trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

  

 

Thơ LƯ BẠCH

DƯƠNG ANH SƠN

 

 

 
 

 Bài 08:

 

 

 月下獨酌其三

 

 1 三月咸陽城, 

 千花晝如錦。 

 誰能春獨愁, 

 4 對此徑須飲。 

 窮通與修短, 

 造化夙所稟。 

 一樽齊死生, 

 8 萬事固難審。 

 醉後失天地, 

 兀然就孤枕。 

 不知有吾身, 

 12 此樂最為甚。

 

 李白

 

 

 

 

 

 NGUYỆT HẠ ĐỘC CHƯỚC (kỳ tam)

 

 1 Tam nguyệt Hàm Dương thành,

 Thiên hoa trú như cẩm.

 Thùy năng xuân độc sầu,

 4 Đối thử kính tu ẩm.

 Cùng thông dữ tu đoản,

 Tạo hóa túc sở bẩm.

 Nhất tôn tề tử sinh,

 8 Vạn sự cố nan thẩm.

 Túy hậu thất thiên địa,

 Ngột nhiên tựu cô chẩm.

 Bất tri hữu ngô thân,

 12 Thử lạc tối vi thậm.

 

 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa :

Một ḿnh uống rượu dưới trăng ( bài ba).

 Thành Hàm Dương lúc tháng ba, ngàn đóa hoa ban ngày(trông) như là gấm vóc. Ai nào đó vẫn riêng buồn sầu khi mùa xuân đến. Trước cảnh sắc và tâm trạng như thế, (ta) nên đi uống rượu. Sự hiểu biết cùng tận với sự dài ngắn mà ông tạo đă sớm phú sẵn (từ khi mới sinh). Một chén rượu vào th́ sự sống và cái chết đều như nhau ! Muôn việc vốn đă khó xét đoán. Sau cơn say sưa, (ta) cũng quên trời đất, đi nằm ngơ ngẩn với chiếc gối lẻ loi chẳng c̣n biết thân ta có c̣n không! Vui này thật là quá chừng quá đỗi !

 Tạm dịch thơ :

 

 MỘT M̀NH UỐNG RƯỢU DƯỚI TRĂNG (Bài 3)

 

 1 Tháng ba thành Hàm Dương,

 Ngàn hoa như gấm vóc.

 Riêng ai, xuân sầu vương,

 4 Trước cảnh rượu nên uống.

 

 Ngắn dài thấu lẽ cùng,

 Ông tạo sớm bày sẵn.

 Sống chết trong một chén,

 8 Muôn việc vốn khó lường !

 

 Say tít quên trời đất !

 Ngơ ngẩn nằm gối đơn.

 Có thân ta : chẳng biết !

 12 Vui này sướng tột cùng !

 

 Chú thích :

                                                        

 

chước  : rót rượu để uống, chỉ chung việc uống rượu, suy xét, cân nhắc.
Hàm Dương 陽城 : nằm phía tây bắc kinh đô Trướng An. Nay là một huyện tỉnh Thiểm Tây, Trung Hoa.
trú : ban ngày, lúc có ánh sáng mặt trời.
kính 徑 : đi, đường bộ nhỏ, đường tắt hẹp, thẳng, dùng như chữ hành (lên đường, đi. . ).
tu 須 : nên, thoáng chốc, chờ đợi, gấp gáp...
cùng thông窮通 : hiểu thấu đáo đến nơi đến chốn, thông suốt tận cùng...
tu đoản 修短 : dài ngắn. Đây chỉ sự rộng lớn và nhỏ bé của con người khi ư thức về sự hiện hữu của ḿnh trong vũ trụ, trời đất. Nó gần với cái nh́n về 'tiểu vũ trụ hay tiểu ngă " và "đại vũ trụ hay đại ngă "trong triết học Ấn Độ (atman &brahman).
túc 夙 : sớm, vốn có sẵn từ trước, kính cẩn.
bẩm 稟 : ban cấp, chịu nhận, trời cho sẵn (phú bẩm).
tề 齊: trong, ở giữa, ngang nhau, đều nhau, tề chỉnh, nhanh chóng, cùng nhau...
cố 固: vốn đă, vững bền, cố chấp...
thẩm 審 : xét đoán, thẩm định, xét kỹ, xét cho rơ, cẩn thận, biết rơ, thật thà, chỗ nước chảy xiết. .
ngột nhiên兀然 : dáng ngơ ngẩn, đần độn. Tôn Xước (314-371, người đời nhà Tấn bên T. H cùng thời với Khương Tăng Hội, người có công lao truyền bá đạo Phật theo đường lối Trung Hoa vào nước ta ) trong một bài phú có viết : "Ngột đồng thể ư tự nhiên " nghĩa là sự ngơ ngẩn, đần độn cùng một thể với tự nhiên.
tựu cô chẩm 
就孤枕
:
tựu chẩm : đi nằm nghỉ bên gối. Nằm nghỉ lẻ loi riêng ḿnh với chiếc gối.
tối vi thậm 最為甚 : thật là tột cùng, tột đỉnh, quá chừng...
   

