trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


THANH-HIÊN THI-TẬP

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 

 

Bài 59:


 

 

ĐIẾU LA THÀNH CA GIẢ

吊羅城歌者

 

Nhất chi nùng diễm há bồng doanh,   一枝濃艷下蓬瀛

Xuân sắc yên nhiên động lục thành.    春色嫣然動六城

Thiên hạ hà nhân liên bạc mệnh ?       天下何人憐薄命

Trủng trung ưng tự hối phù sinh.        塚中應自悔浮生

Yên chi bất tẩy sinh tiền chướng,        胭脂不洗生前障

Phong nguyệt không lưu tử hậu danh.  風月空留死後名

Tưởng thị nhân gian vô thức thú,        想是人間無識趣

Cửu tuyền khứ bạn Liễu Kỳ Khanh.    九泉去伴柳耆卿

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

VIẾNG NGƯỜI CA NỮ Ở LA THÀNH

 

Cơi bồng thắm đẹp một cành,

Vẻ xuân cười nụ sáu thành ngất ngây!

Ai thương kẻ mệnh bạc này,

Dưới mồ tiếc nuối lắm thay kiếp người.

Phấn son chẳng rửa nợ đời,

Tiếng tăm để lại chết rồi: gió trăng!

Người đời ai hiểu thấu chăng,

Về nơi chín suối bạn cùng Kỳ Khanh.

DỊCH NGHĨA:

 

Một cành hoa xinh đẹp thắm nồng từ chốn thần tiên xuống đây. Sắc đẹp mơn mởn như mùa xuân với nụ cười chúm chím làm lay động cả sáu thành. Trong đời, ai là người thương xót cho kẻ mệnh bạc, số phận long đong? Dưới mồ, chắc (nàng) cũng nuối tiếc v́ cuộc đời trôi nổi. Son phấn không tẩy rửa những nghiệp chướng từ tiền kiếp. Khi mất đi, chỉ để lại tiếng tăm là kẻ trăng gió mà thôi. Cứ nghĩ rằng người đời không theo để hiểu được (ḿnh). V́ thế nơi chín suối sẽ làm bạn với ông Liễu Kỳ Khanh.

 

CHÚ THÍCH:

 

 

羅城 La Thành: tức thành Nghệ An c̣n gọi là Lam Thành.
濃艷 nùng diễm:  đẹp xinh xắn thắm nồng gợi cảm.
蓬瀛 bồng doanh: theo truyền thuyết cổ Trung Hoa, ngoài biển có ba ngọn núi Bồng Lai, Phương Trượng và Doanh Châu.
嫣然   yên nhiên: cười nụ, cười chúm chím, cười nhẹ tênh.
薄命  bạc mệnh: số phận bạc bẻo, mong manh.
胭脂 yên chi: son phấn để trang điểm.
前障 tiền chướng: những chướng nghiệp, oan trái từ kiếp trước tác động lên số mệnh của kiếp này (Phật).
柳耆卿 Liễu Kỳ Khanh: tức Liễu Vĩnh, người đời Tống (897-1053) đậu Tiến sĩ lúc đă già. Ông thường lui tới các ca lâu nên hiểu rơ cuộc sống của những kỹ nữ và làm các bài từ thay họ nói lên mơ ước và ḷng cảm thông.
     

                       

                                     

 

  

Bài 60: 

 

 

NINH CÔNG THÀNH

寧公城


Độc thướng cao sơn nhăn giới tân,    獨上高山眼界新

Anh hùng văng sự quải giang tân.      英雄往事掛江津

Nhất thành thượng hạ tận kiều mộc, 一城上下盡喬木

Thập lư uy phong kiến cổ nhân.          十里威風見古人

Thử địa bắc nam quy nhất trục,          此地北南歸一軸

Đương th́ tỉnh táo trú tam quân.        當時井燥駐三軍

Thập niên vị tiết nam nhi hận,             十年未泄男兒恨

Đàn kiếm trường ca đối bạch vân.      彈劍長歌對白雲

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

THÀNH ÔNG NINH

 

Lên non tầm mắt mới hơn,

Bến sông treo truyện anh hùng thuở nao.

Trên thành, dưới đất cây cao,

Người xưa mười dặm thấy oai phong bày.

Trục nam bắc nối từ đây,

Bấy giờ giếng bếp chốn này đóng quân.

Hận trai chưa tỏ mười năm,

Trước làn mây trắng hát tràn vỗ gươm.

 

DỊCH NGHĨA:

Một ḿnh leo lên núi cao, tầm mắt nh́n khắp như mới mẻ hơn. Câu chuyện cũ về những người anh hùng vẫn được treo nơi bến sông (như những bức tranh vẽ treo lên). Một thành tŕ có nhiều cây cao to ở trên thành cũng như dưới chân thành. Vẫn c̣n thấy vẻ oai phong của người xưa từ mười dặm xa. Nơi đây là trục nối từ bắc vào nam. Một thuở nào đấy cũng từng là nơi đóng quân có giếng ăn, bếp nấu. Mười năm rồi, hận là chưa bày tỏ được chí nam nhi. Trước làn mây trắng bay, ta vỗ gươm và hát vang thôi.

 

CHÚ THÍCH:

 

寧公城 Ninh Công Thành: Thành Ông Ninh do Trịnh Ninh, c̣n có tên là Trịnh Toàn làm Trấn Thủ Nghệ An xây dựng. Có lẽ, Nguyễn Du đề cập đến thành gần sông Lam, trên núi Dũng Quyết nơi xảy ra các trận đánh giữa quân đàng trong và quân đàng ngoài (quân chúa Trịnh và quân nhà Nguyễn) v́ Trịnh Ninh đă cho xây rất nhiều thành tŕ ở Nghệ An để chống lại các thế lực phía nam.
眼界 nhăn giới: tầm nh́n, giới hạn nh́n.
quải: treo lên.
喬木 kiều mộc: cây rất cao và to lớn.
trục: tức trục cốt của bánh xe; chỉ sự cốt yếu, cốt lơi hoặc người giữ trách nhiệm quan yếu.
tiết: tỏ lộ, bày rơ ràng, chảy ra, tiết ra, tinh thông.
十年 thập niên: có lẽ mười năm Nguyễn Du phải đi lánh nạn và ở nhờ quê vợ tại Thái B́nh (1786-1796).
     

                       

         


 

 

Xem BÀI SỐ 61-62

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com