trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trải" (dịch và chú giải 2009)


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

  

 

 

NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG HOA ĐỐI VỚI

 TINH THẦN TỰ CHỦ CỦA ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM

 
Dương Anh Sơn
 


 

 

PHẦN 6:

 

   Trong những phần trên đây, chúng ta đă điểm qua những nét chính trong chính sách đồng hóa của thế lực phương bắc đối với dân tộc ta qua những chặng đường lịch sử từ khi h́nh thành đất nước cho đến thế kỷ 14-15, từ thời Bắc thuộc cho đến khi đất nước bước sang thời tự chủ và đến thời kỳ giặc Minh xâm chiếm nước ta. Chúng ta bỏ qua thời kỳ xâm lược của quân Nguyên Mông v́ thời nhà Trần là thời đại mà tinh thần giữ ǵn nền tự chủ đất nước rất mạnh mẽ thể hiện ở quyết tâm cao độ trong việc bảo vệ đất nước của vua tôi nhà Trần trước gót chân xâm lược của quân Mông Cổ mà nhiều sử gia ví von rằng "quân Mông Cổ đi đến đâu cỏ không mọc nổi tới đó ". Đó là một đế quốc hùng cường với đoàn quân thiện chiến đă chinh phục từ đông sang tây, mạnh gấp cả trăm lần binh đội nhà Trần nhưng đă thất bại trong kế hoạch xâm lược nước ta. Những thời kỳ Bắc thuộc trước đó với các triều đại Trung Hoa đă có những ảnh hưởng tác động lên những khía cạnh như tôn giáo, văn hóa giáo dục, phong tục tập quán, kinh tế chính trị.. v...v...kéo dài suốt trên hai ngàn năm nay. Mặt khác, chúng ta cũng nên nh́n nhận rằng dân tộc Việt trước và trong khi bị Bắc thuộc không thể nào tránh khỏi sự giao thoa, trộn lẫn qua lại về mặt chủng tộc và dẫn đến việc chịu ảnh hưởng nhiều phương diện. Tác giả Lương Đức Thiệp cùng thời với các học giả nổi tiếng như Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim...v.. v.. đă nhận xét : " Thật vậy, suốt qua lịch sử, bao nhiêu cơ hội đă dồn dập, dân tộc Hán và dân tộc Việt Nam phá bỏ biên cương để cùng giao ḥa ḍng máu. Cuộc va chạm về chính trị khi ôn ḥa, khi dữ dội trải bao thế kỷ đô hộ và giao thông cùng tinh thần chủng tộc vẫn không ngăn được sự pha trộn liên miên giữa hai ḍng máu chính.... " (XHVN, sđd tr. 17)). Cùng một ư kiến như thế, sử gia Trần Trọng Kim đă nhận xét : "Dẫu người ḿnh thuộc về chủng loại nào mặc ḷng, về sau người Tàu sang cai trị hàng hơn một ngàn năm, lại có khi đem sang nước ta hơn bốn mươi vạn binh, chắc là ṇi giống cũ của ḿnh cũng đă lai đi nhiều rồi, mới thành ra người Việt Nam ngày nay " (VNSL, sđd, tr. 17). Sức mạnh đồng hóa của Hán tộc hay c̣n gọi là Hán hóa đă biến cải, ḥa trộn nhiều bộ tộc phía tây và tây bắc các thời trước và sau nhà Tần trở thành người Hán. Thế kỷ 16, 17 bộ tộc Măn Thanh xâm chiếm Trung Hoa nhưng rồi cũng bị sức mạnh đồng hóa của người Hán làm biến đổi hoàn toàn ! Vậy th́ đâu là bản sắc của con dân nước Việt được duy tŕ để thành h́nh một nước Việt Nam c̣n tồn tại ở một vùng trời Đông Nam Á bên cạnh một nước Trung Hoa to lớn luôn nuôi giấc mộng xâm lăng, thống trị thiên hạ ?! Chắc chắn là chính nhờ tinh thần yêu chuộng sự tự chủ, yêu chuộng sự độc lập cho nước Nam đă giúp cho tộc Việt và những con dân sinh sống trên vùng đất Lĩnh Nam hơn hai ngàn năm trước đây có được động lực để đứng lên chống lại bọn xâm lược Trung Hoa, Nguyên Mông... v..v... mấy ngàn năm nay và thực dân, đế quốc trong những thập niên của thế kỷ 19, 20 về sau. (1). Trong những chương tiếp theo của phần 6 này, chúng ta lần lượt t́m hiểu khái quát những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của đời sống văn hóa, chính trị Trung Hoa đă tác động như thế nào đối với đời sống tôn giáo, văn hóa giáo dục, phong tục tập quán, kinh tế chính trị.. v.. v.. của dân tộc ta từ xưa đến nay.

