trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

  

 

 

NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA
TRUNG HOA ĐỐI VỚI

 TINH THẦN TỰ CHỦ CỦA ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM

 
Dương Anh Sơn
 


 

 

 Chương 2 : Khái quát về những ảnh hưởng của Trung Hoa trong việc giáo dục và thi cử thời xưa của nước ta.

 

 Có thể nói rằng nền văn hóa của Trung Hoa có một tầm ảnh hưởng sâu rộng đến các nước lân bang như Việt Nam, Cao Ly, Nhật Bản.. v.. v.. từ xa xưa. Và cũng có thể nh́n nhận cho đúng việc xây dựng hệ thống giáo dục ở Trung Hoa dựa trên Nho giáo cùng với việc sử dụng khoa cử để giáo dục và tuyển chọn nhân tài cho các triều đ́nh là một sự tiến bộ vượt bậc trong thời đại b́nh minh của nhân loại ! Để một xă hội đông dân và nhiều lănh thổ rộng lớn như Trung Hoa có tôn ti trật tự và lễ giáo, việc chọn Nho học làm nền tảng cho công cuộc giáo dục xă hội là một hướng đi đúng đắn. Giai đoạn 600-400 TCN, nhiều khu vực trên trái đất cũng đang h́nh thành những nền văn minh lớn từ Âu sang Á như nền văn minh Hy Lạp, La Mă, Ai Cập, Ấn Độ, Trung Hoa... v.. v... Mỗi nền văn minh này đều có những ưu điểm và phù hợp với lănh thổ, dân tộc riêng biệt của từng vùng để xây dựng xă hội con người hướng đến những giá trị tốt đẹp. Các bộ tộc Trung Hoa xưa dựa trên nền tảng của Nho giáo xa xưa, được nâng cao và phát triển từ thời của Khổng Tử 孔子 (tự Trọng Ni 仲尼, 551-479 TCN) để Nho học trở thành đạo Nho hướng đến việc giáo dục con người theo những triết lư mới của Khổng Tử đề ra.

 

Từ những bộ tộc du canh du cư đến các bộ tộc định canh định cư trên đất Trung Hoa trước công nguyên, việc xây dựng những định chế xă hội đều dựa trên nền tảng của Nho giáo. Khổng Tử là một trong những người đầu tiên của nhân loại mở trường dạy học, tiếp nhận những kinh sách của Nho giáo có từ trước nhưng được ông san định, chỉnh lư lại để dạy dỗ các đồ đệ. Ông là người sinh cùng thời với các nhà tư tưởng lớn như đức Siddhartha Gautama (đức Cồ Đàm, đức Phật, 624-544 TCN) bên Ấn Độ, Socrates (470-399 TCN) ở Hy Lạp..... Đứng về mặt sư phạm, các nhà bậc thầy vĩ đại như Khổng Tử, Socrates hay đức Cồ Đàm... được xem là những nhà giáo dục lớn của nền văn minh nhân loại. Với các nước Á Đông, Khổng Tử là một "vạn thế sư biểu " 萬世師表, người thầy mẫu mực của muôn đời.... Sự ra đời của Tứ Thư, Ngũ Kinh sau thời Khổng Tử khi được ông san định đă trở thành những nền tảng căn bản cho việc giáo dục và nằm trong nội dung của các khoa thi để cử tuyển người có tài ra giúp vua trị nước về sau. Nói rộng ra, tư tưởng triết học của Khổng Tử giúp cho sự phát triển những giá trị đạo đức và làm rường mối cho một Trung Hoa đông dân, loạn lạc với nhiều bộ tộc chung sống sẽ đi đến một sự hợp nhất về những giá trị tinh thần làm nền cho các chế độ chính trị !

 

Sự tiếp cận nền văn minh Trung Hoa từ những thời kỳ trước thời Hồng Bàng cùng với hơn một ngàn năm lệ thuộc phương Bắc về sau đă du nhập vào vùng Lĩnh Nam (1) nước ta những tư tưởng của họ, trong đó có tư tưởng của Khổng học đóng góp một phần không nhỏ cho việc xây dựng các triều đại tự chủ của nước Việt. Người Việt học Tứ Thư, Ngũ Kinh của Khổng Tử không chỉ là việc rèn luyện chữ Hán mà cốt học lấy những đạo nghĩa của Khổng học với một mục đích cao đẹp là tu dưỡng đạo đức bản thân để sau này có đủ tài đức góp phần xây dựng triều đ́nh, xây dựng nhân quần ! Nhưng học như thế nào, tiếp nhận và phát huy ra sao lại là một vấn đề khác nữa.

 

 Năm 939, sau chiến thắng quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng, Ngô Quyền xưng vương mở ra thời kỳ đất nước được tự chủ. Vua Ngô đă cho "chế định triều nghi, phẩm phục " (ĐVSKTT, Q 1, sđd, tr. 193) để tạo nên những qui củ cho việc trị nước. Sách sử không ghi rơ vua Ngô dựa trên tư tưởng hay định chế nào của Trung Hoa hay của dân tộc Việt để "chế định", soạn thảo những qui chế xây dựng triều đ́nh. Những dấu ấn của lễ nghi, qui chế triều chính của Trung Hoa với cả ngàn năm Bắc thuộc chắc chắn sẽ được tiền nhân ta học hỏi để áp dụng trong việc tạo lập hệ thống triều đ́nh. Các triều đại tự chủ ở nước ta đă h́nh thành hơi trễ tràng ư thức muốn làm chủ chủ đất đai của tiên tổ sau cả ngàn năm bị đô hộ. Phải chịu sự đàn áp khốc liệt của những thời lệ thuộc nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống.. v.. v.. những người có trí dũng của dân tộc ta mới nhận ra việc phải đứng lên giành lại quyền tự chủ về mặt chính trị cho đất nước !

 

Các thể chế như quan chế, binh chế, pháp chế, tang chế.. v.. v... hầu như đều vay mượn từ Trung Hoa. Tiên tổ người Lĩnh Nam của nước Hồng Bàng xưa kia khi c̣n sinh sống ở trung nguyên bên Trung Hoa cũng từng uống chung ḍng suối văn minh, văn hóa cùng nhiều bộ tộc khác trước khi các bộ tộc Bách Việt bị Hán tộc đẩy dần xuống phương Nam. Cho nên, việc chịu ảnh hưởng của Nho học hay Lăo học xét cho cùng là điều tự nhiên khi có một thuở từng sống trong bầu khí ấy ! Nho học trước thời Khổng Tử là di sản của nhiều bộ tộc sống trên đất Trung Hoa từ hơn hai ngàn năm về trước trong đó có những bộ tộc Bách Việt chứ không phải của riêng người Hán. (xem thêm VLTN, sđd của Kim Định). Có một điều khi xây dựng nước Văn Lang ở phương Nam, do sông núi cách trở và tư tưởng tự lập tự cường, sống cách rời vùng trung nguyên xưa cũ, người Lĩnh Nam có cách sống đơn giản hơn, ít bị những lễ nghi ràng buộc nhưng sẽ thiếu vắng những tư tưởng hoặc định chế sửa sang xă hội, xây dựng con người. Điều đó một phần nào đă khiến cho Lĩnh Nam bị những triều đ́nh Trung Hoa có chế độ chính trị qui củ cao hơn, có hệ thống xă hội được tổ chức tương đối sớm sủa và vững vàng hơn với việc tổ chức quân đội cũng như quan lại chặt chẽ đă giúp họ dễ bề xâm lược và cai trị nước ta. Thời Đông Hán những người Lĩnh Nam như Lư Tiến, Lư Cầm, Trương Trọng... cũng sang bên Trung Hoa du học, thi đỗ mậu tài (tú tài) hay hiếu liêm và làm quan bên đó rồi sau này về làm thứ sử đất Giao Châu như Lư Tiến. Thời kỳ nước ta lệ thuộc nhà Đường cũng có người trong nước như hai anh em Khương Công Phụ, Khương Công Phục và Liêu Hữu Phương thi đỗ tiến sĩ và làm quan nhà Đường. Những người như thế này tuy là những kẻ có học nhưng để có được ít nhiều ư thức dân tộc hay việc quan tâm làm thế nào thoát khỏi sự lệ thuộc để xây dựng một đất nước tự chủ, có lẽ họ cũng chưa sẵn sàng nên chấp nhận làm quan tay sai cho nước xâm lược !

