhẹ của ḍng nước Thiên Tân làm trôi chảy máu đỏ rực . Xương trắng chống đỡ lên nhau khắp nơi tựa như gai góc ! Ta cũng vội vàng đi về hướng đông phía nước Ngô . Bốn bề mây trôi nổi che kín ,con đường đi c̣n xa lắc . (C.1-6) Phương đông mặt trời đă mọc với tiếng chim quạ kêu lúc trời hửng sáng.Cửa thành có người mở ra quét hoa rơi . Cây ngô đồng và dương liễu phủi trên giếng vàng . Ta đến uống rượu ở nhà của những người hào kiệt đất Phù Phong . Những kẻ hào kiệt đất Phù Phong là những người khác thường giữa người đời . Ư chí và khí phách hợp lại làm nghiêng núi ,dời non . Làm người không được dựa dẫm vào thế lực của các vị tướng quân .Quay lại nh́n kỳ họp của các vị thượng thư ,ta bắt đầu uống rượu thôi !(C.7-14)

 Với mâm bàn chạm khắc, có trải khăn lụa nhiều hoa văn màu sắc với thức ăn ngon họp cùng khách khứa .Bài ca của đất Ngô ,điệu múa đất Triệu (ḥa cùng) mùi hương thơm ngát gió thổi mang đi .B́nh Nguyên quân, Mạnh Thường quân , Xuân Thân quân ,Tín Lăng quân ...của thời sáu nước . Họ mở rộng tấm ḷng ,sắp xếp sự suy nghĩ là điều mà bạn đă được biết rồi ! Trong gian nhà chính cao lớn của họ luôn có ba ngàn kẻ sĩ .Ngày sau ,biết ai là người sẽ báo đáp ơn nghĩa này?! (C.15-20) .

 Một lần vỗ thanh kiếm dài , nhướng lông mày lên . Ḍng nước xanh ,đá trắng phau 

sao dáng vẻ lại tươi thắm thế này ! Ta bỏ mũ ra hướng về phía bạn mà cười vui. Ta uống rượu của bạn ,rồi v́ bạn mà ca ngâm ! Ta như Trương Lương khi chưa đi theo thầy Xích Tùng nhưng ông Hoàng Thạch ở bên cầu đă biết ḷng ta rồi ! (C. 21-26).

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 BÀI CA CÁC HÀO SĨ ĐẤT PHÙ PHONG .

 

 1 Cát Hồ thành Lạc tháng ba ,

 Lạc Dương dân oán rên la khắp thành .

 Máu trôi đỏ nước Thiên Tân ,

 4 Xương như gai rối lan tràn trắng phô !

 Về đông ,ta vội đến Ngô ,

 Bốn bề mây nổi khuất mờ đường xa .

 Vầng đông ló dạng ,quạ la ,

 8 Cổng thành người mở quét hoa rơi đầy .

 Giếng vàng :ngô ,liễu phủi lay ,

 Phù Phong đến uống cho say rượu mời .

 Phù phong hào sĩ khác người !

 12 Núi non ư khí chuyển dời với nhau .

 Làm người oai tướng dựa sao !

 Quay nh́n quan thượng : rượu ào uống thôi !

 Thức ngon ,mâm chạm khách mời ,

 16 Ca Ngô ,múa Triệu gió vời ngát hương .

 Thời nào : Xuân ,Tín ,Nguyên ,Thường,

 Mở ḷng đặt ư bạn từng biết kia !

 Ba ngàn kẻ sĩ trong nhà ,

 20 Ngày sau báo đáp sẽ là ai đây ?! 

 Vỗ thanh kiếm ,nhướng lông mày ,

 Nước trong ,đá trắng dáng bày đẹp tươi !

 Hướng về bạn ,cất mũ cười !

 24 Uống say rượu bạn , v́ người thơ ngâm !

 Trương Lương chưa gặp Xích Tùng,

 26 Bên cầu Hoàng Thạch hiểu ḷng ta thôi !

 

 Chú thích :

 - Phù Phong 扶風 : vùng đất ở Thiểm Tây ,nay thuộc huyện Phụng Tường,Thiểm Tây ,T.H.

 - hào sĩ 豪士 : những người có tài sức hơn người lại phóng khoáng ,hào hiệp ,thích kết giao bạn bè ,trọng nghĩa khí...

 - Hồ  : xem C.T. bài 25 (Tái hạ khúc (bài năm) ở trên).

 - Lạc Dương 洛陽 : nằm bên bờ Lạc Hà phía tây Hà Nam ,T.H. Đây là kinh đô của nhiều triều đại cổ của . Nhà Đông Hán của Hán Quang Vũ đế đă chọn nơi đây làm kinh đô. Trước đó, nhà Tần cũng đóng đô ở đây và gọi là Lạc Ấp 洛邑 .Thời Lư Bạch ,nhà Đường của Lư Long Cơ tức Đường Huyền Tông (c̣n gọi là Đường Minh Hoàng) lấy Tràng An làm kinh đô; Lạc Dương chỉ là một thủ phủ lớn mà thôi .

 - Thiên Tân 天津 : không rơ địa danh này vào thời của Lư Bạch ở gần Lạc Dương hay không. C̣n Thiên Tân ,thành phố lớn của Trung Hoa hiện nay lại nằm về phía đông sát biển Bột Hải.