  

 

 

 

 

Bài 09:

 

 月下獨酌其四

 

 1 窮愁千萬端, 

 美酒三百杯。 

 愁多酒雖少, 

 4 酒傾愁不來。 

 所以知酒聖, 

 酒酣心自開。 

 辭粟臥首陽, 

 8 屢空飢顏回。 

 當代不樂飲, 

 虛名安用哉。 

 蟹螯即金液, 

 12 糟丘是蓬萊。 

 且須飲美酒, 

 14    

 

 李白

 

 

 

 

 NGUYỆT HẠ ĐỘC CHƯỚC (kỳ tứ)

 

 1 Cùng sầu thiên vạn đoan,

 Mỹ tửu tam bách bôi.

 Sầu đa tửu tuy thiểu,

 4 Tửu khuynh sầu bất lai.

 Sở dĩ tri tửu thánh,

 Tửu hàm tâm tự khai.

 Từ túc ngọa Thủ Dương,

 8 Lũ không cơ Nhan Hồi.

 Đương đại bất lạc ẩm,

 Hư danh an dụng tai !

 Giải ngao tức kim dịch,

 12 Tao khâu thị Bồng Lai,

 Thả tu ẩm mỹ tửu,

 14 Thừa nguyệt túy cao đài.

 

 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa :

Một ḿnh uống rượu dưới trăng (bài 4).

 Muôn ngàn mối sầu buồn cùng tột ! Ba trăm chén rượu ngon (ta hăy uống). Rượu tuy ít nhưng buồn sầu lại quá nhiều ! Nghiêng bầu uống rượu th́ mối sầu không đến nữa. Do đó, bậc thánh rượu biết được khi uống rượu vui say tấm ḷng ḿnh sẽ rộng mở; (ta) từ chối( nhận) thóc gạo, bổng lộc nằm nghỉ ở núi Thủ Dương(giống như cách của Bá Di, Thúc Tề nước Cô Trúc ). Và (ta )cũng thường nghèo đói như Nhan Hồi !

 Một đời người không (biết) vui thú việc uống rượu th́ sự an vui đó chỉ là danh hờ có dùng ǵ được đâu ! Càng cua lớn với rượu tràn đầy vàng óng, uống rượu cho thật nhiều chính là chốn Bồng Lai !

 Vậy hăy nên uống rượu ngon để rồi say sưa cưỡi vầng trăng trên đài cao ! 
 

 Tạm dịch thơ :

 

 MỘT M̀NH UỐNG RƯỢU DƯỚI TRĂNG (Bài 4)

 

 1 Buồn sầu muôn ngàn mối,

 Rượu ngon ba trăm bôi.

 Sầu nhiều dẫu rượu ít,

 4 Nghiêng bầu cho sầu vơi.

 

 Thế nên biết thánh rượu,

 Mở ḷng, cuộc rượu vui.

 Thủ Dương nằm chê thóc,

 8 Thường đói như Nhan Hồi.

 

 Đời không vui với rượu,

 Danh hờ dùng được sao ! ?

 Càng cua, rượu vàng chảy,

 12 Bồng Lai : uống nhiều vào !

 

 Rượu ngon hăy nên uống,

 14 Cưỡi trăng say đài cao.

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 1 Mối sầu cùng tột muôn ngàn,

 Ba trăm chén rượu, uống tràn vị ngon.

 Dẫu cho rượu ít sầu hơn,

 4 Nghiêng bầu rót rượu, không sầu đến đây.

 Bởi nên thánh rượu mới hay,

 Rượu vào cởi mở, vui say cơi ḷng !

 Thóc chê, nằm núi Thủ Dương,

 8 Nhan Hồi nghèo đói vẫn thường đó thôi !

 Không vui uống rượu một đời,

 Danh hờ, tiếng hăo kia rồi ích chăng !

 Càng cua, rượu chảy óng vàng,

 12 Uống tràn nhiều rượu là đang cơi Bồng !

 Hăy nên uống vội rượu ngon,

 14 Đài cao say tít, cưỡi vầng trăng lơi ! 