 

 Phải sống trong hoàn cảnh bị bọn xâm lược áp bức coi thường như là những kẻ mọi rợ hay bọn giặc man rợ.... (man di 蠻夷, nhung địch ) mới thấm thía nỗi nhục không có quyền tự chủ ngay trên vùng đất của cha ông ḿnh. Và phải gặp lúc đất nước đă có được những người bậc trí dũng đi tiên phong chống lại giặc xâm lược bằng nhiều h́nh thức, lúc đó ư thức và mong muốn về một đất nước độc lập mới manh nha h́nh thành và phát triển ! Trên đây chúng ta không bênh vực những kẻ như Lư Tiến, Lư Cầm mà chỉ xét đến thời điểm thuận lợi cho việc phát sinh và phát huy quyền tự chủ của dân tộc. Các vua thời tự chủ cũng do chưa có một qui chế hay h́nh thức nào để dùng cho việc cai trị thuận lợi nên buộc phải vay mượn cách thức tổ chức triều đ́nh, phát triển việc học tương tự như bên Trung Hoa để có nhân tài giúp đất nước. Từ thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê trở về sau, việc giáo dục thường do các sư tăng đảm nhận. Các nhà sư đạo Phật thường là những người giỏi chữ Hán thông qua việc t́m hiểu kinh sách nên cũng là người truyền bá văn hóa Trung Hoa không những Phật học mà cả Nho học và Lăo học nữa. Tam giáo thời này phát triển cùng nhau và có một sự hỗ tương qua lại với nhau mà nhiều học giả vẫn gọi là " tam giáo đồng nguyên " nghĩa là cùng chung một đích điểm là giáo dục con người và xă hội nhân quần ! Chính v́ vậy khi nhận xét về thiền sư Vạn Hạnh, Gs Nguyễn Lang tức thiền sư Thích Nhất Hạnh đă viết về h́nh ảnh một quốc sư thời Lư : " Vạn Hạnh không những là một vị lănh đạo đời sống tâm linh mà c̣n là một người lănh đạo hành động. Kiến thức của ông rất rộng ; những hiểu biết của ông về Nho học cũng được ông đem sử dụng trong phạm vi hành động, và sử dụng trong tinh thần tự do phá chấp của đạo Phật. Thái độ của ông đượm nhuần tinh thần tự do phá chấp ấy. "(VNPGSL, sđd, tr. 149, 150). Thật sự, triết học hành động là con đường của Nho học luôn đề cao trong việc giáo dục con người trở nên người, trở nên những kẻ chính nhân quân tử, trở nên những bậc sĩ phu biết xuất xử (ra làm quan giúp vua, giúp nước và khi cần phải biết lui về ở ẩn ). Đó cũng là sự "dấn thân" theo tinh thần đạo Phật để ḥa cùng cuộc sống chùa chiền...

 

 Đến đời Lư Thánh Tông 李聖宗 (1054-1072), để mở mang văn học và khai hóa cho dân chúng, nhà vua đă cho lập văn miếu, dựng tượng Khổng Tử, Chu Công (2) và các tiên hiền của Trung Hoa để giáo hóa ( Khổng Tử vẫn thường nói : " Chu giám ư nhị đại, úc úc hồ văn tai ! Ngô ṭng Chu 子曰 :周監於二代, 郁郁乎文哉 !吾從周- Tấm gương nhà Chu ở hai triều đại [Chu vũ vương, Chu Thành vương] rực rỡ văn vẻ biết bao ! Ta theo nhà Chu, Luận ngữ, Thiên Bát dật 八佾 ).

 

 Từ khi lấy lại quyền tự chủ cho đất nước, sự vay mượn những học thuyết giáo dục con người như Nho học là cần thiết khi gia tài văn hóa của nước ta c̣n trống vắng, các định chế, luật pháp.. v.. v.. c̣n sơ sài. V́ thế, Nho học là một công cụ giáo hóa không thể thiếu để làm rường mối cho triều đ́nh và dân chúng. Bên cạnh những kinh tạng Phật giáo bằng chữ Hán từ phương Bắc mang sang, văn hóa Trung Hoa ngày càng gắn bó với sự mở mang và phát triển văn học Đại Việt. Hầu như những sách vở căn bản như Tứ Thư, Ngũ Kinh... của Nho giáo, Đạo Đức Kinh của đạo Lăo.. v... v.. cùng các tác giả nổi tiếng của văn học Trung Hoa như Đỗ Phủ, Lư Bạch, Vương Duy, Lư Thương Ẩn, Bạch Cư Dị.. v.. v.... đều được các nhà nho nước ta t́m hiểu nhất là từ khi nước ta bị nhà Đường cai trị với một nền văn học có nhiều người tài danh ! Bên Trung Hoa, vào thời Tùy Dạng Đế vào năm 606 đă mở đầu việc khoa cử lấy việc thi cử để tuyển chọn nhân tài thay cho việc lấy các quan hàng cửu phẩm cho tham dự vào việc nước như trước kia. Thời Đường Cao Tổ (622) tổ chức khoa thi chọn ba người đỗ đầu ban danh hiệu trạng nguyên, bảng nhăn, thám hoa. Bên nước ta, việc tổ chức thi cử cũng tương tự bên Trung Hoa. Năm 1075, vua Lư Nhân Tông  仁宗 (1072-1127) đă mở khoa thi tam trường (chọn người học rộng, am hiểu nhiều vấn đề... ) đầu tiên ở nước ta chọn được 10 người ra làm quan. Năm 1076, lập Quốc Tử Giám để dạy dỗ người tài do các quan giỏi kinh sách, văn chương đảm trách. Năm 1086 mở khoa thi chọn người giỏi vào Hàn Lâm Viện làm Hàn lâm học sĩ để nghiên cứu Nho học. Nhà Lư chỉ mở khoa thi khi nào cần thêm người hiền tài chứ chưa thành thường lệ. Nhà Trần giữ ngôi vua thay nhà Lư vẫn tiếp tục thực hiện chế độ khoa cử để chọn người tài giúp nước. Năm 1232, thời Trần Thái Tôn đă mở khoa thi Thái học sinh   , chọn ra Tam giáp (ba hạng đỗ đạt ) lựa chọn những nhà Nho học rộng, hiểu thông kinh sử... đầu tiên của nước ta. Năm 1247, triều đ́nh đặt lệ thi lấy Tam khôi gồm 3 người đỗ đầu của đệ nhất giáp là trạng nguyên, bảng nhăn, thám hoa và quy định cứ 7 năm mở khoa thi một lần. Khoa thi năm 1247 có Lê Văn Hưu đỗ bảng nhăn đă được vua Trần Thái Tôn cử làm Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu  soạn ra bộ Đại Việt Sử Kư gồm 30 quyển hoàn thành vào thời vua Trần Thánh Tôn (1272) làm nền tảng cho sử học nước ta. Năm 1304, Trần Anh Tôn đặt thêm danh hiệu hoàng giáp 黄甲 cho những người đỗ Thái học sinh bảng thứ hai ( đệ nhị giáp). Thời Trần Duệ Tông (1372-1377) cho mở khoa thi Tiến sĩ 進士 (thay cho danh hiệu Thái học sinh, với nghĩa là tiến cử những người tài đức ra giúp nước ).

 

 Khi Lê Quư Ly thoán đoạt nhà Trần (1400) xưng đế, cải lại họ Hồ theo ḍng dơi tổ tiên đời nhà Ngu bên Trung Hoa nên đặt quốc hiệu là Đại Ngu   (VNSL, sđd. tr. 191) đặt chức đốc học và giáo thụ ở các lộ, phủ, châu và cũng tiếp tục cho mở các khoa thi cử nhân có thêm môn toán pháp trong kỳ thi Hương. Những người đỗ kỳ thi Hương qua năm sau vào bộ Lễ thi lại nếu đạt mới bổ làm quan rồi qua năm sau nếu muốn sẽ thi hội được chấm đỗ gọi là Thái học sinh như thời trước. Lương Đức Thiệp trong cuốn Xă Hội Việt Nam cho rằng Hồ Quư Ly là người có ư hướng dân tộc khi sử dụng chữ Nôm : " Định gây lấy một nền học thuật cho dân tộc, họ Hồ là người đầu tiên cho đem dịch Kinh Thư ra chữ Nôm để giảng dạy tại khắp nước và cũng là ông vua đầu tiên dám phá bỏ lề lối của các triều đại xưa mà dùng văn Nôm ngay trong các sớ, biểu và công văn " (sđd, tr. 60). Đến thời Lê Thái Tổ, mở lại trường Quốc Tử Giám ở kinh đô cho con các quan và những người ưu tú ; các phủ lộ đều mở mang các trường dạy nho học và mở các khoa thi để tuyển trạch nhân tài, các quan văn vơ từ tứ phẩm trở xuống phải thi lại cùng với các nho sĩ hay vơ sĩ khác. Những người theo đạo Phật hay đạo Lăo cũng phải thi và đậu đạt mới được phép làm tăng sĩ hay đạo sĩ. Đến thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497), nhà vua chú trọng việc sửa đổi chăm lo nhiều mặt như việc sắp xếp, đặt tên các phủ lộ, sửa đổi phong tục, phát triển binh bị, canh nông, mở mang việc học hành và thi cử. Vua định lại phép thi Hương, thi Hội và đích thân làm giám khảo thi Đ́nh. Kỳ thi Hương người nào đỗ 4 kỳ đạt danh hiệu Hương cống, c̣n đậu ba kỳ gọi là Sinh đồ. Sau ba năm của kỳ thi Hương là kỳ thi Hội với người đỗ hạng đầu là Hội nguyên. Những người trúng cách (thi đậu) kỳ thi Hội sẽ được dự kỳ thi Đ́nh trong cung vua, do đích thân vua chủ tŕ lấy tam khôi ở bảng "đệ nhất giáp", lấy Hoàng giáp hay tiến sĩ xuất thân ở bảng "đệ nhị giáp ", lấy đồng tiến sĩ xuất thân ở bảng "đệ tam giáp". Vua c̣n chủ trương cho xướng danh ở nhà Thái học, ban áo măo cân đai cho các người đậu kỳ thi Đ́nh, được khắc bia ở Văn Miếu, được "vinh quy bái tổ" trọng vọng để khích lệ việc học hành ra làm quan giúp triều đ́nh. Nhà vua cho mở rộng nhà Thái học, nhà Văn miếu. Nhà vua cũng chỉ thị cho Ngô Sĩ Liên viết tiếp bộ Đại Việt Sử Kư dựa trên hai cuốn sử kư của Lê Văn Hưu và Phan Phù Tiên (thời Trần Nhân Tông) sau này gọi chung là Đại Việt Sử Kư Toàn Thư. Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Lê Mạc tranh nhau ngôi vua cũng tổ chức thi cử nhưng do thời loạn lạc nên việc thi cử cũng nhiều sự lộn xộn không c̣n nghiêm túc như xưa !

