trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

  

 

Thơ LƯ BẠCH

DƯƠNG ANH SƠN

 

 

 
 

 Bài 19:

 

 春日醉起言志

 

 1       處世若大夢, 

          胡為勞其生? 

          所以終日醉, 

 4       頹然臥前楹。 

          覺來眄庭前, 

          一鳥花間鳴。 

          借問此何日? 

 8       春風語流鶯。 

    感     .

          對酒還自傾, 

          浩歌待明月, 

 12     曲盡己忘情。

             李白

 

 

 

 

 

 XUÂN NHẬT TÚY KHỞI NGÔN CHÍ.

 

 1       Xử thế nhược đại mộng,

          Hồ vi lao kỳ sinh ?

          Sở dĩ chung nhật túy,

 4       Đồi nhiên ngọa tiền doanh.

          Giác lai miện đ́nh tiền,

          Nhất điểu hoa gian minh.

          Tá vấn thử hà nhật ?

 8       Xuân phong ngữ lưu oanh.

          Cảm chi dục thán tức,

          Đối chi hoàn tự khuynh.

          Hạo ca đăi minh nguyệt,

 12     Khúc tận dĩ vong t́nh.

 

 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa :

 Uống say ngày xuân, tỉnh dậy nói chí ḿnh.

Ở đời giống như giấc mộng lớn. Cuộc sống làm chi cho nhọc nhằn,vất vả !?

Cho nên suốt cả ngày (ta) say mèm nằm li b́ lăn quay trước cây cột của gian nhà.

 Lúc tỉnh dậy chớp mắt nh́n trước sân nhà : một con chim hót vang trong khóm hoa;

(Ta) thử hỏi hôm nay là ngày nào mà nghe trong gió xuân có tiếng líu lo, ríu rít tṛ chuyện của con chim oanh !?

 Ta cảm thấy xúc động muốn than thở.Nhưng đứng trước cảnh ấy lại tự ḿnh (nghiêng bầu rượu uống ) ngả nghiêng. Ta cất tiếng hát lớn đợi chờ vầng trăng sáng. Ca hết khúc hát th́ đă quên đi t́nh cảm xúc động ấy rồi.

 

 Dịch thơ :

 

 NGÀY XUÂN TỈNH RƯỢU, NÓI CHÍ M̀NH.

 1       Cuộc đời như mộng lớn,

          Vất vả làm chi mà ?!

          Nên suốt ngày say khướt,

          Nằm lăn trước cột nhà.

 4       Tỉnh dậy nh́n sân trước,

          Chim hót giữa khóm hoa.

          Ngày nào đây, thử hỏi,

 8       Gió xuân, oanh líu lo !?

          Xúc cảm muốn than thở,

          Trước cảnh lại nghiêng bầu.

          Ca lớn chờ trăng sáng,

 12     Quên t́nh, hết khúc ca.

 

 Chú thích :

                                                        

 

 - khởi  : đứng dậy,ngủ dậy,nổi lên, mở đầu...
 - xử thế 處世 : ở nơi cơi đời,ở đời,quay trở về với cuộc đời...
- hồ vi 胡為 :  làm sao vậy,làm chi thế.
 - chung nhật 終日 : suốt cả ngày,hết ngày.
- đồi nhiên 頹然 : do câu "Đồi nhiên túy ngọa " 頹然醉臥 chỉ người uống quá say nằm li b́ hoặc kẻ thất chí.
- doanh  : gian nhà,cột nhà thẳng đứng.
 - giác  : tỉnh,tỉnh táo, hiểu biết,tỉnh dậy.
- miện  liếc mắt nh́n, chớp mắt.
- tá vấn 借問 :

  thử hỏi,hỏi thăm,xin hỏi...

- ngữ lưu oanh 
語流鶯 :
tiếng chim oanh kêu như tṛ chuyện líu lo,ríu rít...
- khuynh  : nghiêng,đổ lật.Do đó,có thể hiểu ở đây theo hai nghĩa : tác giả lại uống cho say nên nghiêng ngả ; hoặc tác giả lại (hoàn) nghiêng bầu rượu rót uống cho say túy lúy !

