trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


THANH-HIÊN THI-TẬP

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 

 

Bài 6:

 

 

BẤT MỊ

 

不寐
 

 

Bất mị thính hàn canh,                  不寐聽寒更
Hàn canh bất khẳng tận.
              寒更不肯盡
Quan sơn dẫn mộng trường,
        關山引夢長
Châm chử thôi hàn cận.
              砧杵催寒近
Phế táo tụ hà ma,
                        廢灶聚蝦蟆
Thâm đường xuất khâu dẫn.
        深堂出蚯蚓
Ám tụng "Vấn thiên" chương,
      暗誦天問章
Thiên cao hà xứ vấn?
                  天高何處問

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

KHÔNG NGỦ ĐƯỢC

 

Lạnh trời chẳng ngủ nghe canh,

     Lạnh lùng canh điểm đêm thanh miệt mài.

          Chốn xa đưa mộng vươn dài,

Tiếng chày thôi thúc lạnh bày gần hơn.

Bếp hư tụ họp ễnh ương,

    Nhà sâu giun đất cũng trườn ḅ ra.

          Đọc thầm “Thiên vấn” bài ca,

    Ông trời cao ngất, hỏi là chốn nao?

 

DỊCH NGHĨA:

Không ngủ được, nghe tiếng điểm sang canh trong cái lạnh. Trong cái lạnh (của trời đêm), tiếng điểm canh chẳng hề dứt. Nơi chốn xa xôi dẫn đưa giấc mộng thêm dài. Tiếng chày đập vải như thôi thúc sự lạnh lẽo đến gần hơn. Bên bếp lửa hư nát tụ tập loài ễnh ương. Sâu về phía trong của căn nhà, các con giun đất chui ra. Thầm đọc mấy đoạn của bài ca “Hỏi trời” nhưng trời th́ cao biết chốn nào mà hỏi đây.


CHÚ THÍCH:

 

 

  canh: ngày xưa tính thời gian ban đêm thành 05 canh: canh 1 từ 19 giờ đến 21 giờ (giờ Tuất), canh 2 từ 21 giờ đến 23 giờ (giờ Hợi), canh 3 từ 23 giờ đến 1 giờ (giờ Tư), canh 4 từ 1 giờ đến 3 giờ (giờ Sửu) và canh 5 từ 3 giờ đến 5 giờ (giờ Dần).
關山  quan sơn: quan ải và núi non, chỉ nơi xa xôi cách trở.
   dẫn: dẫn dắt, hướng dẫn, mở ra, dẫn đường, lui xuống, tiếp tục.
砧杵 châm chử:  đá hoặc chày gỗ để đập giặt quần áo.
廢灶 phế táo: bếp lửa bị hư bỏ.
蝦蟆  hà ma: con ễnh ương, chỉ chung cho loài ếch nhái.
蚯蚓  khâu dẫn: con giun đất.
暗誦 ám tụng: đọc thầm, đọc nhẫm không thành lời.
  chương: chương, đoạn trong các bài văn, vẻ sáng sủa…
     

          

 

 

 

 

Bài 7:

 

 

MẠN HỨNG         (Bài 1)

 

      漫興                 ()

 

 

Bách niên thân thế uỷ phong trần,         百年身世委風塵
Lữ thực giang tân hựu hải tân.             
旅食江津又海津
Cao hứng cửu vô hoàng các mộng,     
高興久無黃閣夢
Hư danh vị phóng bạch đầu nhân.       
虛名未放白頭人
Tam xuân tích bệnh bần vô dược,       
三春積病貧無藥
Táp tải phù sinh hoạn hữu thân.           
卅載浮生患有身
Dao ức gia hương thiên lư ngoại,         
遙憶家鄉千里外
Trạch xa đoạn mă quư đông lân.         
澤車段馬愧東鄰

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

CẢM HỨNG LAN MAN (Bài 1)

 

Trăm năm gió bụi đời người,

Ăn nhờ bến biển lại rồi bến sông.

         Gác vàng mộng hứng cũng không!

         Bạc đầu danh hảo vẫn c̣n chưa buông.

        Trọn xuân không thuốc bệnh dồn,

 Lo thân, ba chục năm c̣n nổi trôi.

Nhớ nhà ngàn dặm xa xôi,

          Ngựa xe hàng xóm thảnh thơi thẹn ḷng.

