trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


THANH-HIÊN THI-TẬP

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 

 

 

Bài 3:   SƠN CƯ MẠN HỨNG

 

           山居漫興

 

 

Nam khứ Trường An thiên lư dư,          南去長安千里餘
Quần phong thâm xứ dă nhân cư.          
群峯深處野人居
Sài môn trú tĩnh sơn vân bế,                 
柴門晝靜山雲閉
Dược phố xuân hàn lũng trúc sơ.          
藥圃春寒隴竹疏
Nhất phiến hương tâm thiềm ảnh hạ,     
一片鄉心蟾影下
Kinh niên biệt lệ nhạn thanh sơ.            
經年別淚雁聲初
Cố hương đệ muội âm hao tuyệt,           
故鄉弟妹音耗絕
Bất kiến b́nh an nhất chỉ thư.                
不見平安一紙書

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

CẢM HỨNG Ở NÚI

 

Phía nam ngàn dặm Trường An,

Quê mùa có kẻ trú thân non ngàn.

Cửa tre ngày vắng mây giăng,

Lơ thơ vườn thuốc, lạnh hàng trúc xuân.

Ḷng quê một mảnh dưới trăng,

Năm chày tiếng nhạn lệ tràn chia xa.

Bặt tin em út quê nhà,

Chẳng thư nào báo thấy là b́nh yên.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Ở phía nam Trường An hơn ngàn dặm, nơi dăy núi sâu có kẻ quê mùa đang trú thân. Ban ngày yên ắng, mây núi giăng che cánh cửa tre. Lơ thơ mấy hàng cây thuốc và vồng trúc trong mùa xuân lạnh buốt. Một mảnh ḷng nhớ quê hương dưới bóng trăng. Tiếng con chim nhạn đầu mùa làm đẫm lệ người chia xa đă trải qua nhiều năm chày. Chốn quê nhà bặt hẳn tin tức các em trai, em gái. Một tờ giấy thư cũng chẳng thấy để biết là có được b́nh an không.

 

CHÚ THÍCH:

                         

 

長安  Trường An: chỉ kinh thành Thăng Long theo cách gọi tên kinh đô đời Đường (TQ).
群峯   quần phong: một cụm núi, dăy núi liên tiếp nhau.
野人 dă nhân: kẻ quê mùa, người có cuộc sống đơn giản, mộc mạc.
柴門  sài môn: cửa cổng ra vào làm bằng củi hoặc tre.
  bế: đóng cửa, lấp nghẽn, che giăng, cửa ngách…
藥圃  dược phố: vườn trồng thuốc.
隴竹 lũng trúc: g̣ hoặc vồng để trồng trúc.
一片鄉心  nhất phiến hương tâm: một mảnh ḷng nhớ quê hương (phiến: mảnh miếng, một nữa)
蟾影  thiềm ảnh: bóng con thiềm thừ tức con cóc do tích Hằng Nga vợ Hậu Nghệ lấy trộm thuốc tiên của Tây Vương Mẫu bay lên cung trăng biến thành con cóc (Sách Hậu Hán thư).
經年 kinh niên: trải qua nhiều năm, năm chày.
音耗絕  âm hao tuyệt:

bặt hẳn tin tức, tuyệt nhiên không có tin tức ǵ. (âm hao: giống như “âm vấn” 音问 chỉ tin tức)

紙書  chỉ thư: tờ giấy viết thư.
     

 

 

 

 

 

Bài 4:   TỰ THÁN                 (Bài 1)

 

             自嘆                         ()

 

 

Sinh vị thành danh thân dĩ suy,                  生未成名身已衰
Tiêu tiêu bạch phát mộ phong xuy.          
蕭蕭白髮暮風吹
Tính thành hạc hĩnh hà dung đoạn,           
性成鶴脛何容斷
Mệnh đẳng hồng mao bất tự tri.              
命等鴻毛不自知
Thiên địa dữ nhân truân cốt tướng,          
天地與人屯骨相
Xuân thu hoàn nhữ lăo tu mi.                   
春秋還汝老鬚眉
Đoạn bồng nhất phiến tây phong cấp,      
斷蓬一片西風急
Tất cánh phiêu linh hà xứ quy.                 
畢竟飄零何處歸

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

THAN THÂN (Bài 1)

 

Sống chưa danh phận thân suy,

Thổi làn tóc bạc gió chiều vi vu.

Tính người chân hạc cắt ư?

Biết chăng số mệnh đều như lông hồng.

Đất trời dáng vóc gian truân,

Quẩn quanh già với thu xuân râu mày.

Ngọn bồng ĺa vội gió tây,

Cuối cùng tàn tạ quay về chốn nao?!

 

DỊCH NGHĨA:

Sống chưa làm nên danh tiếng ǵ mà tấm thân đă suy yếu. Ngọn gió chiều thổi làn tóc trắng kêu vi vu. Cái tính người (của ḿnh) như chân con hạc có thể nào cắt được không? C̣n mạng (của ḿnh) ngang với sợi lông hồng ta có biết hay chăng? Đất trời phú cho ḿnh vóc dáng (phải chịu) gian khó truân chuyên. Xuân thu quay lại (nối nhau) làm cho râu mày người già cỗi đi rồi. Cơn gió tây vội thổi đứt ĺa ngọn cỏ bồng. Rốt cùng (ta) sẽ tàn tạ, rụng rơi về chốn nào đây?