 

 

  

 

 

 

 

Bài 20:

 

 

春日獨酌

 

 風扇淑氣, 

 水木榮春暉。 

 白日照綠草, 

 落花散且飛。 

   還空山, 

 眾鳥各已歸。 

 彼物皆有托, 

 吾生獨無依。 

 對此石上月, 

 長醉歌芳菲。

 李白

 

 

 

 

 

 

 XUÂN NHẬT ĐỘC CHƯỚC 

 

 1       Xuân phong phiến thục khí,

          Thủy mộc vinh xuân huy.

          Bạch nhật chiếu lục thảo,

 4       Lạc hoa tán thả phi.

          Cô vân hoàn không sơn,

          Chúng điểu các dĩ quy.

          Bỉ vật giai hữu thác,

 8       Ngô sinh độc vô y.

          Đối thử thạch thượng nguyệt,

 10     Trường túy ca phương phi.

 

          Lư Bạch

 

 

 Dịch nghĩa

 

Ngày xuân một ḿnh uống rượu.

 

 Ngọn gió mùa xuân quạt khí trời trong lành. Cây và nước tươi tốt,rỡ ràng trong ánh nắng mùa xuân. Ánh nắng mặt trời trắng xóa soi chiếu cỏ màu xanh lục.Những cánh hoa rơi rụng bay tán loạn.

 Những áng mây lẻ loi lại quay trở lại ngọn núi vắng vẻ. Các loài chim đều đă trở về.

 Các loài vật kia đều có nơi nhờ cậy mà cuộc sống của riêng ta không có nơi nương tựa. Trước vầng trăng chiếu soi trên tảng đá, ta say sưa hát măi bài ca " Hương thơm ngát ".

 

 Dịch thơ :

 

 NGÀY XUÂN MỘT M̀NH UỐNG RƯỢU.
 

 1       Khí xuân lành gió quạt,

          Cây nước,nắng xuân tươi.

          Ánh trời soi cỏ thắm,

 4       Hoa bay tản mát rơi.

          Mây đơn về núi vắng,

          Chim chóc đều về rồi.

          Vật kia có nơi tựa,

 8       Ta không chốn trong đời.

          Ngắm trăng trên tảng đá,

 10     Ca "Hương ngát "say vời.

 

 Chú thích :

 

 

- thục khí 淑氣 :  không khí trong lành dễ chịu
(thục : yên lành, đẹp đẽ).
- vinh  : tươi tốt, rỡ ràng, vinh hiển.
- huy  :  màu sắc của ánh sáng mặt trời, ánh nắng trời.màu nắng.
- tán thả 散且 : tản mát và lộn xộn không theo một trật tự nào.
 - không sơn 空山 : núi non vắng lặng, yên tĩnh.
- bỉ vật 彼物 : các loài vật khác, các vật khác.
- thác  : gửi vào,gửi gắm, nhờ vào, nương cậy, chỗ dựa vào.
- y  : theo,y như cũ, y như thế, dựa vào, dáng cây cối tươi tốt.
- phương phi 芳菲 phương : hương thơm của cỏ, có đạo đức tốt đẹp được lưu truyền. Phương phi là mùi thơm tho,ngát hương của cây cỏ và cũng là tên bài hát thời đó.
   

 

 

 

 

 

 Bài 21:

 

春思

 

 燕草如碧絲, 

 秦桑低綠枝。 

 當君懷歸日, 

 是妾斷腸時。 

 春風不相識, 

 何事入羅幃?

 

李白

 

 

 

 XUÂN TỨ

 

 Yên thảo như bích ti,

 Tần tang đê lục chi.

 Đương quân hoài quy nhật,

 Thị thiếp đoạn trường th́,

 Xuân phong bất tương thức.

 Hà sự nhập la vi ?!

 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa :

 Ư xuân.

 Cỏ đất Yên giống như là những sợi tơ xanh biếc. C̣n cây dâu đất Tần cành lá màu xanh lục buông rủ xuống. Giữa lúc ban ngày chàng mong nhớ việc quay về cũng chính là khi ḷng thiếp đớn đau năo nề (với nỗi nhớ nhung chàng ).Cơn gió mùa xuân không hề quen biết kia cớ sao lại đi vào trong pḥng khuê (của thiếp).
 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 Ư XUÂN.

 

 Cỏ Yên biên biếc như tơ,

 Dâu Tần rủ nhánh ơ hờ xanh ghê.