 

 Đến thời Tây Sơn, vua Quang Trung rất chú trọng việc phát triển chữ Nôm nên việc thi cử đều yêu cầu các quan giám khảo ra đề bằng chữ Nôm. Nhưng chữ Nôm muốn nắm vững phải am hiểu chữ Hán nên nhiều nho sĩ đă cho là triều Tây Sơn ức hiếp việc học của họ mà không thấy tinh thần tự chủ, tự cường của vua Quang Trung ! Cho nên, tinh thần tự chủ dân tộc của Hồ Quư Ly và của vua Quang Trung trong việc dùng chữ Nôm trong các văn thư của triều đ́nh và thi cử là một việc đáng trân trọng. Chỉ tiếc là việc sáng tạo chữ Nôm vẫn không thể thoát ly hẳn chữ Hán. Khi muốn đọc văn Nôm phải am tường chữ Hán nên chữ Nôm không thể nhanh chóng phát triển và được các nho sĩ thủ cựu chấp nhận v́ không thuận tiện như chữ quốc ngữ sau này sử dụng các chữ cái của tiếng La Tinh để đọc và viết tiếng Việt. Đó là chưa kể đến một số nho sinh đă xem thường, dè biểu chữ Nôm (ví dụ :"Nôm na là cha mách khóe ") do quá lệ thuộc Hán học và thiếu ư thức dân tộc !

 

 Qua thời nhà Nguyễn, vua Gia Long khi mới lên ngôi rất chú ư việc mở mang việc học trong đó triều Nguyễn vẫn xem nho học là nền tảng của việc học. Triều đ́nh đă cho lập văn miếu ở các doanh trấn, dựng tượng Khổng Tử để tỏ ḷng kính trọng ông tổ đạo Nho, mở Quốc tử giám ở kinh đô Huế và các khoa thi Hương để lấy người tài giỏi ra giúp nước. Từ vua Gia Long cho đến các vua kế tiếp như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức... ngoài việc mở mang nho học cũng chú ư việc phát triển chữ Nôm. Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du, Văn Tế Tướng Sĩ Trận Vong của Nguyễn Văn Thành, Hoa Tiên Truyện của Phan Huy Tự, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đ́nh Chiểu.. v.. v... là những tác phẩm đạt đỉnh cao của văn chương quốc âm. Ngoài ra, các truyện Nôm như Trê Cóc (398 câu lục bát), Trinh Thử (850 câu lục bát) chưa rơ tác giả và thời gian ra đời cũng là những câu chuyện luân lư có giá trị. Năm 1825, vua Minh Mạng đă cho đổi tên danh hiệu đỗ ba kỳ thi Hương là Tú tài (thay cho Sinh đồ), đỗ thi Hương bốn kỳ gọi là Cử nhân. Người đỗ đầu bốn kỳ thi Hội sẽ vào sân vua để thi gọi là Đ́nh thí (thi Đ́nh). Thời Minh Mạng, đỗ đầu không c̣n danh hiệu trạng nguyên mà chỉ c̣n danh hiệu Bảng nhăn, Thám hoa (bậc tiến sĩ cao cấp), các tiến sĩ và phó bảng (dưới bậc tiến sĩ).

 

 Các nội dung của việc học và khoa cử từ thời nhà Lư, nhà Trần, nhà Lê và nhà Nguyễn đều lấy nho học làm nền tảng. Chúng ta có thể tóm tắt những nội dung chính của các khoa thi từ thời Lư cho đến thời Nguyễn như sau :

 

 Các sách Nho- học dành cho thí sinh dự các kỳ thi Hương, thi Hội gồm có : - Nhất thiên tự, Sử học vấn tân, Ấu học ngũ ngôn thi, Minh tâm bảo giám, Minh đạo gia huấn, Tam tự kinh đều là sách của người Trung Hoa. - Bộ sách giáo khoa chủ yếu luôn được dùng để thi cử : a/Tứ Thư (Luận Ngữ, Mạnh Tử, Đại Học và Trung Dung) b/ Ngũ Kinh (Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu).

 

 Nho học dần dần trở thành độc tôn trong việc giáo dục và thi cử suốt từ thời nhà Trần cho đến nhà Nguyễn tổng cộng 844 năm ( tính từ khoa thi đầu tiên 1071 đến khoa thi cuối cùng 1919). Những kinh điển của Khổng Tử như Tứ Thư, Ngũ Kinh, các thể thơ, phú, chiếu, chế, biểu, văn sách... v.. v. (3). cùng những nhà thơ tiêu biểu của Trung Hoa như Lư Bạch, Đỗ Phủ... và cả lịch sử Trung Hoa là những nội dung thi cử chính của các kỳ thi ở nước ta. Thông qua chế độ học hành và thi cử các h́nh thức của văn hóa, phong tục tập quán của Trung Hoa được phổ biến rộng răi và trải qua nhiều triều đại. Các nho sĩ Việt nam có lẽ am tường lịch sử nước Trung Hoa thời cổ đại hay trung đại. v.. v.. c̣n hơn lịch sử của Đại Việt v́ nó được đem vào các nội dung thi các cấp ! Văn hóa, văn minh và nhiều thứ khác nữa của Trung Hoa thông qua con đường học hành và thi cử làm cho nhiều thế hệ phải chịu ảnh hưởng sâu đậm. Cụ Huỳnh Thúc Kháng đă có nhận xét xác đáng : "Ai cũng biết nước ta trước kia trải mấy ngàn năm theo văn-hóa Tàu, phụng Hán-học làm quốc-giáo, điều trái ngược nhất trong giới khoa-cử ngày xưa là đem sử nước Tàu làm chính-sử mà quốc-sử chỉ là phần phụ-thuộc..."  (Nguyễn Đổng Chi, VNCVHS, Lời Bạt, sđd, tr. 442 ). Việc gạn lọc và thay đổi rất khó ngay khi các triều đ́nh từ các vua thời tự chủ đầu tiên đă lấy văn hóa, văn minh phương Bắc làm mẫu mực. Chỉ đến khi người Pháp xâm lược nước ta, bên cạnh chủ nghĩa thực dân tàn bạo, họ cũng đem đến nhiều điều mới lạ về khoa học, kỹ thuật, tư tưởng làm cho cái học nhà nho tàn lụi. Kỳ thi năm 1919 triều vua Khải Định được xem như khoa thi cuối cùng của khoa cử theo đường lối Nho học cộng thêm một số các bài Pháp văn, toán pháp... ảnh hưởng của lối học mới mẻ của chính quyền đô hộ Pháp(1/4/1919) (4)

 

 *   *

*

 Chúng ta nên nh́n nhận một cách thẳng thắng việc giáo dục theo đường lối của Khổng Mạnh để xây dựng con người có tinh thần NHÂN, TRÍ, DŨNG thực tế đă đào tạo nên những lớp sĩ phu có Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ. Những bậc danh nho như Chu Văn An, Trương Hán Siêu, Lê Văn Hưu, Nguyễn Trăi, Lương Thế Vinh, Nguyễn Trung Ngạn, Ngô Sĩ Liên, Lê Quư Đôn, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Thiếp, Nguyễn Du, Phan Thanh Giản, Nguyễn Đ́nh Chiểu, Vơ Trường Toản.. v.. v... được lịch sử nh́n nhận như là những người thành danh từ cửa Khổng sân Tŕnh. Trong buổi giao thời giữa cựu học và tân học khi Pháp mới đặt nền móng đô hộ ở nước ta, những nhà cải cách, những sĩ phu yêu nước xuất thân từ nho học như Phan Đ́nh Phùng, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Cường Để, Trần Quư Cáp, Huỳnh Thúc Kháng.. v. v.. đă là những tên tuổi gắn liền với lịch sử đấu tranh của đất nước ! Nói khác hơn, nho học là học những ư nghĩa sâu sắc của đạo Nho để trở thành người quân tử có nhân cách hoàn thiện. Khái niệm người quân tử dần dần trở thành khái niệm "sĩ phu" được hiểu như là con người biết đảm đương chức trách của kẻ sĩ khi đất nước cần đến. Bậc "sĩ phu" là con người hành động đem thực hiện những tư tưởng Nho học cho việc xây dựng cũng như giữ ǵn đất nước. Cho nên đạo Nho qua trường lớp và trong quá tŕnh học tập kinh sách luôn hướng đến việc huân tập con người theo tiêu chí : "Tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ ". Sách Đại Học đă viết lời dạy của Khổng Tử : ".... Ư thành, nhi hậu tâm chính. Tâm chính nhi hậu thân tu. Thân tu nhi hậu gia tề. Gia tề nhi hậu quốc trị. Quốc trị nhi hậu thiên hạ b́nh "诚而后心正. 心正而后身修. 身修而后家齊. 家齊而后國治, 國治而后天下平" (Đoàn Trung C̣n, Đại Học, Châu Hy chương cú, sđd tr. 8).... ( Cái ư có thành thật, về sau cái ḷng ḿnh mới chính đính. Ḷng dạ có ngay thẳng, chính đính sau này mới tu tập thân ḿnh được. Thân ḿnh có tu dưỡng được, sau mới sắp xếp cửa nhà cho tề chỉnh. Nhà cửa có tề chỉnh, sau mới sửa trị giúp nước được. Nước nhà có sửa trị được sau mới làm cho cuộc đời được thái b́nh..... ) Biết bao lời giáo huấn để huân tập con người rất hợp lư và tốt đẹp được các môn đệ của Khổng Tử ghi lại trong Luận Ngữ, Đại Học, Trung Dung. Truyền thống đó được nối tiếp bởi các môn đồ xuất chúng như Mạnh Tử, Chu Hy rồi Tŕnh Di, Tŕnh Hạo và nhiều người sau này làm cho tư tưởng của Khổng Tử đi vào đời sống của nhiều dân tộc Á Đông.