 

DỊCH NGHĨA:


Một trăm năm của đời người phải trải qua đành gửi gắm cho gió bụi. Hết trọ ăn nhờ nơi bến sông lại nhờ ăn quán trọ nơi bến biển. Từ lâu không c̣n mơ màng giấc mộng gác vàng những khi hứng khởi nữa! Nhưng cái danh suông vẫn chưa buông tha con người có mái đầu đă bạc trắng. Trọn mùa xuân, bệnh dồn dập, nhà lại nghèo khó, không mua được thuốc thang. Cuộc đời trôi nổi ba mươi năm, có tấm thân nên phải lo lắng. Nhớ quê nhà nơi xa xôi ngoài ngàn dặm, (trông thấy) người hàng xóm ở phía đông thong dong ngồi xe ngựa kéo thong thả, cảm thấy thẹn cho ḿnh.

 

CHÚ THÍCH:

 

Chú thích:
 

身世 thân thế: cuộc đời một con người từng trải qua; hành trạng hay những việc làm của một con người.
  ủy: giao phó, theo, thuận theo, xác thực, chất chứa.
旅食  lữ thực: ăn ở quán trọ xa nhà, ở trọ xa.
黃閣夢  hoàng các mộng: ngày xưa bên TQ, cửa công đường và lầu gác của các quan thừa tướng sơn màu vàng nên gọi là hoàng các. Đây chỉ là giấc mộng làm quan lớn.
虛名  hư danh: cái danh không có thực chất, danh hảo, danh suông, danh hờ.
  phóng: buông thả, thả lỏng, đuổi đi, tan ra, mở ra.
三春  tam xuân: ba tháng của mùa xuân, trọn mùa xuân.
積病  tích bệnh:  dồn lại, chất chứa, dồn nhiều căn bệnh khác nhau.
卅載  táp tải:  ba chục năm.
浮生   phù sinh: cuộc sống trôi nổi, không ổn định.
遙憶  dao ức: nơi xa xôi cùng nỗi nhớ nhung.
澤車段馬 trạch xa đoạn mă: chiếc xe ngựa kéo nhỏ chỉ chạy chậm răi. Chỉ sự thong dong, thảnh thơi.
     

 

 

 

      

 

Bài 8:

 

 

MẠN HỨNG               (Bài 2)  

 

      漫興                    (二)

 

 

Hành cước vô căn nhậm chuyển bồng,   行腳無根任轉蓬
Giang nam giang bắc nhất nang không.  
江南江北一囊空
Bách niên cùng tử văn chương lư,         
百年窮死文章裏
Lục xích phù sinh thiên địa trung.          
六尺浮生天地中
Vạn lư hoàng quan tương mộ cảnh,        
萬里黃冠將暮景
Nhất đầu bạch phát tản tây phong.         
一頭白髮散西風
Vô cùng kim cổ thương tâm xứ,             
無窮今古傷心處
Y cựu thanh sơn tịch chiếu hồng.           
依舊青山夕照紅

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

CẢM HỨNG LAN MAN (Bài 2)

 

Dời chân không rễ như bồng,

Rỗng không một túi theo ḍng bắc nam.

Văn chương cùng quẫn trăm năm,

Tấm thân sáu thước lang thang đất trời.

Mũ vàng muôn dặm chiều rồi,

Một đầu tóc bạc tơi bời gió tây,

Đau ḷng lắm nỗi xưa nay,

Hồng nghiêng bóng xế vẫn bày núi xanh.

 

DỊCH NGHĨA:

Bước chân dời đi không bén rễ như những ngọn bồng (gió cuốn) đẩy đưa. Một chiếc túi rỗng dời chuyển hết bến sông phía bắc lại bờ sông phía nam. Đời người một trăm năm chết cùng quẫn với chuyện văn chương; tấm thân sáu thước trôi nổi lang thang giữa trời đất. Muôn dặm đường đội chiếc mũ màu vàng  cùng với cảnh trời chiều. Một mái đầu bạc trắng bị thổi tung bởi làn gió phía tây. Chuyện xưa, chuyện nay gợi lên bao nỗi đau xót tột cùng. Chỉ có dăy núi xanh nhuốm ánh nắng chiều nghiêng nghiêng màu hồng là vẫn y như cũ tự thủa nào.

 

CHÚ THÍCH:

                                


 

行腳  hành cước: đi bộ, đi bằng đôi chân.
  chuyển: di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác, dời đi.
  bồng: tên loại cỏ rất nhẹ dễ bị cuốn đi theo gió, thường để chỉ sự không ổn định, trôi nổi theo sự đưa đẩy của ḍng sống.
窮死  cùng tử: chết khốn quẫn.
黃冠  hoàng quan: chiếc mũ vàng của các đạo sĩ hoặc sư tăng. Đây chỉ việc sống ẩn dật.
  tản: không tự kiềm giữ được, rảnh rang, nhàn rỗi.
依舊   y cựu: y như cũ, y như thưở nào.
照紅  tịch chiếu: ánh nắng buổi chiều có bóng nghiêng.
     

                                      

 


 


 

 

 

 

Xem BÀI 09 - 10

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com