 Đương ngày chàng nhớ quay về,

 Là khi ḷng thiếp năo nề ḷng đau.

 Gió xuân nào có quen đâu !

 Pḥng the sao lại đi vào chốn đây ?

 

 

 Chú thích :

 

 

 - tứ  : âm của chữ tư (suy nghĩ,buồn thương,nhớ mong ) có nghĩa là những ư nghĩ,ư tứ.
- Yên  : Yên là tên vùng đất xưa của nước Yên bao gồm miền bắc tỉnh Hà Bắc và đông bắc tỉnh Sơn Tây vốn là nước chư hầu của nhà Chu,Trung Hoa tồn tại từ thời kỳ Tây Chu, Xuân Thu đến thời Chiến Quốc rồi bị nhà Tần thôn tính (226 TCN).Vùng đất Yên xưa kia là những đồng cỏ lớn thuận tiện cho việc chăn nuôi.Mùa xuân đến cỏ non mới mọc xanh mơn mởn như tơ biếc đầy sức sống theo cách nh́n của Lư Bạch.
- Tần  : vùng đất Tần là một lănh thổ nhỏ ở vùng Thiểm Tây Trung Hoa chư hầu nhà Chu. Sau trở thành một nước hùng mạnh thâu tóm hết thảy các chư hầu khác( Tề,Sở,Yên, Hàn, Triệu, Ngụy), thống nhất Trung Hoa nhưng chỉ tồn tại được chỉ 15 năm (221 TCN - 206 TCN). Khi Trung Hoa thống nhất lần đầu tiên thời Tần Thủy Hoàng,lănh thổ chủ yếu nằm về phía đông bắc Trung Hoa cổ (diện tích chỉ được phân nửa so với bây giờ) và chưa hề có các vùng đất bị các triều đại sau này xâm chiếm gọi là mở mang bờ cơi như vùng Tân Cương,nước Kim,một phần Mông Cổ. Nước Tây Tạng,các hải đảo hay những dăi san hô ở Biển Đông bị cưỡng chiếm từ sau thập niên 50-60 trở về sau không hề dính dáng ǵ đến Trung Hoa thống nhất đời Tần  và cả triều đại cuối cùng là nhà Thanh nữa.Có thể nói nhà Tần nói riêng và nước Trung Hoa nói chung từ xưa đến nay qua bao triều đại luôn luôn có tham vọng đi xâm lăng các nước yếu hơn chung quanh bằng đủ mọi cách để mở rộng lănh thổ (bành trướng 澎漲).Thời nhà Tần,hầu như trai tráng của các nước chư hầu bị chinh phục đều bị đi lính làm quân lính cho Tần Doanh Chính (tức Tần Thủy Hoàng sau này) để thôn tính các chư hầu c̣n lại gây ra cảnh chia ly,tang tóc của bao gia đ́nh hoặc những đôi nam nữ đang yêu nhau..... Khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa,vùng Quảng Đông,Quảng Tây vẫn là vùng của các bộ tộc Bách Việt chứ chưa là vùng đất của nhà Tần.Dần dà các triều đại sau t́m cách chinh phục và đẩy nhiều bộ tộc đi định cư vùng khác....Thời Đường Huyền Tôn của Lư Bạch cũng có nước Hậu Yên do tể tướng An Lộc Sơn tạo phản lập nên (755-763) ở kinh đô Lạc Dương khiến vua Đường phải chạy vào đất Thục.Đó cũng là thời kỳ loạn lạc nhưng không liên quan ǵ đến nhà Tần cách đó trên 900 năm.Cho nên về mặt sử liệu, vùng đất Tần hay đất Yên được Lư Bạch đề cập chỉ là mượn h́nh ảnh chiến chinh,loạn lạc thời Chiến Quốc xa xưa để nói đến nhiều hoàn cảnh trai gái phải chia ly nhớ nhung xa cách đương thời. Vùng đất Tần xưa cũ là vùng trồng rất nhiều cây dâu để lấy lá nuôi tằm lấy kén là h́nh ảnh thanh b́nh,vui với việc nông tang.Mùa xuân cây cỏ tươi tốt như mối t́nh nam nữ dù bị chia ly vẫn luôn tiềm tàng sức sống và luôn nhớ về nhau......
- đoạn trường th́ 斷腸時 :  khi,lúc ḷng đau như cắt.
- tương thức 相識 : quen biết nhau,hiểu nhau.
 - hà sự 何事 : cớ sao,cớ chi,v́ sao...
- la vi 羅幃 : vi : màn treo che cửa sổ,váy phụ nữ,cái túi.Đây chỉ pḥng những cô gái hoặc thiếu phụ khuê các có màn treo cửa bằng lụa mỏng nên vẫn gọi là pḥng khuê hoặc pḥng the (the là loại lụa được dệt thưa có lổ đan xen cho đẹp và thoáng )
   