 

  Chương 1 : Khái quát những ảnh hưởng tôn giáo từ phương bắc.

 

  Trải qua hơn cả ngàn năm Bắc thuộc, mặc dầu có sự pha trộn về chủng tộc giữa người Việt cổ và người Hán cũng như các bộ tộc chung quanh nhưng bản sắc h́nh thành người dân Việt (nghĩa là những người sinh sống lâu dài và gắn bó với đất nước này bao gồm nhiều chủng tộc, trong đó tộc Việt chiếm phần lớn ! ) với tinh thần luôn mong muốn thoát khỏi ách cai trị của ngoại bang khiến cho chúng ta vẫn không bị đồng hóa. Nhưng trong các mối tương giao đă từng trải qua cả ngàn năm bị lệ thuộc phương bắc, những h́nh thức tôn giáo đầu tiên c̣n sơ khai mang h́nh thức tín ngưỡng dân gian cổ xưa như tin vào trời đất, thần quỷ, bói toán.. v...v...của người Việt đă biết thêm những h́nh thức tôn giáo mới như đạo Phật, Nho giáo, Lăo giáo.. v.. v.. du nhập vào nước ta.   Phật giáo là tôn giáo chính đă du nhập vào nước ta từ hơn hai ngàn năm nay, truyền bá những tôn chỉ và lời dạy của đức Thích Ca Mâu Ni đă có nhiều đóng góp cho sự h́nh thành đạo đức chính trị cho những triều đại tự chủ như nhà Đinh, nhà Tiền Lê, nhà Lư, nhà Trần......Xem xét những tài liệu của Phật giáo, chúng ta đă thấy đạo Phật đă được truyền bá theo nhiều con đường từ tây sang đông, từ Ấn Độ sang Trung Hoa và các vùng đất phía nam như Phù Nam, Miến Điện, Chân Lạp, Lào, Thái, Nhật Nam, Cửu Chân, Giao Chỉ lấy mốc điểm từ thời nhà Hán (trước và sau TL). Trung tâm Luy Lâu tức Long Biên (Hà Nội) ở Lĩnh Nam mà người Hán gọi là Giao Chỉ, Giao Châu có thể xem là một trung tâm có rất sớm quy tụ nhiều du tăng Ấn Độ sang truyền bá đạo Phật, cùng với người đồng hương của họ sang buôn bán (ĐVSKTT, q. 1 sđd, tr. 124). Nhiều sử liệu cho thấy đạo Phật truyền vào nước ta ban sơ là từ Ấn Độ qua trung tâm Luy Lâu (2). C̣n bên Trung Hoa, trung tâm Phật giáo ở Lạc Dương (nay thuộc Hà Nam) và Bành Thành (nay thuộc Giang Tô) được xem là hai cái nôi chính cho sự truyền bá đạo Phật vào Trung Hoa. Nhờ vị trí địa lư thuận tiện cho thuyền bè từ Ấn Độ sang nên các vùng đất Lĩnh Nam là nơi ghé chân của các du tăng cũng như các đoàn thương nhân trước khi đi lên phương bắc. Theo Cao Tăng Truyện (3), Khương Tăng Hội là một trong những tăng sĩ đầu tiên của Phật giáo Giao Châu. Ông là người có cha mẹ gốc gác bên Ấn Độ qua Giao Châu buôn bán và sinh ra ông. Do đó ông lớn lên ở nước ta rồi khi xuất gia ông dùng khả năng biết tiếng Phạn, tiếng Việt và tiếng Hán để dịch kinh tạng từ chữ Phạn sang tiếng Hán là ngôn ngữ chính dùng trong chùa chiền ở Giao Châu của người Việt. Cuốn Lục Độ Tập Kinh theo một số nghiên cứu (như