 

 Nước ta có gần hai ngàn năm tiếp nhận những lời giáo huấn của Khổng Tử nói riêng và nho học nói chung bao gồm một ngàn năm Bắc thuộc cộng với gần một ngàn năm thời tự chủ với việc giáo dục và thi cử lấy Nho giáo của Khổng Mạnh làm nền tảng. Mặt khác những lời dạy của Khổng Mạnh gắn liền với đời sống tinh thần của bản thân, gia đ́nh và xă hội một cách thiết thực bên cạnh các tư tưởng của đạo Phật, Lăo Tử và Bách Gia Chư Tử. Các triều đại Trung Hoa và nước Việt đều nhận thấy triết học của Khổng Tử rất gần gũi con người và giúp ích rất nhiều cho việc chấn hưng đạo đức bằng đường lối giáo dục, khoa cử, truyền bá văn hóa.. v.. v.... Đồng thời, đó là một học thuyết đề cao vai tṛ của con người mà ngày nay chúng ta gọi là nhân bản. Vai tṛ con người luôn được đề cao v́ có con người mới có đạo. Khổng Tử đă nói : "Nhân năng hoằng đạo, phi đạo hoằng nhân人能 弘道, 非道弘人". Con người có thể mở rộng lẽ đạo nơi ḿnh, không có việc đạo có thể mở rộng con người. (Luận ngữ, chương XV, mục 28). Nói khác hơn, con người phải là chủ thể phát huy đạo đức, con người phải dựa vào chính bản thân ḿnh trong quá tŕnh suy nghĩ và hành động. Tiếc thay những điều nhắc nhở của Khổng Tử không được lưu ư.

 

 Bên cạnh nhiều sĩ phu có ư thức tự chủ vẫn c̣n nhiều nho sĩ bị hán hóa luôn t́m cách cản trở con đường đi lên của chữ Nôm như thời nhà Hồ hay Tây Sơn có nhiều người không tán thành việc cải cách và sử dụng chữ Nôm. Sự thành công của Truyện Kiều bằng văn chương quốc âm đă giúp thay đổi nhiều những suy nghĩ của một lớp nhà nho thủ cựu, chưa hề có ư niệm về một nền văn học tự chủ khởi đi bằng văn chương quốc âm thông qua chữ Nôm.

 

 Ở những thời kỳ đất nước Trung Hoa tao loạn, việc cải thiện tinh thần học tập đạo Nho được những người như Vương Dương Minh(1472-1528, tên thật là Thủ Nhân 守仁, tự là Bá An 伯安 là nhà chính trị, nhà tư tưởng nổi tiếng thời nhà Minh/T. H) khởi xướng với khẩu hiệu "Tri hành hợp nhất" nghĩa là sự hiểu biết và việc thi hành, áp dụng trong cuộc sống phải là một chứ không thề tách rời nhau ! Sự hiểu biết của họ Vương đặt nền tảng trên học thuyết của Khổng học nhưng đặt ra yêu cầu phải gắn liền với thực tế bằng vào việc áp dụng cho bản thân và hành động giúp ích cho nhân quần. Chắc chắn triết lư của họ Vương cũng giúp tác động lên các sĩ phu yêu nước ở những năm đầu và cuối thế kỷ 20. Những học thuyết của Khổng Tử và các nho gia cách ngàn năm sau đi theo con đường của ông như Vương Dương Minh bên Trung Hoa đă làm sáng rơ hơn những giá trị tích cực của học thuyết này rất cần cho việc xây dựng xă hội có tôn ti trật tự, có nề nếp đạo đức. Nước ta do chịu ảnh hưởng của phương Bắc và xét cho kỹ v́ thiếu vắng những học thuyết tốt đẹp khả dĩ giữ vững nền tự chủ dân tộc nên phải cần đến nó ! Đó không hẳn là sự vay mượn mà là học hỏi kinh nghiệm của phương Bắc khi nước chúng ta chưa có được học thuyết nào cần cho dân tộc và cũng chưa cơ hội tiếp nhận thêm những nền văn minh khác ưu việt hơn ! Chúng ta luôn đề cao tinh thần tự chủ của đất nước ḿnh nhưng không có nghĩa gạt phăng những cái hay của một đất nước từng gây ra bao nỗi ô nhục bị lệ thuộc cho chúng ta suốt cả ngàn năm liền ! Thực sự đạo Nho mà cha ông chúng ta tiếp nhận và học hỏi từ phương Bắc đă làm cho dân tộc Đại Việt văn minh hơn, đời sống văn hóa phong phú hơn. Những dân tộc giỏi giang như Nhật Bản cũng chịu ảnh hưởng của đạo Nho Trung Hoa như nước ta nhưng họ biết lựa chọn, sáng tạo và giữ được bản sắc dân tộc. Đồng thời, chúng ta học hỏi tinh túy của nền văn minh Trung Hoa nhưng không bao giờ học tư tưởng bành trướng, muốn làm chủ thiên hạ, muốn làm trung tâm nhân loại khi quốc gia của họ chưa được nhiều quốc gia lớn mạnh khác xem là văn minh, tiến bộ ! Sự rập khuôn khi tiếp nhận học thuyết đó là điều nên tránh nếu chưa muốn nói đến việc nho sinh nào có những bàn luận trái ngược với tư tưởng Hán nho, Tống nho... chắc chắn sẽ không khi nào được đỗ đạt ! Con đường cử nghiệp luôn tuân theo những quy định khắc khe của trường thi cũng như không có con đường khác ngoài những nội dung của các sách giáo khoa như Tứ thư, Ngũ kinh, Minh tâm bửu giám, Tam tự kinh.. v.. v... cùng những tác giả văn học lớn của Trung Hoa ! Một tác giả người Pháp là Henri Gourdon (5) trong cuốn Nghệ Thuật An Nam (L' art de l'Annam ) đă có nhận xét đáng lưu ư : " Các nho sĩ tạo thành tầng lớp lănh đạo đất nước hoàn toàn được đào tạo theo văn hóa Trung Quốc..... Những pho sách về lễ nghĩa của Khổng Tử và Mạnh Tử với nội dung toàn những lời giảng giải của họ đều được học thuộc ḷng, được b́nh và diễn giải ở khắp nơi trên đất nước An Nam..... Thơ ca, lịch sử, thiên văn, triết học và đạo đức, tất cả đều dựa theo Trung Quốc... " (sđd, tr. 20). Như thế, với hơn một ngàn năm bị lệ thuộc Trung Hoa lại thêm hơn tám trăm năm nước ta lại áp dụng việc học hành thi cử cũng của họ nên thời kỳ tự chủ về phương diện giáo dục cũng chỉ là sự lệ thuộc chứ chưa thể tự chủ v́ bám theo việc học như Trung Hoa thôi ! Giáo dục, văn hóa, văn minh, văn học.. v.. v.. của Trung Hoa ảnh hưởng sâu đậm đời sống tinh thần của Việt tộc ! Ngày nay, với tinh thần khai phóng, chúng ta tiếp xúc rất nhiều nguồn tư tưởng mới hơn, thiết thực hơn từ nhiều nền văn minh tốt đẹp khắp thế giới để bổ sung thêm cho đời sống tinh thần của người Việt. Con đường giữ lại và gạt bỏ những cái hay lẫn cái không đúng sao cho phù hợp với dân tộc Việt không phải dễ dàng !

 

 Sự phát triển chữ Nôm mạnh lên từ thời nhà Trần với Nguyễn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố và đến thời nhà Nguyễn đă có những tác phẩm Nôm quan trọng như Truyện Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh), Nhị Độ Mai, Phan Trần, Lục Vân Tiên.. v.. v... Thể thơ lục bát và song thất lục bát của dân tộc đă có những thành tựu qua nhiều tác phẩm văn học từ thời nhà Trần và dần dà hoàn thiện, trau chuốt hơn ở những thời sau chẳng hạn như Truyện Kiều (Đ. T. T. T) của Nguyễn Du đă trở thành một tuyệt tác của văn học nước ta.... Nhưng cũng thời nhà Nguyễn, chữ quốc ngữ mới mẻ theo cách viết của chữ La tinh do các giáo sĩ truyền giáo sáng tạo giúp nước ta đă có nhiều tiến bộ so với thời kỳ manh nha ở thế kỷ 17. Chữ quốc ngữ có thể thoát ly hẳn chữ Hán song chưa được các nho sĩ đón nhận cho đến khi người Pháp chính thức đô hộ nước ta đưa vào chương tŕnh giáo dục của chính quyền thực dân.