 

 

 

 

Bài 22:

 

      採蓮曲其一

 

    若耶溪旁採蓮女, 

        笑隔荷花共人語。 

       日照新粧水底明, 

    風飄香袂空中舉。 

 

 

              採蓮曲 其二

 

     岸上誰家遊冶郎

         三三五五映垂楊 

         紫騮嘶入落花去 

     見此踟躕空斷腸

 

         李白

 

 

 

 

THÁI LIÊN KHÚC (kỳ nhất)

 

 Nhược Da khê bạng thái liên nữ,

 Tiếu cách hà hoa cộng nhân ngữ.

 Nhật chiếu tân trang thủy để minh,

 Phong phiêu hương duệ không trung cử.

 

 THÁI LIÊN KHÚC (kỳ nhị )

 

 Ngạn thượng thùy gia du dă lang,

 Tam tam ngũ ngũ ánh thùy dương.

 Tử lưu tê nhập lạc hoa khứ,

 Kiến thử tŕ trù không đoạn trường.

 

 

 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa :

 

Khúc hát hái sen.

 Bài một : Những cô gái hái sen gần bên khe Nhược Da. Tiếng cười cách làn hoa sen cùng với tiếng người tṛ chuyện.Ánh mặt trời chiếu vào trang sức của họ sáng ngời lên dưới đáy nước.Cơn gió lồng lộng đưa mùi thơm của áo lên khoảng không.


 Bài hai : Ở bờ sông phía trên là mấy gă lang bạt nhà ai đang rong chơi ?!Ánh sáng từ hàng thùy dương soi thấy năm ba người ấy.Tiếng con ngựa màu tía hí vang đi vào

(làm cho) những cánh hoa rơi. Trông thấy cảnh đó,(ta) tần ngần lặng người đau xót !


 Tạm chuyển lục bát :

 

KHÚC HÁT HÁI SEN.

 

 Bài một

 

 Hái sen khe Nhược mấy nàng,

 Cách làn sen thắm râm rang nói cười.

 Ánh trời trang sức nước soi.

 Gió đưa hương áo thơm vời khoảng không.

 

 Bài hai 

 

 Bờ trên mấy gă lang bang,

 Thùy dương ánh rọi vài chàng rong chơi.

 Hí vang ngựa tía hoa rơi !

 Tần ngần xem thấy lặng người xót xa !

 

 Chú thích :

                                                

 

Bài 1:
- Nhược Da 若耶 tên khe nước nơi Tây Thi từng giặt lụa ở Cối Kê,Chiết Giang,Trung Hoa.Tây Thi theo truyền thuyết là người làng Trữ La có sắc đẹp "chim sa cá lặn".Tôi thần của Việt vương Câu Tiễn là Phạm Lăi bầy kế t́m người thật đẹp và chọn được Tây Thi đem về rèn luyện về ca múa,dáng đi,cách nói...v..v.. để đem cống nạp cho Ngô vương.Ngũ Tử Tư,đại thần của Ngô vương Phù Sai can ngăn không được. Phù Sai v́ say đắm Tây Thi bỏ bê việc nước khiến nước Ngô bị Câu Tiễn tiêu diệt.Tây Thi ngoài chuyện giặt lụa cũng từng đi hái hoa sen bên khe Nhược Da. Dương Quư Phi,Tây Thi là một trong những nguồn cảm hứng cho nhà thơ Lư Bạch....
- bạng  : bên cạnh,gần gũi.
- phong phiêu 風飄 : gió cuốn lên, gió lay động,gió lộng.
- duệ  : tay áo, chỉ chung về áo.
- cử  : cất lên, dẫn đến, bốc lên,tất cả...
Bài 2 :
- thùy gia 誰家 : nhà ai,nhà nào...
- du dă lang 遊冶郎 :  dă du : chơi bời : lang : chàng trai trẻ.Đây chỉ chàng trai trẻ ham chơi bời,lêu lổng.
- tử lưu 紫騮 : tên một loài ngựa có lông màu đỏ tía,bờm đen.
- tŕ trù 踟躕 : tần ngần,do dự,bâng khuâng...
- không  : vắng lặng,trống trải,khoảng không...
   