 

 Chú thích :

 

 

                                                        

 

tửu khuynh 酒傾 : nghiêng bầu rót rượu, uống rượu say nghiêng ngả.
tửu hàm 酒酣 : cuộc vui khi có rượu, uống rượu vui say, uống rượu thỏa thích...
từ túc 辭粟 : từ chối bổng lộc, không nhận thóc gạo.
Thủ Dương 首陽 : tên ḥn núi từng là nơi ở ẩn của Bá Di 伯夷 và Thúc Tề 叔齊, hai người con của Á Vi, vua nước Cô Trúc là chư hầu nhà Thương (khoảng thế kỷ 12-11 TCN) bên Trung Hoa. Khi Á Vi mất đă có lệnh truyền ngôi cho Thúc Tề, Tề nhường ngôi lại cho anh cả là Bá Di. Bá Di không nhận v́ cho rằng đó là ư chỉ của vua cho nên bỏ đi tránh. Thúc Tề cũng bỏ ngôi vua theo anh đi ở ẩn. Vua Trụ nhà Thương tàn bạo nên Cơ Phát hợp các nước chư hầu nổi lên dẹp tan. Trước đó, Bá Di và Thúc Tề đă ra can ngăn Cơ Phát không nên khởi binh v́ Phát đang có tang cha. Phát không nghe. May có Khương Tử Nha can thiệp khỏi bị bọn tả hữu giết. Trụ Vương thua trận, phải tự thiêu chết ở Mục Dă. Cơ Phát lên ngôi xưng là Chu Vũ Vương. Hai anh em Bá Di Thúc Tề thẹn một phần v́ trước đó can gián Cơ Phát đứng lên diệt bạo chúa (xem Sử Kư Tư Mă Thiên ), một phần v́ nước Cô Trúc mất vào tay nhà Chu nên bỏ lên núi ăn rau vi mà sống, thề không ăn thóc nhà Chu, Sau hai anh em chết đói trên núi này.
lũ không 屢空 : rất nghèo, không chút tiền của.
Nhan Hồi 顏回 : tên tự là Uyên(sinh khoảng 520 TCN), theo học Khổng Tử (551-479 TCN) rất muộn. Ông được Khổng Tử nhận xét là người cần mẫn, chăm chỉ việc tu học. Ông rất trọng việc học Lễ, học Thi, không để lầm lỗi lần thứ hai (xem thiên Ung Dă, Luận Ngữ ). Khổng Tử rất quí người học tṛ nghèo và có chí này. Nhan Hồi mất sớm lúc mới 31 tuổi. Khổng Tử đă vật vả thương tiếc người học tṛ hiền đức và than lớn :"Trời hại ta, trời hại ta ! ". Sách Gia Ngữ và Đệ Tử Truyện đều cho thấy cuộc đời nghèo khó nhưng vẫn vui học đạo lư của Nhan Hồi ( "Hồi giả kỳ tâm tam nguyệt bất vi nhân" nghĩa là Nhan Hồi ba tháng liền không ĺa điều Nhân. Hoặc "Tử viết : Hiền tai Hồi giả, nhất đan tự, nhất biều ẩm, tại lậu hạng, nhân bất kham kỳ ưu ! Hồi giả bất cải kỳ lạc. Hiền tai Hồi giả " nghĩa là :Khổng Tử nói rằng : hiền thay Nhan Hồi ! một giỏ cơm ăn, một vỏ bầu đựng nước, ở trong ngơ hẽm. Người đời không chịu nổi cảnh ấy. Hồi lại không thay đổi và vui với cảnh đó. Hiền thay Nhan Hồi ! - thiên Ung Dă, Luận Ngữ ).
đương đại 當代: đang ở trong đời, một đời người, khi c̣n sống trong đời...
an dụng tai 安用哉 : sự yên ổn, an vui có dùng ǵ được đâu.
giải ngao  : ngao là càng của các động vật( có càng). Càng con cua lớn.
tao khâu 糟丘 : tao : là hèm hay bă rượu khi làm rượu ;khâu : g̣, đống cao. Hèm rượu chất cao như g̣. Chỉ việc uống rất nhiều
Bồng Lai 蓬萊 : truyền thuyết xưa của người Trung Hoa kể lại ngoài khơi Bột Hải có một ḥn đảo có chư tiên sinh sống gọi là cơi Bồng Lai.
   

 

 

 

 

 Bài 10:

 

 訪戴天山道士不遇

 

 犬吠水聲中, 

 桃花帶露濃。 

 樹深時見鹿, 

 溪午不聞鐘。 

 野竹分青靄, 

 飛泉掛碧峰。 

 無人知所去, 

 愁倚兩三松。

 

 李白

 

 

 

 

 PHỎNG ĐÁI THIÊN SƠN ĐẠO SĨ BẤT NGỘ.

 

 Khuyển phệ thủy thanh trung,

 Đào hoa đái lộ nùng.

 Thụ thâm th́ kiến lộc,

 Khê ngọ bất văn chung.

 Dă trúc phân thanh ái,

 Phi tuyền quải bích phong.