 

 Mặc dầu vậy, nhiều nho sĩ bị hán hóa luôn t́m cách cản trở con đường đi lên của chữ Nôm như thời nhà Hồ hay Tây Sơn có nhiều người không tán thành việc cải cách và sử dụng chữ Nôm. Sự thành công của Truyện Kiều bằng văn chương quốc âm đă giúp thay đổi nhiều những suy nghĩ của một lớp nhà nho thủ cựu chưa hề có ư niệm về một nền văn học tự chủ khởi đi bằng văn chương quốc âm thông qua chữ Nôm và khi có chữ quốc ngữ mới thuận tiện hơn hẳn, nhiều nho sĩ vẫn chưa thức tỉnh kịp thời.

 

 Mặt khác, các nho sĩ nước ta với lối học từ chương, luôn luôn bám sát những lời dạy của người xưa thông qua sách vở thành ra cái lệ. Những người bước vào cửa Khổng, sân Tŕnh quá tùy thuộc, tôn sùng vào những lời dạy của ông và chỉ nhắm đến việc thi cử đậu đạt chứ không đi sâu t́m hiểu ư nghĩa sâu xa từ những lời dạy đó. Nho học trở thành một h́nh thức tôn sùng Khổng Tử và Bách gia Chư Tử mà ta vẫn gọi chung là Nho giáo. V́ thế việc nệ cổ, lập đi lập lại những lời dạy của Khổng Mạnh rất máy móc từ trường học cho đến việc thi cử khiến tinh thần tự chủ của các nho sinh không vươn lên cao, vượt ra ngoài những khuôn thước qua nhiều triều đại. Dầu vậy, việc đem Nho học, trong đó Khổng học là chính yếu vào việc học hành thi cử của các triều đại như nhà Lư, nhà Trần, nhà Lê và nhà Nguyễn tiếp nhận từ nền giáo dục của Trung Hoa nhằm giáo hóa dân chúng có bài bản hơn v́ nước ta trước và sau thời tự chủ chưa có một nền học thuật và tư tưởng riêng biệt ! Khi bắt đầu có cơ hội tiếp xúc với người Pháp nói riêng và thế giới Tây phương nói chung, từ vua quan nhà Nguyễn và rất nhiều nho sĩ cũng chưa kịp thức thời để mở cửa tiếp nhận có lựa chọn nền văn minh mới, bổ sung cho các nền tảng cũ lỗi thời làm đất nước không theo kịp sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật từ Tây phương sẽ có tác động lớn trong việc đưa đất nước đi lên. Nhưng cũng may mắn là đă xuất hiện nhưng sĩ phu yêu nước vừa có căn bản của đạo Nho lại vừa tiếp thu những tinh hoa tư tưởng của phương tây như khái niệm tự do, dân chủ, độc lập... v.. v... Đó là những nhà yêu nước chân chính như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Trần Quư Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thái Học... v.. v... đă dấn thân vào con đường đấu tranh giành lại tự do và độc lập thực sự cho đất nước.

 Nh́n chung, chế độ giáo dục và khoa cử xưa có những đóng góp cụ thể cho nền tự chủ của dân tộc nhưng cũng tạo nên một tầng lớp vua quan, nho sĩ bảo thủ không nhạy bén, theo kịp sự tiến bộ của nhiều nền văn minh ưu việt hơn giúp đất nước đủ sức chống lại những mưu toan xâm lược mới của chủ nghĩa thực dân trong những năm triều Nguyễn về sau.

 

 

 Chương 3 : Khái quát về những phong tục, lễ hội Trung Hoa ảnh hưởng đến nền văn hóa, văn minh Việt Nam.

 

 Trong "Lời tựa" của VNSL, nhà sử học Trần Trọng Kim đă lưu ư về những ảnh hưởng của văn minh, văn hóa Trung Hoa đối với nước ta bằng những nhận định rất đúng đắn : " Thời đại Bắc thuộc dai dẳng đến hơn một ngh́n năm, mà trong thời đại ấy dân t́nh thế tục ở nước ḿnh thế nào, th́ bấy giờ ta không rơ lắm, nhưng có một điều ta nên biết là từ đó trở đi, người ḿnh nhiễm cái văn minh Tàu một cách sâu xa, dẫu về sau có giải thoát được cái ṿng phụ thuộc nước Tàu nữa, người ḿnh vẫn phải chịu cái ảnh hưởng của Tàu. Cái ảnh hưởng ấy lâu ngày thành ra quốc túy của ḿnh, dẫu ngày nay có muốn trừ bỏ đi, cũng chưa dễ một mai mà tẩy gội cho sạch được... " (. VNSL. sđd, tr. 9). Việc " nhiễm cái văn minh Tàu một cách sâu xa " để rồi "cái ảnh hưởng ấy lâu ngày thành ra quốc túy của ḿnh " là hậu quả tất nhiên của của thời Bắc thuộc kéo dài cả ngàn năm và một khi nó trở thành cái hay, cái đẹp của một nước (quốc túy國粹 ). Tuy nhiên những di sản văn hóa cũng phải nên xem xét lại cho phù hợp với thời đại. Nước Việt chúng ta sống bên cạnh một nước Trung Hoa to lớn với nhiều tham vọng chiếm cứ lănh thổ của thiên hạ làm của ḿnh. Nước Trung Hoa này chưa bao giờ được đánh giá là một nước văn minh đích thực cho dù họ có ba, bốn ngàn năm lịch sử. Một nước văn minh là biết sống ḥa hợp với các dân tộc chung quanh biết sống theo điều nhân, điều nghĩa như quan niệm của Khổng Mạnh của cha ông họ và ngày càng tiến bộ theo trào lưu của nhân loại. Nhưng từ xưa đến nay, chúng ta chưa hề thấy một triều đại Trung Hoa nào đàng hoàng tử tế với chính dân tộc ḿnh và các lân quốc. Lịch sử của họ là lịch sử tranh giành đất đai lănh thổ, nắm quyền bính cai trị thiên hạ và đi xâm lược các nước chung quanh như Tây Tạng, Tân Cương.... Nước Việt chúng ta tồn tại được trước một nước Trung Hoa hung hăn bạo ngược là nhờ tinh thần bất khuất, yêu chuộng sự tự chủ và độc lập của đất nước, dân tộc. Công cuộc đồng hóa và tiến tới sự sát nhập Lĩnh Nam xưa và Đại Việt về sau vào đế chế Trung Hoa của họ đă thất bại nhưng vẫn chưa hề chấm dứt tham vọng bành trướng của họ trong tương lai kề cận tiếp theo chứ chưa nói đến các đời sau nữa ! Sự sống c̣n của nước Việt rất bấp bênh trước sự "trỗi dậy" lớn mạnh, ngạo ngược, hung hăn nhiều thủ đoạn của bọn cầm quyền.

 

 Với một thời gian lệ thuộc "dai dẳng cả ngàn năm" nên nước ta không thể nào không bị những ảnh hưởng về mặt phong tục, tập quán và lễ hội trên phương diện văn hóa ! Văn hóa có sức mạnh đồng hóa được phương Bắc sử dụng từ xưa đối với nhiều bộ tộc, nhiều quốc gia mà họ xâm lấn ! Do đó, những ảnh hưởng của các phong tục tập quán và các lễ hội phương Bắc mà chúng ta đề cập tiếp theo đây cũng nên đánh giá và gạn lọc hầu giữ cho bản sắc Việt Nam được tốt đẹp hơn, riêng biệt hơn chứ không là một bản sao hoàn toàn của phương Bắc y như chương tŕnh học hành và thi cử từ thời tự chủ cho đến những năm cuối triều Nguyễn. Đây là một vấn đề không đơn giản v́ nó đă thấm sâu vào đời sống tinh thần cũng như thói quen của người Việt chúng ta. Trong phần đầu của cuốn VNSL, Trần Trọng Kim cho rằng : " Người Việt Nam từ Bắc chí Nam, đều theo một phong tục, nói một thứ tiếng cùng giữ một kỷ niệm (?), thật là cái tính đồng nhất của một dân tộc từ đầu đến cuối nước " (sđd, tr. 18). Cũng có nhiều tác giả cho rằng nước ta dầu bị lệ thuộc phương Bắc cả ngàn năm nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng trong đó có phong tục tập quán. Tuy nhiên, xét kỹ theo những ǵ lịch sử c̣n ghi lại, nhiều thứ của phong tục rất gần gũi và quen thuộc hằng ngày của chúng ta được du nhập từ Trung Hoa và trở thành " tập quán " đă hơn hai ngàn năm nay rồi ! Nước Việt c̣n giữ nhiều phong tục lễ hội mang bản sắc riêng nhưng rất nhiều phong tục lễ hội nước ta là bản sao của Trung Hoa. Cho nên, thay v́ nói như Trần Trọng Kim : " Người Việt Nam từ Bắc chí Nam đều theo một phong tục.... " có lẽ nên nói cho rơ hơn : " Người Việt Nam chúng ta từ Bắc chí Nam đều cùng một tiếng nói nhưng phong tục c̣n chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa Trung Hoa... ". Người nước ta có thể đồng nhất trong phong tục nhưng đó là phong tục có nhiều loại du nhập từ phương Bắc trên hai ngàn năm nay ! Tục cạo đầu, vẽ ḿnh, nhuộm răng... có thể là của người Việt xưa. Sách Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp có đoạn viết : "... Chu Công (1) có hỏi : Người Giao Chỉ cắt tóc ngắn, xăm ḿnh, để đầu trần, đi chân đất, nhuộm răng đen là cớ làm sao ? Đáp : Cắt tóc ngắn để tiện đi trong rừng rú. Xăm ḿnh để giống h́nh Long Quân bơi lội dưới sông loài giao long không phạm tới. Đi chân đất để tiện leo cây... Để đầu trần để tránh lửa bén, Ăn trầu cau để trừ ô uế cho nên răng đen vậy "(LNCQ, sđd, tr. 65, 66). C̣n tục ăn trầu không phải chỉ có tộc Việt mà người Tứ Xuyên, Phúc Kiến, Quảng Đông và nhiều bộ tộc khác nữa (xem Nhất Thanh, sđd, tr. 128) cũng dùng như người Việt. Vài ví dụ như thế để thấy rơ hơn chuyện phong tục tập quán nước Việt chịu ảnh hưởng đậm đà từ phương Bắc là một thực tế.