 - ba  : sóng nhỏ vỗ nhẹ .

 - sanh  : chống đỡ ,chồng chất ,no nê đầy đủ ...

 - Ngô quốc 吳國 : thời Tam quốc bên Trung Hoa (220-280) gồm ba nước tranh chấp quyền lực và lănh thổ của nhau : nước Ngụy của Tào Phi hay c̣n gọi là Ngụy Tào (220-265) ,nước Thục của Lưu Bị hay c̣n gọi Thục Hán (221-263) và nước Ngô của Tôn Quyền hay c̣n gọi là Đông Ngô (229-280) .Đông Ngô kiểm soát vùng Dương Châu ,Giao Châu (tức Giao Chỉ của Việt Nam xưa ) và Kinh Châu ở phía tây nam . Nhà Ngụy chiếm vùng phía bắc ; c̣n nhà Thục chiếm trung nguyên và mạn phía đông Trung Hoa.

 - tắc  : bế tắc ,lấp kín ,đầy đủ ,thêm vào ,che khuất...

 - ư khí 意氣 : ư chí và khí phách biểu hiện tính cách mạnh mẽ của một người .

 - cố  : quay lại nh́n ,xét kỹ ,chiếu cố ,giúp đỡ...

 - ỷ  : khăn lụa có hoa văn h́nh vẽ ,màu sắc sáng đẹp.

 - Nguyên ,Thường Xuân ,Lăng 原嘗春陵 : tức Chiến quốc tứ công tử 战国四公子 gồm B́nh Nguyên Quân Triệu Thắng của nước Triệu,Mạnh Thường Quân Điền Văn của nước Tề,Xuân Thân Quân Hoàng Yết của nước Sở,Tín Lăng Quân Ngụy Vô Kỵ của nước Ngụy thời Lục quốc bên T.H. Họ là những công tử con em các vua chúa hoặc nhà quyền quí ,giàu có ,hào phóng thường chiêu hiền đăi sĩ .Trong phủ thất của họ thường cấp dưỡng vài ngàn kẻ sĩ hoặc những người có tài năng.

 - tả  : đặt để ,sắp đặt ,mô phỏng,sạch hết,làm cho giống.

 - ly ly 離離 : tươi tốt ,rậm rạp ,đầy rẫy ,tua tủa ,trĩu nặng ...

 - mạo : mũ đội đầu .

 - Trương Lương 張良 : tên tự là Tử Pḥng子房 .Ông là khai quốc công thần nhà Hán cùng với

 Hàn Tín và Tiêu Hà đă giúp Lưu Bang diệt được nhà Tần và đánh tan quân của Sở vương Hạng Vũ . Ông cũng được xem là một trong những vị quân sư giỏi nhất của Trung Hoa cổ đại.

Khi nước Hàn bị Tần Thủy Hoàng diệt (230 TCN) ,ông mưu tính trả thù bằng cách dùng lực sĩ

 to khỏe ném chùy lớn vào đoàn xe vua Tần nhưng lại đánh nhầm vao xe của tùy tùng . Tần Thủy Hoàng nổi giận cho truy bắt gắt gao .Ông phải đổi tên họ ,dấu thân thế ,lánh nạn ở Hạ B́. Ông may mắn gặp Hoàng Thạch Công ở cầu sông Vị và được trao cho "Thái công binh pháp". Về sau ,ông theo Lưu Bang đem binh pháp đă nghiền ngẫm giúp Lưu Bang dẹp được nhà Tần hùng mạnh cũng như Sở Bá vương Hạng Vũ dũng mănh .Ư kiến của ông được Hán Lưu Bang coi trọng .Lưu Bang đă nghe lời ông bàn cho xây dựng ở vùng Quan Trung kinh đô Trường An .Khi định công lao của các tướng để phong công thần ,Hán Cao tổ biết mưu lược của Trương Lương đă đóng góp công lao rất lớn cho sự thắng lợi nhưng ông rất khiêm tốn chỉ nhận chức phong là hầu thua Hàn vương Tín và Tiêu Hà . Ông cũng giúp cho Lưu Bang chọn Lưu Doanh kế vị trước khi mất tức là Hán Huệ đế (195 TCN). Khi nước Hàn của Hàn vương Tín mất ,ông xin vua rủ áo đi ngao du theo chân của các đạo gia như Xích Tùng tử.

 - Xích Tùng 赤松 : tức Xích Tùng tử (thầy Xích Tùng) là một nhân vật được tôn sùng của phái đạo gia ,là h́nh ảnh của bậc đắc đạo thoát tục luôn được dân chúng kính mộ thờ cúng....

 - Hoàng Thạch 黃石 : tức Hoàng Thạch công (ông Hoàng Thạch -tảng đá màu vàng) là một nhân vật truyền kỳ đă hiện thân bên cầu sông Vị trao cho Trương Lương cuốn "Thái công binh pháp" khi ông c̣n lánh nạn ở Hạ B́ . Hoàng Thạch nhận thấy Trương Lương là người thông minh ,có ư chí có thể sử dụng binh pháp của ḿnh ra giúp đời chống lại chế độ bạo tàn như nhà Tần(xem thêm ở C.T Trương Lương).

 

 

 

 

 

(C̣n Tiếp)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

DƯƠNG ANH SƠN
Sài G̣n, 4/2017

 

 

 

 

 

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com