 Vô nhân tri sở khứ,

 Sầu ỷ lưỡng tam tùng.

 

 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa:

Thăm đạo sĩ Đái Thiên Sơn không gặp.

 Tiếng chó sủa vang giữa những tiếng nước chảy ( róc rách). Những cánh hoa đào c̣n đẫm dày dặc những hạt sương móc. Trong rừng sâu mới thấy được những con hươu. Nơi khe nước vào giấc trưa, không nghe tiếng chuông. Những bụi trúc hoang chia tách những làn khí tỏa giăng từ đám mây xanh. Suối nước tuôn chảy như bay ra, treo từ đỉnh núi cao xanh biếc. Không có người, biết người đă đi đến chốn nào đây ! Ta buồn sầu dựa vào mấy cây tùng.

 

 Tạm chuyển lục bát:

 

 THĂM ĐẠO SĨ ĐÁI THIÊN SƠN KHÔNG GẶP.

 

 Vang vang chó sủa, suối reo,

 Hạt sương dày dặc, nước treo cánh đào.

 Gặp nai ở chốn rừng sâu,

 Khe trưa không tiếng chuông nào nghe vang.

 Mây xanh giăng tách trúc hoang,

 Đỉnh non xanh biếc, suối tuôn bay ào !

 Vắng người, biết đến chốn nao !?

 Dựa tùng mấy gốc nỗi sầu buồn dâng.

 

 Chú thích ;

 

                                                        

 

đái  : đeo vào, mang theo, dây đeo ở lưng, bám vào.
lộ 露 :

sương móc ,ơn đức thấm nhuần, rỉ ra ,thấm ra ,lộ ra bên ngoài ,hư hỏng.

nùng  : đậm đặc, dày dặc, nhiều sương móc, đậm nồng.
ái  : mây, mây giăng, khí mây, mây khói...
   

 

 

 

 

Bài 11:

 

 江夏別宋之悌

 

 楚水清若空, 

 遙將碧海通。 

 人分千里外, 

 興在一杯中。 

 谷鳥吟晴日, 

 江猿嘯晚風。 

 平生不下淚, 

 於此泣無窮。

 

 李白

 

 

 

 

 GIANG HẠ BIỆT TỐNG CHI ĐỄ.

 

 Sở thủy thanh nhược không,

 Dao tương bích hải thông.

 Nhân phân thiên lư ngoại,

 Hứng tại nhất bôi trung.

 Cốc điểu ngâm t́nh nhật,

 Giang viên khiếu văn phong.

 B́nh sinh bất hạ lệ,

 Ư thử khấp vô cùng.

 

 Lư Bạch

 

 Dịch nghĩa ;

 

Chia tay Tống Chi Đễ ở Giang Hạ.

 

 Ḍng sông ở đất Sở trong trẻo như bầu trời, chảy thông với biển xanh biếc xa xôi. Người sắp chia xa ra đi ngoài ngàn dặm, sự hứng thú vui thích trong chén rượu. Tiếng chim trong khe núi kêu vang lúc ngày trời tạnh ráo, tiếng vượn hú trong gió chiều (vang vọng) trên sông. Cả đời (ta) chưa từng rơi lệ nhưng trước cảnh tượng như thế nên cứ khóc hoài không nguôi !

 

 Tạm chuyển lục bát :

 

 

 CHIA TAY TỐNG CHI ĐỄ Ở GIANG HẠ.

 

 Màu trời sông Sở rất trong,

 Chảy vào biển biếc thông ḍng xa xôi.

 Người đi ngàn dặm chia phôi,

 Bao niềm hứng thú trong bôi rượu tràn.

 Chim khe ngày tạnh hót vang,

 Gió chiều vượn hú râm rang trên ḍng.

 Cả đời rơi lệ chẳng từng,

 Trước bao cảnh ấy, khóc ṛng không nguôi !

 

 Chú thích :

                                                         

 

Giang Hạ 江夏 vùng hạ lưu của Trường Giang chảy vào biển đông.
nhược không 若空 : nhược : như thế, thuận theo, giống như thế, hoặc là...; nhược không : giống như bầu trời.
dao 遙 xa xăm, xa xôi, rất xa...
thông 通 : nối liền, thông nhau...
phân 分 chia tách, chia ĺa nhau, chia phôi. .
cốc 谷 : khe núi, hang động, hốc núi. .
ngâm 吟 : ca ngâm, ca vang, kêu rên...
b́nh sinh 平生 cả đời, suốt đời, xưa nay, trong đời...
ư thử 於此 : như thế đấy, như vậy...
   

 

 

 

 

 

Xem Bài 12-18

 

 

 

 

 

 

 

DƯƠNG ANH SƠN
Sài G̣n, 12/2016

 

 

 

 

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com