 

 1/ Thực vậy, phong tục tập quán là những thói tục đă trở thành những nền nếp sinh hoạt của dân tộc từ bao nhiêu đời nay. Phong tục tập quán được h́nh thành từ trong cuộc sống của một dân tộc và có khi được du nhập từ bên ngoài lâu ngày thành ra những thói quen b́nh thường. Một ngàn năm Bắc thuộc cộng với hơn tám trăm năm học hành theo lề lối Trung Hoa khiến cho phong tục tập quán nước ta chịu ảnh hưởng đậm đà từ văn hóa của họ. Ngay từ thời con cháu Triệu Đà cai trị nước ta, bọn quan lại Trung Hoa luôn khinh miệt dân tộc Việt xem vùng đất này là nơi không có luật pháp. Chẳng hạn vua Mân Việt kế bên vào năm 135 TCN xâm lấn nước Nam Việt thời Triệu Văn Vương, Hoài Nam Vương An khi dâng tấu vua Hán đă nói về dân Việt : " Đất Việt là đất ngoài, là dân cạo tóc vẽ ḿnh, không thể lấy pháp độ của nước đội mũ mang đai mà trị được... " (ĐVSKTT, Q. 1, sđd, tr. 94). Người Trung Hoa trong cách nói năng như Vương An vẫn xem dân Việt là dân " di, địch " với tục "cạo tóc vẽ ḿnh" của thời kỳ c̣n sơ khai, chưa "văn minh", chưa có "pháp độ" như dân nước họ ! Trong khi các triều đại Trung Hoa tương đối có văn minh với những chế độ cai trị có bài bản, nước Việt vẫn đang bị họ Triệu gốc gác từ phương Bắc cai trị trong t́nh trạng c̣n lạc hậu trong đó có phong tục tập quán. Các vua nhà Triệu bắt đầu du nhập vào nước ta sách vở Hán học cùng nhiều phong tục tập quán của Trung Hoa. Phải đến khi dẹp nhà Triệu xong, nhà Hán cho Tích Quang rồi Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp sang cai trị, phong tục tập quán của dân ta dần dà thay đổi mau chóng như nông nghiệp, cưới hỏi, ma chay, thờ cúng ông bà... v.. v... với nhiều h́nh thức đem từ Trung Hoa sang. Bên cạnh đó, các thần linh Trung Hoa như thổ thần, thần sông nước, những danh tướng của họ.. v.. v... cũng được "rước" vào nước ta lâu dần cũng thành thói quen thờ cúng các vị khác giống khác ṇi này( thờ Quan Công, Bao Công, Sầm Nghi Đống.. v.. v.. ) !

 

 Trước hết, từ thời Hồng Bàng, nước ta đă theo chế độ mẫu hệ với vai tṛ người phụ nữ nắm việc điều khiển gia đ́nh là chính. Thời Hai Bà Trưng là một ví dụ cho thấy quyền hành của nữ giới không những trong gia đ́nh mà cả ngoài xă hội nữa ! Khi nhà Hán với thái thú Tô Định thiết lập sự đô hộ lên Lĩnh Nam, vai tṛ của người đàn ông trong gia đ́nh và xă hội dần dần thay cho chế độ mẫu hệ :"Chế độ mẫu hệ rung chuyển đến tận nền tảng rồi nghiêng lay để nhường chỗ cho chế độ phụ quyền đă đủ điều kiện đến thế chân.... Những lực lượng đang tàn của thị tộc mẫu hệ Việt Nam vùng dậy để kết tinh trong hai người đàn bà... Hai Bà nổi dậy phất cao ngọn cờ chiến đấu chống kẻ ngoại xâm..."( Lương Đức Thiệp, sđd, tr. 32&34). Từ chế độ mẫu hệ đă bắt đầu chuyển qua phụ hệ, từ việc chịu sự áp bức đô hộ của giặc xâm lược, dân ta đă "có thói quen" đấu tranh để giành quyền tự chủ cho dân tộc.

 

 Khi Lộ Bác Đức, theo lệnh vua Tây Hán sang đánh dẹp Thuật Dương Vương nhà Triệu rồi cho những viên quan như Tích Quang rồi Nhâm Diên... qua để cai trị mang theo văn hóa, văn minh, học thuật.. v.. v.. của phương Bắc sang. Đất đai Tượng Quân xưa bị nhà Hán chia làm ba quận là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam gọi chung là Giao Chỉ (202 TTL). Phong tục sinh sống của dân nước ta (thời "Giao Chỉ") chủ yếu là săn bắn, chài lưới chứ không chú trọng cầy cấy v́ dân Việt chúng ta thường gieo trồng lúa theo cách đơn giản trên vùng có đầm lầy, sông nước chen lẫn núi non ở Bắc Việt. Việc trồng lúa thuận theo tự nhiên chứ không có kỹ thuật dọn ruộng, cày ải, gieo sạ theo thứ tự (bấy giờ là thời "Giao Châu", cuối thời Đông Hán) đă được Nhâm Diên canh cải : " Diên mới dạy dân khai khẩn ruộng đất, hàng năm cày trồng, trăm họ no đủ... ". Rồi Diên cũng bày cho dân Việt cách cưới hỏi phải có sính lễ. " Dân nghèo không có sính lễ th́ Diên bảo các trưởng lại trở xuống bớt bổng lộc để giúp đỡ..." (ĐVSKTT, Q. 1, sđd, tr. 108). Như thế, tục cưới hỏi có sính lễ, lạy gia tiên, đón dâu.. v.. v.. cũng đều từ Trung Hoa đưa qua. Phan Kế Bính khi t́m hiểu tục cưới xin của dân ta đă nhận xét: " Tục cưới của ta, cũng là noi theo tục Tàu. Tàu có sáu lễ : nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp tệ, thỉnh kỳ, thân nghênh " (sđd, tr. 63).

 

 Đi theo chính sách đồng hóa của phương Bắc và sự du nhập những lễ nghi, đạo nghĩa suốt gần hai ngàn năm như tục lệ hiếu đạo, đạo phu thê, tế tự... Tục hiếu kính với tổ tiên và nhất là cha mẹ là một tục lệ giúp con người sống có ḷng hiếu thảo với đấng sinh thành. Chẳng hạn trong chương đầu có tên " Khai tông minh nghĩa 開宗明義章" của Hiếu Kinh 孝經, Khổng Tử khi nói với đồ đệ là Tăng Tử đă cho rằng : "Đạo hiếu kính với cha mẹ là gốc rễ của đạo đức con người do việc giáo dục mà sinh ra"( Phù hiếu, đức chi bổn dă, giáo chi sở do sinh dă 夫孝, 德之本也教之所由生也 ). Hiếu Kinh được soạn vào khoảng thời nhà Tần và nhà Hán trích lại lời của Khổng Tử về đạo làm con, đạo làm tôi, việc tang chế.. v. v... đă từng đề cập trong Tứ Thư, Ngũ Kinh. Những sách vở như thế đă mang đến nước ta rất nhiều tập tục theo lễ nghi của Trung Hoa xưa.

 

 Việc tang ma khi có người thân mất đi cũng phải có những lễ nghi thích hợp để tỏ ḷng hiếu kính, tôn trọng người đă mất. Từ việc chuẩn bị cho người mới mất để khâm liệm rồi phát tang, mặc tang phục theo qui định theo thứ bậc cho đến việc đưa đám (phát dẫn), hạ huyệt, mở cửa mă, bốn mươi chín ngày (chung thất).. v.. v... chưa kể đến nhiều lễ nghi rườm rà khác nữa đều là sản phẩm của Trung Hoa. Càng về sau, những nghi thức không cần thiết và nhất là ảnh hưởng chuyện làm ăn sinh sống được nhiều người Việt ngày nay bỏ bớt nhưng không phải bỏ hết ! Thành ra, các chuyện cưới hỏi, ma chay, cúng cấp.. v.. v.. nguyên khởi đều du nhập từ Trung Hoa cả !