 

CHÚ THÍCH:

                                                                      

 

danh: tên gọi sự vật hoặc tên người; ngày xưa “thành danh” là con được học hành, đỗ đạt ra làm quan của các nho sĩ. Trong triết học TQ, khái niện “danh” gắn liền với khái niệm “thực” v́ nhiều kẻ như nhân gian thường nói: “hữu danh, vô thực”. Nghĩa là có tiếng mà không có thực chất hoặc khả năng thực sự.
蕭蕭 tiêu tiêu: (xem chú thích ở bài 1)
tính: bản chất sinh ra tự nhiên không thay đổi và khác nhau giữa các sự vật. Đôi khi cũng dùng chỉ mạng sống (tính mạng)
鶴脛  hạc hĩnh: ống chân chim hạc.
mệnh: theo đạo Nho, mỗi người sinh ra đều có tính và mệnh; Trời cao cho mỗi người cái mệnh (mạng), trời sắp đặt cho họ được sung sướng hay khổ cực. Đó là thiên mệnh.
人屯骨相 nhân truân cốt tướng: cuộc sống mỗi người gian khổ, khó nhọc (nhân truân) đều do dáng vóc, tướng tá (cốt tướng) trời sinh.
春秋 xuân thu: chỉ sự quay ṿng của chu kỳ thời gian.
nhữ: mày, ngươi; tên ḍng sông bên TQ ở tỉnh Hà Nam (Nhữ giang)
bồng: cây cỏ bồng rất nhẹ dễ bị gió cuốn; chỉ sự bềnh bồng, trôi nổi không ổn định.
畢竟 tất cánh: sau hết, rốt cùng, cuối cùng.
飄零  phiêu linh: tàn tạ, rơi rụng.
     

                                         

 

 

 

 

Bài 5:   TỰ THÁN                 (Bài 2)

 

              自嘆                         ()

 

 

Tam thập hành canh lục xích thân,         三十行庚六尺身
Thông minh xuyên tạc tổn thiên chân.   
聰明穿鑿損天真
Bản vô năng tự năng tăng mệnh,           
本無文字能憎命
Hà sự kiền khôn thác đố nhân?             
何事乾坤錯妒人
Thư kiếm vô thành sinh kế xúc,            
書劍無成生計促
Xuân thu đại tự bạch đầu tân.               
春秋代序白頭新
Hà năng lạc phát quy lâm khứ,              
何能落髮歸林去
Ngọa thính tùng phong hưởng bán vân.  
臥聽松風響半雲

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

 

THAN THÂN (Bài 2)

 

Tấm thân giờ đă ba mươi,

Thông minh liều nói tính trời hại thôi!

Văn chương nào ghét mệnh đời

Sao trời đất lại lầm người ghen ai!

Kiếm thư chẳng giúp sinh nhai,

Xuân thu thay đổi đầu phai bạc dần.

Những mong gọt tóc vào rừng,

Nằm nghe thông lộng giữa chừng tầng mây.

 

 

DỊCH NGHĨA:

 

Tấm thân sáu thước giờ đă ba mươi tuổi rồi. Sinh ra thông minh nhưng nói liều theo ư ḿnh, làm hại đến con người đích thực của trời cho. Vốn dĩ văn chương chẳng hề ghét số mệnh. Làm thế nào trời đất lại ghen ghét nhầm lẫn người được? Sách vở, đao kiếm không thành nên chuyện sinh nhai rất bức xúc, thôi thúc. Dần dà xuân đi, thu đến, mái đầu đă có những sợi tóc bạc mới. Vẫn mong muốn gọt tóc quay về rừng để nằm nghe gió lộng thông reo nửa chừng tầng mây.

 

 

CHÚ THÍCH:

                               

 

行庚 hành canh: đồng nghĩa với “hành niên” nghĩa là tuổi tác trải qua.
xích: thước đo của TQ xưa (10 thốn là 01 xích, 10 xích là 01 trượng).
穿鑿 xuyên tạc: nói liều, nói không cần hiểu ư nghĩa thật sự chỉ theo ư ḿnh.
天真 thiên chân: bản tính vốn có sẵn ở mỗi người từ khi sinh.
tăng: ghen ghét, ghét bỏ.
乾坤 kiền khôn (càn khôn): hai quẻ trong Kinh Dịch (TQ) tượng trưng cho trời và đất.
thác: lầm lẫn, sai lầm, dáng cẩn thận, mạ kim loại, đá mài…
đố: ghen tương, ghen tị, ganh ghét.
xúc: thôi thúc, bức bách.
代序 đại tự: đại: thay thế, thay đổi, một đời; tự: tuần tự, thứ tự, tường phía đông – Đại tự: thay đổi tuần tự, thay đổi dần dà.
落髮 lạc phát: xuống tóc, gọt tóc.
hưởng: tiếng vang, tiếng dội lại, tiếng ồn ào, âm thanh cao.
     

                                         

 


 


 

 

 

 

Xem BÀI 06 - 08

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com