trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


THANH-HIÊN THI-TẬP

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 

 

Bài 37:

 

 

BIỆT NGUYỄN ĐẠI LANG (Bài 1)

   別阮大郎(一)

 

Ngă thả phù giang khứ,             我且浮江去
Tống quân quy cố khâu.            送君歸故丘
Càn khôn dư thảo ốc,               乾坤餘草屋
Phong vũ túc cô chu.                 風雨宿孤舟
Thu dạ ngư long trập,                秋夜魚龍縶
Thâm sơn mi lộc du.                  深山麋鹿遊
Hưu kỳ bất thậm viễn,                休其不甚遠
Tương kiến tại trung châu.          
相見在中州

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

CHIA TAY ANH NGUYỄN

 

Ḍng sông tôi sắp đi qua,

Tiễn anh trở lại quê nhà chốn xưa.

Lều tranh trời đất có dư,

Mái thuyền riêng nghỉ khi mưa gió tràn.

Đêm thu rồng cá họp đàn,

Hươu nai, núi thẳm non ngàn rong chơi.

Chẳng c̣n xa lắm ngày vui,

Trung châu gặp mặt ở nơi chốn này.

 

DỊCH NGHĨA:

Tôi sắp sửa đi qua sông để đưa tiễn anh về quê cũ. Đất trời rộng lớn vẫn c̣n thừa đủ mái lều cỏ; những lúc gió mưa về, nghỉ ngơi trong chiếc thuyền lẻ loi. Đêm thu rồng cá họp đàn. Chốn non ngàn núi thẳm hươu nai rong chơi nhởn nhơ. Không c̣n xa lắm ngày vui tốt lành. Rồi sẽ gặp mặt nhau ở vùng trung châu.


CHÚ THÍCH:

 

 

阮大郎 Nguyễn đại lang: người bạn họ Nguyễn, thân với Nguyễn Du không rơ tên là ǵ.
   thả: sắp sửa, vừa làm cái này, vừa làm cái kia, huống chi…
  phù: trôi nổi, đi qua.
故丘  cố khâu: nơi quê hương đồng ruộng xưa cũ.
   dư: dư thừa, no đủ, đủ đầy.
宿  túc:  nghỉ ngơi, rảnh rỗi.
  trập: họp thành từng bầy đàn, tụ tập đông đảo.
休其  hưu kỳ: lúc nghỉ ngơi, lúc dừng lại, rảnh rang; lúc có sự vui mừng tốt lành.
中州 trung châu: vùng đất lớn nằm giữa cao nguyên và đồng bằng.
     

 

 

  

Bài 38: 

 

 

BIỆT NGUYỄN ĐẠI LANG (Bài 2)

   別阮大郎(二)

 

BIỆT NGUYỄN ĐẠI LANG (Bài 2)

   別阮大郎(二)

 

Tống quân quy cố khâu,            送君歸故丘
Ngă diệc phù Giang Hán.          我亦浮江漢
Thiên lư bất tương văn,             千里不相聞
Nhất tâm vị thường gián.           一心未嘗間
Dạ hắc sài hổ kiêu,                    夜黑豺虎驕
Nguyệt minh hồng nhạn tán.       月明鴻雁散
Lưỡng địa các tương vọng,         兩地各相望
Phù vân ưng bất đoạn.              
浮雲應不斷

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

CHIA TAY ANH NGUYỄN

 

Tiễn anh về chốn quê xưa,

Ḍng Ngân tôi cũng lại vừa qua sông.

Tin truyền ngàn dặm chẳng cùng,

Một ḷng một dạ chưa từng cách ngăn.

Đêm đen sói hổ kêu căng,

Nhạn hồng tản mát vầng trăng sáng ngời.

Ngóng nhau xa cách đôi nơi,

Những mong rằng đám mây trôi chẳng dừng.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Đưa tiễn anh về chốn quê cũ, tôi cũng lại vừa qua sông (dưới ḍng sông ngân trên bầu trời). Ngàn dặm chia cách chẳng nghe được tin nhau. Tấm ḷng chưa từng cách ngăn. Đêm đen tăm tối, những loài sói hổ kiêu căng ngạo nghễ. Đàn nhạn hồng phải tản mát dưới vầng trăng sáng. Đôi ta vẫn ngóng trông nhau dù cách đôi nơi. Những mong sao đám mây trôi trên trời vẫn không hề đứt đoạn, dừng lại.
 

CHÚ THÍCH:

                     

 

 

  diệc: lại lần nữa, chẳng những…
江漢  Giang Hán: tức ḍng sông Ngân hay dăy Ngân hà trên bầu trời; cũng chỉ sông Hán bên Thiểm Tây (TQ).
  văn: hiểu biết, nghe truyền tin tức, nghe tiếng…
thường: nếm mùi, từng trải, đi qua…
câu 5+6:   Nguyễn Du muốn nói đến thời cuộc đổi thay, giặc giă nổi lên khiến những kẻ sĩ phải tản mát khắp nơi.
  các: đều, cách xa, phân ra.
   gián: chia tách, cách biệt, rời nhau.
  ưng: nên như thế, mong sao, ước mong…
     

                       


 

 

Xem BÀI 39 - 40

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com