 

 

 

 

 Bài 23

 

 把酒問月

 

 青天有月來幾時, 

 我今停杯一問之。 

 人攀明月不可得, 

 月行卻與人相隨。 

 皎如飛鏡臨丹闕, 

 綠煙滅盡清發。 

 但見宵從海上來, 

 寧知曉向雲間沒。 

 白兔搗藥秋復春, 

 嫦娥孤棲與誰鄰。 

 今人不見古時月, 

 今月曾經照古人。 

 古人今人若流水, 

 共看明月皆如此。 

 唯願當歌對酒時, 

 月光常照金樽裡。

 

 李白

 

 

 

BẢ TỬU VẤN NGUYỆT

 

 1       Thanh thiên hữu nguyệt lai kỷ th́ ?

          Ngă kim đ́nh bôi nhất vấn chi.

          Nhân phan minh nguyệt bất khả đắc,

 4       Nguyệt hành khước dữ nhân tương tùy.

          Kiểu như phi kính lâm đan khuyết,

          Lục yên diệt tận thanh huy phát.

          Đăn kiến tiêu ṭng hải thượng lai,

 8       Ninh tri hiểu hướng vân gian một.

          Bạch thố đảo dược thu phục xuân,

          Hằng nga cô thê dữ thùy lân ?

          Kim nhân bất kiến cổ thời nguyệt,

 12     Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân.

          Cổ nhân kim nhân nhược lưu thủy,

          Cộng khan minh nguyệt giai như thử.

          Duy nguyện đang ca đối tửu th́,

 16     Nguyệt quang trường chiếu kim tôn lư.

          Lư Bạch

 

 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa :

 

 Cầm chén rượu hỏi trăng.

 Bầu trời xanh có vầng trăng đến nơi đây đă được bao lâu rồi ? Nay ta ngừng chén hỏi trăng một lời. Người không thể nào trèo lên được vầng trăng sáng ; vầng trăng lại cùng người theo nhau đi. Trăng sáng giống như tấm gương bay vút đến cung trời màu đỏ.Làn khói xanh lục tan đi hết để ánh sáng màu xanh nổi lên. Ban đêm,chỉ thấy (trăng) nhô lên trên biển,

biết sao được lúc trời mới sáng (trăng) đă khuất lẫn vào tầng mây.Con thỏ trắng vẫn giă thuốc từ mùa thu cho đến mùa xuân ; nàng Hằng Nga vẫn giường đơn lẻ bóng sẽ cùng ai gần gũi đây ?

 Người đời nay không thấy được vầng trăng thuở xưa.Nhưng vầng trăng ngày nay từng chiếu soi người thuở xưa. Người thuở xưa và người ngày nay đều theo ḍng nước cuốn trôi đi và cũng cùng ngắm vầng trăng sáng đều như nhau. Chỉ mong sao khi nâng chén uống rượu ánh sáng của vầng trăng sẽ măi măi chiếu soi vào trong chiếc chén vàng.

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

CẦM CHÉN RƯỢU HỎI TRĂNG.

 

 1       Trời xanh trăng đến thuở nào ?!

 Nay ta ngừng chén hỏi trao một lời.

          Người không thể níu trăng ngời,

 4       Đi theo nhau măi người cùng với trăng.

          Cửa trời bay đến gương Hằng,

          Tan làn khói biếc,ánh trăng trong vời!

          Trăng lên, đêm đến biển khơi,

 8       Nào hay trời sáng khuất nơi mây tầng.

          Thuốc thang thỏ giă thu xuân,

          Giường đơn bóng lẻ ai gần Hằng Nga ?!

          Người nay chẳng thấy trăng xưa,

 12     Trăng nay từng chiếu người xa xưa rồi !

          Người nay,người trước : nước trôi,

          Cùng nh́n trăng ấy sáng ngời như nhau !

