trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

     cựu giáo sư triết  Trung Học Ninh Ḥa (1973-1975)

dạy văn Trung Học P.T. Nguyễn Trăi
Ninh Ḥa (1975-1976)

dạy văn Trung Học P.T. Nguyễn Huệ
Tuy Ḥa, Phú Yên (1976-1984)

 

* Đă xuất bản :

 

  Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh (2006)

Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi

(chuyển lục bát và

chú giải, 2009)


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


THANH-HIÊN THI-TẬP

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 

BƯỚC ĐẦU RA LÀM QUAN NHÀ NGUYỄN

Ở BẮC HÀ (1802-1804)

(Từ bài 61 đến bài 78)

 

 

Ba trăm năm nữa biết chăng,

Người đời ai sẽ khóc thầm Tố Như?

 

 

 

 

 

 

 

Bài 63:

 

 

LA PHÙ GIANG THỦY CÁC ĐỘC TỌA

       羅浮江水閣獨坐

 

Thuỷ các các hạ, giang thuỷ thâm,      水閣閣下江水深
Thuỷ các các thượng, nhân trầm ngâm.
水閣閣上人沉吟
Du du vân ảnh biến thần tịch,               
悠悠雲影變晨夕
Cổn cổn lăng hoa phù cổ câm (kim).     
滾滾浪花浮古今
Trần thế bách niên khai nhăn mộng,     
塵世百年開眼夢
Hồng sơn thiên lư ỷ lan tâm.                
鴻山千里倚欄心
Bồi hồi đối ảnh độc vô ngữ,                
徘徊對影獨無語
Bạch phát sổ hành thuỳ ngă khâm.        
白髮數莖垂我襟

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

NGỒI THỦY CÁC MỘT M̀NH
Ở SÔNG LA PHÙ

 

Dưới này thủy các sông sâu,

Người trên thủy các đắm vào trầm ngâm.

Mây xa sớm tối đổi dần,

Xưa nay: cuồn cuộn sóng vần cuốn trôi.

Trăm năm mắt mở mộng đời,

Tựa hiên ngàn dặm nhớ nơi non Hồng.

Lặng im nh́n bóng bâng khuâng,

Áo ta tóc bạc rủ buông mấy hàng.

 

DỊCH NGHĨA:

Bên dưới thủy các ḍng sông sâu thẳm; bên trên thủy các, người ngồi trầm ngâm đắm vào những suy nghĩ. Bóng mây xa xôi dần thay đổi lúc sáng sớm và khi chiều tối. Nước chảy cuồn cuộn với những bọt sóng như cuốn trôi kim cổ. Trăm năm trong cuộc đời khi mở mắt ra chỉ là giấc mộng. Tựa vào lan can, ḷng hướng về non Hồng ngàn dặm xa xôi. Một ḿnh lặng im bâng khuâng ngắm bóng ḿnh. Mấy cọng tóc bạc buông xuống vạt áo của ta.


CHÚ THÍCH:

                                

 

水閣 thủy các: gác lầu làm trên mặt nước sông hồ để ngồi thưởng ngoạn.
沉吟 trầm ngâm: ch́m đắm vào ḍng suy nghĩ chưa dứt ra được.
滾滾 cổn cổn: nước chảy cuồn cuộn, nước chảy xiết.
浪花  lăng hoa: bọt sóng do nước chảy mạnh tạo ra.
數莖  sổ hành: mấy cọng, mấy hàng.
khâm: vạt áo.
     

                       

                                     

 

  

Bài 64: 

 

 

 NGẪU HỨNG        (Bài 1)

            偶興               (一)

 

Sơ canh cổ giác, ngũ canh kê,             初更鼓角五更雞
Chung dạ bồi hồi tứ chuyển mê.        
終夜徘徊思轉迷
Minh nguyệt măn thiên hà cố cố,       
明月滿天何故故
Tây phong xuy ngă chính thê thê.      
西風吹我正凄凄
Thương tàn vật tính bi phù hĩnh,       
愓殘物性悲鳧脛
Khắc lạc thiên chân thất mă đề.         
刻雒天真失馬蹄
Nhược ngộ sơn trung my lộc hữu,     
若遇山中糜鹿友
Yên hà cựu thoại bất kham đề.          
煙霞舊話不堪提

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

HỨNG KHỞI T̀NH CỜ

 

Cuối gà, sừng trống đầu canh,

Miên man suốt tối nghĩ quanh rối bời.

Cớ sao trăng sáng đầy trời,

Thổi ta buốt lạnh tơi bời gió tây.

Hại cho tính vật thương thay,

Ngựa đem đóng móng mất ngay tính trời.

Bạn hươu nai gặp núi đồi,

Lời xưa khói tỏa ráng trời chẳng kham.

 

DỊCH NGHĨA:

Đầu canh một nghe tiếng trống và tiếng tù và, qua canh năm (nghe) có tiếng gà gáy. Cả đêm cứ nghĩ quanh quẩn với những điều mơ hồi, không rơ ràng. Tại sao vầng trăng lại sáng tỏ đầy trời như thế? Gió từ phía tây thổi làm ta buốt lạnh. Làm cho tổn hại đến cái tánh của vật; thương xót cho cẳng chân loài vịt nước. Ngựa đem đóng móng làm mất đi cái tính trời cho. Nếu có gặp người bạn hươu nai trong núi non, chuyện xưa (về một chốn) có khói giăng, có ráng trời không c̣n được nhắc nhở nữa khiến ta không chịu nổi.


CHÚ THÍCH
:

                  

 

徘徊 bồi hồi: xem C.T bài 62.
思轉迷 tứ chuyển mê:    những ư nghĩ mơ hồ không rơ ràng.
故故 cố cố:  cứ măi như thế.
凄凄 thê thê:   buốt lạnh, buồn bă.
鳧脛 phù hĩnh: cẳng chân vịt. Sách Trang Tử cho rằng cẳng chân vịt nước ngắn không thể nối cho dài thêm; c̣n cẳng chân con hạc dài không thể cắt cho ngắn làm mất đi bản tính tự nhiên.
物性 vật tính: tính chất, tố tính sẵn có của muôn vật; bản tính tự nhiên của các loài, của vật chất.
刻雒   khắc lạc: trong thiên “mă đề” của sách Trang Tử có viết: “Khắc chi lạc chi” nghĩa khắc vào, quấn vào để đề cập đến bản tính sự vật (thiên chân) do trời ban phải thay đổi, trái với bản tính tự nhiên. Ở đây (c. 3+4) Nguyễn Du cảm thấy việc ra làm quan nhà Nguyễn sẽ làm mất đi cái cốt tính yêu thiên nhiên của kẻ thích ở ẩn.
     

                       

         


 

 

Xem BÀI SỐ 65-66

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com