trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


THANH-HIÊN THI-TẬP

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 

 

Bài 1: U CƯ                    (Bài 1)

                         幽居                    (一)

 

Thập tải phong trần khứ quốc xa,           十載風塵去國賒
Tiêu tiêu bạch phát kư nhân gia.            
蕭蕭白髮寄人家
Trường đồ nhật mộ tân du thiểu,            
長途日暮新遊少
Nhất thất xuân hàn cựu bệnh đa.            
一室春寒舊病多
Hoại bích nguyệt minh bàn tích dịch,    
壞壁月明蟠蜥蜴
Hoang tŕ thủy hạt xuất hà ma.               
荒池水涸出蝦蟆
Hành nhân mạc tụng “Đăng lâu phú”,    
行人莫誦豋樓賦
Cưỡng bán xuân quang tại hải nha.        
强半春光在海涯

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

Ở NƠI VẮNG VẺ (Bài 1)

 

Mười năm gió bụi quê xa,

Phơ phơ tóc trắng nương nhà của ai!

Trời chiều bạn ít, đường dài,

      Mùa xuân bệnh cũ rét cài một gian.

 Sáng trăng vách nát mối, lằn,

Ao hoang cạn nước nhái giăng ra rồi.

Đời hơn nửa ở góc trời,

     “Đăng lâu” chớ đọc hỡi người đi xa.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Mười năm gió bụi, rời xa chốn quê hương. Mái tóc gió thổi vù vù, bạc trắng vẫn c̣n phải nương nhờ nhà người. Trời đă về chiều mà đường c̣n dài, bạn mới quen th́ ít ỏi, nhiều căn bệnh cũ giữa mùa xuân lạnh lẽo trong căn pḥng nhỏ. Trên vách hư nát, trăng sáng (cho thấy) con sâu cuốn chiếu, con thằn lằn. Ao hoang khô cạn, nhảy ra những con ễnh ương. Người đi xa chớ nên đọc bài “Đăng lâu phú”. Hơn nửa đời người vẫn c̣n ở chân trời góc biển.


CHÚ THÍCH:

 

 

xa: lâu dài, xa xôi, mua chịu. Khứ quốc xa: rời xa quê hương.
蕭蕭  tiêu tiêu:  gió thổi vù vù, tiếng ngựa hí the thé.
   kư:  nương nhờ, gửi gắm.
壞壁  hoại bích: tường hư nát.
蜥蜴   tích dịch:  con thằn lằn.
   bàn:  con cuốn chiếu, con sâu nằm góc cột nhà.
  hạt: nước cạn, hết, cạn ráo.
豋樓賦  Đăng lâu phú:  do Vương Xán đời Đông Hán làm ra khi lánh nạn ở Kinh Châu phải sống nhờ Lưu Biểu. Họ Vương làm bài này khi lên lầu ở Giang Lăng bày tỏ nổi nhớ quê hương và nỗi niềm của kẻ có tài mà chưa được dùng đến.
强半春光  cưỡng bán xuân quang:   hơn nửa ngày xuân, hơn nửa một đời người.
海涯   hải nha: góc biển (nha # nhai) tương tự như 天涯 (thiên nhai): chân trời, giới hạn đất và trời.
     

 

 

 

 

 

 

Bài 2: U CƯ                    (Bài 2)

                         幽居                    (二)

 

Đào hoa, đào diệp, lạc phân phân,           桃花桃葉落紛紛

Môn yểm tà phi nhất viện bần.                  門掩斜扉一院貧

Trú cửu đốn vong thân thị khách,             住久頓忘身是客

Niên thâm cánh giác lăo tùy thân.             年深更覺老隨身

Dị hương dưỡng chuyết sơ pḥng tục,      異鄉養拙初防俗

Loạn thế toàn sinh cửu úy nhân.               亂世全生久畏人

Lưu lạc bạch đầu thành để sự,                 流落白頭成底事

Tây phong xuy đảo tiểu ô cân.                  西風吹倒小烏巾

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

Ở NƠI VẮNG VẺ (Bài 2)

 

Hoa đào lá rụng tơi bời,

Một nhà nghèo khó khép vời cổng nghiêng.

Ở lâu, thân khách bỗng quên,

Năm thêm già lăo thấy bên thân rồi.

Khác quê, giả vụng pḥng người,

Mạng toàn nên sợ người đời loạn ly.

Bạc đầu chẳng được việc ǵ!

Gió tây thổi bật khăn che mái đầu.

 

 

DỊCH NGHĨA:

 

Hoa đào và lá đào rơi rụng khắp chốn. Cánh cửa cổng nghiêng lệch với một căn nhà nghèo nàn. Ở đây lâu ngày quên đi chính ḿnh là khách. Năm tháng chồng chất thấy tuổi già theo liền bên ḿnh. Nơi quê người phải làm vẻ vụng về để đề pḥng những kẻ tầm thường tục tằn. Sống thời loạn lạc, giữ cho được tính mạng lâu dài phải sợ người. Lưu lạc đến khi mái đầu đă bạc mà chẳng được việc ǵ cả! Cơn gió phía tây thổi bật chiếc khăn che đầu.

 

 

CHÚ THÍCH:

 


 

落紛紛  lạc phân phân: rơi lả tả khắp nơi.
  yểm: đóng lại, khép lại, che đậy.
斜扉  tà phi: phi: cánh cửa. Cánh cửa nghiêng lệch xiêu vẹo.
   bần:  nghèo khó, nghèo nàn, giản dị, sống đơn giản.
  đốn:  nơi dừng lại nghỉ ngơi, ngay tức th́ (chữ nhà Phật dùng chữ đốn ngộ để nói về sự giác ngộ, thấy rơ lẽ đạo…), tan vỡ, đ́nh đốn, đ́nh trệ…
年深  niên thâm:  thêm nhiều năm nữa.
  giác:  hiểu ra, thấy ra, biết ra một sự việc hay vấn đề nào đó. Nhà Phật gọi việc thấy rơ chân lư cuộc đời (KHỔ) là giác ngộ.
  tùy: đi theo, theo bên, tuân theo, dựa theo…
養拙   dưỡng chuyết:  nuôi dưỡng sự vụng về (giả ra vẻ vụng về, đơn giản, chất phác…).
成底事  thành để sự: việc chẳng ra sao, chẳng được việc ǵ cả.
     

                                         

 

 


 

 

 

 

 

Xem BÀI 03 - 05

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com