          Mong khi ca hát rượu bầu,

 16     Chén vàng soi ánh trăng vào bên trong.

 

 CHÚ THÍCH :

 

 

- bả  : cầm nắm, bó buộc,ước chừng,thừa,hơn...
- lai kỷ th́ 來幾時 : đến từ lúc nào,đến từ thời nào...
- phan  : níu kéo,trèo lên,leo lên,nhờ cậy...
- khước  : lại,lần nữa, từ chối,bỏ đi...
 - tương tùy 相隨 : theo nhau, cùng đi theo, cùng tuân theo.
- kiểu :  ánh sáng trắng của vầng trăng,trong sạch,trăng sáng.
- đan khuyết 丹闕 : màu đỏ trước cung vua,lầu gác màu đỏ ở cửa vào cung khuyết.
- tiêu : đêm tối,nhỏ bé,giống như,trông giống...
- ninh tri 寧知 : hay đâu,sao biết, há biết...
- bạch thố 白兔 : truyền thuyết Trung Hoa có nhiều chuyện kể về con thỏ trắng làm bạn với Hằng Nga trên Cung Quảng với vai tṛ chuyên giă thuốc được hái từ mùa thu cho đến sang xuân....
- Hằng Nga 嫦娥 : theo truyền thuyết Trung Hoa, Hằng Nga hay c̣n gọi là Thường Nga mà dân gian vẫn quen gọi là chị Hằng dùng để chỉ mặt trăng. Hằng Nga có chồng tên Hậu Nghệ là một viên tướng có tài bắn cung ở thiên đ́nh được Ngọc Hoàng sai trừng trị các đứa con đang làm cho trái đất khô hạn.Hậu Nghệ bắn hạ chín mặt trời con Ngọc Hoàng chỉ để lại một mặt trời duy nhất khiến Ngọc Hoàng giận dữ cho đày hai vợ chồng xuống hạ giới. Hậu Nghệ muốn cùng vợ trở thành bất tử như trước nên đi t́m gặp Tây Vương Mẫu xin được thuốc trường sinh và được Vương Mẫu dặn mỗi người chỉ cần nửa viên uống vào là bất tử. Nghệ đem thuốc về cất vào hộp và dặn vợ không được đụng đến.Hằng Nga đợi khi chồng bắt đầu đi vắng bèn ṭ ṃ mở ra xem.Hậu Nghệ bất ngờ quay lại nên Hằng Nga nuốt trọn viên thuốc để giấu chồng.Thuốc mạnh nên Hằng Nga bay lên măi cho đến mặt trăng và sống bất tử trong Cung Hằng hay Cung Quảng.
- cô thê 孤棲 : gường đơn chiếc chỉ người phụ nữ sống một ḿnh vắng chồng hoặc chưa chồng. 

 

 

  

 

 

 

Bài 24:

 

 

自遣 

 對酒不覺瞑, 

 落花盈我衣。 

 醉起步溪月, 

 鳥還人亦稀,

 

 

 李白

 

 

 

TỰ KHIỂN

 

 Đối tửu bất giác mính,

 Lạc hoa doanh ngă y.

 Túy khởi bộ khê nguyệt,

 Điểu hoàn nhân diệc hi.

 

 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa :

 

 Khuây khỏa một ḿnh.

 

 Măi uống rượu bỗng trời đă tối. Những cánh hoa rơi rải đầy áo của ta. Khi tỉnh rượu,lần bước theo khe trăng. Đàn chim đă quay về (tổ),người đi thưa thớt.

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 KHUÂY KHỎA MỘT M̀NH.

 

 Rượu kề bỗng đă đêm rồi !

 Áo ta bao cánh hoa rơi rải đầy.

 Khe trăng lần bước thôi say !

 Người đi thưa thớt,chim quay trở về.

 

 CHÚ THÍCH :

    

 

 - khiển  : làm cho khuây,làm cho quên,sai khiến, phân phát...
- mính  : mính là âm của minh (tăm tối,u ám...) :trời tối,đêm tối,ban đêm.
- khê nguyệt 溪月 : khe nước chảy có ánh trăng sáng chiếu soi.

 

 

  

 

(C̣n Tiếp)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

DƯƠNG ANH SƠN
Sài G̣n, 3/2017

 

 

 

 

 

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com