 

 Cách ăn mặc, phục sức của dân ta trước đây đều vay mượn theo lối của người Trung Hoa. Thời kỳ c̣n sơ khai, câu chuyện Chử Đồng Tử cho thấy người đàn ông xưa thường đóng khố, đàn bà mặc váy. Khi bị Bắc thuộc, chính sách đồng hóa của phương Bắc đem văn hóa của họ vào nước ta trong đó có việc ăn mặc khiến dân Việt dần dần cũng ăn mặc như họ. Triều phục vua quan hay c̣n gọi là phẩm phục đều giống kiểu như của Trung Hoa nhưng đơn giản hơn ! Thời quân Minh xâm lăng nước ta (1414-1427), bọn Hoàng Phúc đẩy mạnh việc đồng hóa khi bắt đàn ông, đàn bà không được cắt tóc phải để dài buộc lại, lại cấm đàn bà mặc váy như xưa kia và mặc áo ngắn, quần có ống chân kiểu Trung Hoa thời Minh. Nhưng khi Lê Lợi dẹp tan quân Minh, đất nước đă tạm yên ổn, các vua sau như Lê Thần Tông(1653) và Lê Huyền Tông(1665) lại bắt đàn bà mặc váy như trước cốt giữ sự độc lập tự chủ của phương Nam. Đây chỉ nêu ra vài điểm nhỏ chứ xét rộng ra, phong tục nước ta, đặc biệt phần có liên quan lễ nghi hầu như nhiễm phong cách Trung Hoa cả !

 

 Thêm vào đó, trong cuộc sống hằng ngày, nhiều phong tục gia đ́nh, xă hội cũng được phương Bắc mang sang nước ta. Chẳng hạn, ngoài tục tôn kính tổ tiên, hiếu thảo với cha mẹ, c̣n có những phong tục gia đ́nh khác như đạo làm vợ phải "tam ṭng, tứ đức三從  四徳 " nghĩa là " Vị giá ṭng phụ, kí giá ṭng phu, phu tử ṭng tử” 未嫁從父, 既嫁從夫, 夫死從子" (khi chưa lấy chồng th́ theo cha mẹ, lấy chồng rồi th́ theo chồng, chồng chết th́ theo con cái ); c̣n Tứ đức mà người phụ nữ cần có là : công, dung, ngôn, hạnh (biết chăm chỉ làm việc, lo lắng cho gia đ́nh ; con người phải ḥa nhă, dáng vẻ gọn gàng ;nói năng dịu dàng và tính hạnh nhu ḿ yêu chồng, thương con, đối xử bậc trên hay anh em trong nhà đúng mực.... ). Những đức tính trang bị cho phụ nữ Việt bấy lâu là nhập từ Trung Hoa ! Rồi đạo vua tôi, thầy tṛ.. v.. v.. đều mang dấu ấn của lễ giáo và phong tục của Hoa tộc ! 

 

 Có một điều đáng lưu ư là các dịp Tết cổ truyền, người Hoa hay người Việt vẫn thường đốt vàng mă, tiền giấy hay h́nh nhân gấp nhiều lần các dịp cúng tổ tiên, ông bà hay các lễ hội khác. Tục đốt tiền giấy, vàng mă đă có từ thời Chu Vũ Vương bên Trung Hoa (1122 TTL). Tương tuyền Chu Vũ Vương là một vị vua nhân đức và thương dân nên khi chết đi được trời cho sống lại v́ chưa tới số ! Nhà vua đă đến cơi âm nên thấy nhiều vong linh rất thiếu thốn nên khuyên dân chúng nên cúng vàng mă cho người đă khuất để họ có tiền bạc và đồ dùng trong thế giới bên kia ! Cho nên, tục cúng và đốt vàng mă là của người Hoa trong các lễ lạc nhất là dịp Tết chứ chẳng phải truyền thống của tổ tiên người VIệt !

 

 Tục đốt vàng mă rầm rộ ngày Vu Lan cũng không phải là của đạo Phật ! Theo cố Ḥa thượng Thích Tố Liên (1903-1977, người có nhiều công lao trong phong trào chấn hưng Phật giáo ) đă giải thích như sau : thời vua Đạt Tôn nhà Đường (762), Phật giáo Trung Hoa rất thịnh nên sư Đạo Tăng tâu vua cho phép đốt vàng mă trong mùa Vu Lan rằm tháng bảy là lễ hội của Phật giáo, nhằm cúng dường vật phẩm bằng giấy như các đồ dùng, tiền bạc.. v.. v.. cho vong hồn người chết có dùng. Như thế, tục đốt vàng mă trong dịp Tết và các lễ hội đều có nguồn gốc bên phương Bắc cả ! ( theo: hophap.net )

 

 2/ Cùng với những nét chính về phong tục tập quán của nước ta chịu ảnh hưởng từ phương Bắc, nhiều lễ hội quan trọng mà dân Việt tổ chức hằng năm cũng có nguồn gốc từ Trung Hoa. Người Hoa khi sang Lĩnh Nam, ngoài biết bao phong tục, họ c̣n mang sang nhiều h́nh thức lễ hội và lâu ngày đă trở thành thói quen trong đời sống văn hóa của người Việt nên nhiều người cứ lầm tưởng nước ta có những phong tục như thế truyền lại từ xa xưa! Chúng ta có thể nêu lên vài lễ hội có nguồn gốc Trung Hoa và rất quen thuộc với đa số người Việt chúng ta :

 

 2. 1- Đầu tiên phải nói đến Tết Nguyên Đán. Chữ TẾT là cách đọc theo âm tiếng Việt từ chữ Tiết  của người Hoa có nghĩa là thời tiết, tiết trời, đốt, lóng... Ở đây đi với Nguyên Đán元旦 nghĩa là ngày đầu tiên của một giai đoạn, ngày đầu của một năm, ngày đầu một mùa mới của tiết xuân (xuân tiết 春節 ). Theo các sách Trung Hoa như Từ Hải, lịch Trung Hoa ra đời từ trước năm 3000 TCN nghĩa là trước thời Hồng Bàng (sách ĐVSKTT, Q1, tr. 27 ghi lại khoảng năm Nhâm Tuất 2879 TCN). Người Việt trước thời Hồng Bàng có lẽ đă ăn Tết Nguyên Đán theo lịch Trung Hoa từ lâu ! Nhưng để trở thành một lễ hội chính yếu cho cả một dân tộc, những viên quan thời Bắc thuộc như Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp.. v.. v.. đă là những người biến nó thành phong tục qua việc đồng hóa, cho tổ chức cúng kiến, vui chơi các "sản phẩm" văn hóa như thế đều đặn hằng năm thành ra phong tục cổ truyền ! Những chi tiết về các nghi thức cho ngày Tết có lẽ ai cũng biết đại thể nhưng có một điều từ khi thực dân Pháp sang nước ta với những lễ hội theo truyền thống Tây phương cũng làm giảm đi sự trọng vọng về ngày Tết cổ truyền. Càng về sau có lẽ do cuộc sống bận rộn hơn nên ba ngày Tết của phần lớn người Việt có mức sống trung b́nh được tổ chức đơn giản hơn nhưng vẫn giữ được sự trang nghiêm! 

 

 2. 2- Tết Đoan Ngọ thường tổ chức buổi trưa ngày mồng năm tháng năm âm lịch. Với người Trung Hoa, Tết Đoan Ngọ 端午, hay c̣n gọi là Tết Đoan Dương 端阳 là Tết truyền thống lớn thứ hai sau Tết Nguyên Đán có hai ư nghĩa chính :

 a -Tết Đoan Ngọ nhằm kỷ niệm ngày mất của Khuất Nguyên 屈原 là một trung thần nước Sở v́ can vua không nên qua Tần nên bị bọn thủ cựu ghét ghen dèm pha rồi bị đi đày.

Khi đến sông Mịch La (Hà Nam/TH) ông nghe vua Sở chết bên Tần nên phẩn uất nhảy xuống sông Mịch La tự vẫn. Dân nước Sở và sau này người Trung Hoa lấy ngày này để tưởng nhớ một vị trung thần khẳng khái của họ nhưng người Việt lại "ăn theo " chẳng kể ǵ đến nguồn gốc lễ hội này !

 b - Tháng năm là tháng nóng nên sinh ra dịch bệnh, người Trung Hoa thường dùng lá ngải cứu hoặc thạch xương bồ treo trước nhà để xua đuổi dịch bệnh. Ngày này bên Trung Hoa có tục lệ lên núi hái cây thuốc về chữa bệnh.

 

 Cả hai ư nghĩa của Tết Đoan Ngọ được giải thích theo cách của người phương Bắc. Bên nước ta rất nhiều người ngày nay không chú ư đến nguồn gốc, thường lấy cách giải thích ư nghĩa thứ hai để gán ghép cho Tết Đoan Ngọ hầu cố t́nh giữ lại loại Tết lai căng này !. Tết Đoan Ngọ cũng chỉ là một "sản phẩm văn hóa " được truyền vào đất Việt từ những thời trước Hồng Bàng và được tổ chức thường xuyên trong suốt một ngàn năm Bắc thuộc do tác động của công cuộc đồng hóa của quan lại Trung Hoa. Thời tự chủ, các triều đ́nh vẫn giữ lại truyền thống lễ này nên nhiều người Việt cứ ngỡ là của cha ông ḿnh làm ra !

 

 2. 3 - Một lễ hội lớn nữa là Tết Trung Thu ( Trung thu tiết 中秋節 ) cũng được du nhập vào nước ta suốt gần hai ngàn năm nay. Theo nhiều sách, vua Đường Minh Hoàng 唐明  tức Đường Huyền Tông唐玄宗 (685-762) thời nhà Đường là một người yêu chuộng văn chương, nghệ thuật đă cho tổ chức lễ hội Trung Thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch sau khi nông dân thu hoạch vụ mùa xong để có dịp cả nước nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, Cũng có truyền thuyết nói rằng sau loạn An Lộc Sơn, Dương Quư Phi bị ba quân buộc thắt lụa tự vẫn nên Đường Minh Hoàng thường hay uống rượu ngắm trăng để tưởng nhớ Dương Quư Phi và chọn rằm tháng tám làm lễ hội Trung Thu.... Chắc chắn nguồn gốc Trung Thu là của người Trung Hoa. Nó là một lễ hội đầy thi vị giúp cho cuộc sống có hương sắc hơn.

 

 Hai lễ hội như Tết Nguyên Đán và Trung Thu có thể xem là hai lễ hội chính dù là du nhập từ phương Bắc nhưng cũng trở thành phong tục quen thuộc của người Việt. Ngoài ra những lễ hội như Tết Nguyên Tiêu, Tết Thanh Minh, Tết Hàn Thực, Tết Trùng Cửu... chỉ những gia đ́nh c̣n giữ gốc gác Hoa tộc hoặc Hoa kiều mới tổ chức chứ người Việt chúng ta hầu như không quan tâm các lễ hội này. Riêng Tết Đoan Ngọ chẳng dính dáng ǵ đến người Việt nên t́m cách bỏ đi v́ lai căng và không cần cho đời sống văn hóa Việt ! Khi tiếp xúc với văn hóa Tây phương, ngày lễ Noël của họ cũng trở thành một dịp lễ quen thuộc với dân ta gần hai thế kỷ nay và đó cũng là lễ hội quốc tế. Dĩ nhiên, các địa phương khắp cả nước đều có những lễ hội riêng biệt của địa phương đó nhưng vẫn mang màu sắc dân tộc nhất là các lễ hội phía bắc nước ta đă có từ xa xưa.

 

 Cho nên, biết bao phong tục và lễ hội chịu ảnh hưởng của Hoa tộc đă thành thói quen lâu ngày của dân ta. Những tục cưới xin với các lễ nghi chính yếu nên giữ lại nhưng tránh bày vẽ nhiều lễ tục không cần thiết. Những sự hiếu kính với tổ tiên, cha mẹ.... là nét đẹp của t́nh người là phong tục cần thiết cho cuộc sống. Các tôn giáo Đông phương cũng thường khuyên bảo con người sống phải biết hiếu thuận chứ không riêng người Trung Hoa. Các lễ hội chính yếu có giá trị tinh thần như Tết Nguyên Đán không phải "của riêng" dành cho Hoa tộc mà của nhiều dân tộc khác nữa v́ nó có từ mấy ngàn năm nay rồi. Tết Trung Thu cũng thế, dẫu là của Hoa tộc nhưng cũng đem lại cho trẻ thơ và nhiều người lớn những niềm vui nhẹ nhàng..... Sự chọn lựa cũng tùy thuộc nó có cần thiết cho cuộc sống thực tế hay không mà thôi.

 

 Dân tộc ta tuy chấp nhận học hỏi nhiều tục lệ tốt đẹp như thế của phương Bắc nhưng ư thức giữ ǵn nền tự chủ cho đất nước rất mạnh mẽ nên không dễ dàng bị Hán hóa. Truyền thống giữ ǵn tiếng nói của tộc Việt từ xưa vẫn tiếp nối dẫu khi đất nước bị phương Bắc xâm lược cả ngàn năm đă giúp cho nước Việt vẫn tồn tại ! Việc giao tiếp với quan lại cai trị có thể phải dùng chữ Hán nhưng sinh hoạt trong nước vẫn giữ được tiếng Việt nên "thói quen" này giúp dân Việt không bị đồng hóa như nhiều bộ tộc khác khi phải sống chung với Hoa tộc. Phong tục tập quán hay lễ hội nào của phương Bắc giúp cho đời sống tinh thần xă hội bao lâu nay được tốt đẹp cũng nên gạn lọc cho gọn nhẹ và duy tŕ. Đồng thời nên bỏ đi những phong tục hay lễ hội nào đậm đà màu sắc Trung Hoa và chỉ phù hợp với Hoa tộc không liên quan ǵ với Việt tộc. Đó là một công việc do những người cầm cương, cầm chịch cần phải lưu tâm kẻo sự Hán hóa sẽ âm thầm đánh mất bản sắc dân tộc, đưa đến t́nh trạng vong bản quên đi nguồn gốc của tiên tổ ! 

 

 

 CHÚ THÍCH :

 

(1) Lĩnh Nam 嶺南 : tên gọi thời xưa để chỉ vùng đất phía nam núi Ngũ Lĩnh 五嶺 bên Trung Hoa bao gồm vùng Hoa Nam và vùng đất Giao Chỉ của tộc Âu Lạc, tổ tiên của Việt tộc. Sau này các sử gia dùng để chỉ vùng đất của Văn Lang xưa trong đó có nhiều vùng bị Trung Hoa xâm lấn.

(2) Chu Công 周公 (1043 TCN-?), tên thật là Cơ Đán 姬旦, c̣n gọi là Thúc Đán 叔旦, Chu Đán 週旦hay Chu Văn Công周文公. Ông có công giúp Chu Vũ Vương Cơ Phát lập ra nhà Chu bên Trung Hoa, sau khi dẹp tan vua Trụ nhà Thương tàn ác, mất ḷng dân. Khi Chu Vũ Vương chết, Cơ Đán lại giúp tân vương là Chu Thành Vương xây dựng và phát triển nhà Chu. Nhà Chu là nhà nước mẫu mực của nền văn minh Trung Hoa. Tên ông được gọi tôn kính là Chu Công (công : ông, cụ, tước công lớn nhất trong các tước vua ban là công, hầu, bá, tử, nam ). Khổng Tử rất tôn sùng những định chế của do Chu Công kiến tạo cho hai vị vua đầu tiên của nhà Chu (Ngô ṭng Chu) về sau sẽ là mẫu mực cho các triều đ́nh Hoa tộc.

(3) VNPT, Phan Kế Bính tr. 273-277.

(4) Nội dung các bài thi của Khoa thi cuối cùng (1919) :

 - Kỳ 1: 5 bài văn sách : Kinh, truyện, thời sự, Nam sử, sử Thái Tây(sử Tây phương)

 - Kỳ 2 : Chiếu, biểu, công văn

 - Kỳ 3 : 2 bài toán +1 bài luận quốc ngữ đặt thành câu hỏi

 -Kỳ 4 : gồm 3 bài : 1 bài văn quốc ngữ dịch ra tiếng Pháp cộng 1 bài chữ Pháp dịch ra chữ Hán

            1 bài luận chữ Pháp.

 Xem thêm : Nguyễn Thị Chân Quỳnh, Khoa cử Việt Nam :THI HỘI, THI Đ̀NH (http://chimviet. free. fr/vanhoc/chquynh/thihoi/ Ph2%20Ch1%20%20DINH%20KY. htm)

(5) Henri Courdon, nguyên Giám đốc Nha Học chính Đông Dương Nha Học Chính Đông Pháp (Directeur de l’Instruction Publique de l’Indochine) và Đại Học Bordeaux Pháp (sách dịch đề là giáo viên Henri Courdon là dịch sai hoàn toàn nguyên nghĩa chữ professeur (Giáo sư) của nguyên tác và cố ư hạ thấp rồi " cào bằng" tŕnh độ của vị này thành giáo viên tiểu học cho b́nh đẳng như nhau ! Làm giám đốc Nha học chính và dạy đại học Bordeaux phải là hàng Giáo sư chứ không thể là giáo viên ! [ professeur d'école primaire : giáo viên tiểu học, theo cách gọi của người Pháp ])

 

  TÀI LIỆU THAM KHẢO (Tiếp theo) :

 

30/ Peter Navarro và Greg Autry, Chết Bởi Trung Quốc, Đối đầu với con rồng. Lời kêu gọi thế giới hành động (Death by China, Confronting the dragon. A global call to action). Nhóm dịch thuật cựu học sinh AIT, NXB First News VN, 2016 (Bảng PDF trên Google)

31/ Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam Cổ Văn Học Sử, NXB Trẻ VN (không nêu rơ in tại địa phương nào) 1993 (theo bản in 1942, NXB Hàn Thuyên).

32/ Phan Kế Bính, Việt Nam Phong Tục, NXB Văn Học, Hà Nội 2017 (theo bản in 1915)

33/ Nhất Thanh, Đất Lề Quê Thói, NXB Văn Học, Hà nội, 2017 (theo bản in 1970, NXB Đường Sáng Saigon)

34/ Lê Quư Đôn, Kiến Văn Tiểu Lục, Q. 1 & Q. 2, (Phạm Trọng Điểm dịch), NXB trẻ & NXB Hồng Bàng, Saigon 2013, 2012.

35/ Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam Chích Quái (Vũ Quỳnh & Kiều Phú nhuận chính, Đinh Gia Khánh & Nguyễn Ngọc San phiên dịch), NXB Trẻ & NXB Hồng Bàng, Tb lần 2, Saigon 2016.
36/ Nguyễn Ngọc Huy, Quốc triều h́nh luật (Phiên âm, dịch nghĩa và chú thích), quyển A, Viet Publisher, in tại Hoa Kỳ, 1989.

 

 

 

 

 

 

DƯƠNG ANH SƠN
Sài G̣n, tháng 05/2019

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com