Gs Nguyễn Lang, Gs Lê Mạnh Thát...v.. v..... ) do ông soạn khi c̣n ở Lĩnh Nam, trước khi sang Trung Hoa truyền đạo chắc chắn phải dùng chữ Hán. Cuốn Mâu Tử lư hoặc luận (những lư luận để làm rơ những mối nghi hoặc) của Mâu Tử và cuốn Đệ Tứ Thập Nhị Chương giảng giải phổ thông đạo Phật cũng được nhiều tác giả cho là ra đời tại vùng Lĩnh Nam nước ta (4). Cuốn sách quan trọng về các cao tăng Phật giáo Việt Nam là Thiền Uyển Tập Anh, theo Gs Lê Mạnh Thát, được viết vào khoảng 1228 thời nhà Trần (NCVTUTA, sđd. tr. 61) soạn bằng chữ Hán dù chữ Nôm đă thành h́nh và khá phổ biến với những tác phẩm văn Nôm của Nguyễn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố, Chu Văn An.. v.. v.. (xem PVD, VHVN, sđd, tr. 354, 355, 356). Gs Nguyễn Lang (tức Thiền sư Thích Nhất Hạnh) lại cho rằng nó được viết từ 1216 trở về trước (VNPGSL, sđd, tr. 99). Nhưng vấn đề chúng ta cần lưu ư là dầu cho Phật giáo vào Giao Châu trước tiên sau đó tiến lên phương bắc là Trung Hoa nhưng khi truyền bá trong phạm vi Lĩnh Nam với những kinh điển được sử dụng trong các chùa chiền ở Giao Châu đều dùng tiếng Hán và tiếng Phạn. Việc sử dụng tiếng Hán lại được đẩy mạnh trong các thời kỳ Bắc thuộc và trở thành ngôn ngữ chính trong khi phổ biến đạo Phật và giảng pháp. T́nh trạng này kéo dài măi từ các thời kỳ Bắc thuộc qua đến thời tự chủ và cho đến khi chữ Việt có nguồn gốc La tinh được các nhà truyền giáo Ki Tô soạn ra từ thế kỷ 17, 18 càng ngày càng hoàn thiện nhưng chữ Hán đến giờ vẫn c̣n được sử dụng khá thông dụng trong các chùa chiền, tự viện. Vả lại, cả ngàn năm bị lệ thuộc phương bắc biết bao sách vở, kinh kệ Phật giáo Trung Hoa đă được đưa vào nước ta. Thời nhà Lư, đạo Phật được tôn sùng, năm 1018, Lư Thái Tổ sai Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang Trung Hoa thỉnh kinh Tam Tạng về để nghiên cứu. Rồi năm 1081, lại cử Lương Dũng Luật sang Tống thỉnh kinh Đại tạng. Phật giáo đại thừa của Trung Hoa trở thành nền tảng của các hệ phái Phật giáo Việt Nam tuy có đường lối dân tộc hơn nhưng vẫn mang nhiều sắc thái ảnh hưởng của Trung Hoa trong việc học tập kinh sách và hành lễ. ! Ngoài lĩnh vực tôn giáo, việc sử dụng tiếng Hán trong giao tiếp hành chính, trong giáo dục, trong văn học nghệ thuật và trong việc truyền bá đạo Phật đă là một trong những nguyên nhân làm cho nước ta chịu ảnh hưởng sâu đậm và lâu dài từ nền văn hóa Trung Hoa.

 

  Tuy nhiên, Phật giáo là tôn giáo chính được truyền vào nước ta từ lâu, về sau đă giúp củng cố nền tự chủ dân tộc nhất là vào các triều nhà Lư, nhà Trần. Ngoài con đường truyền bá ở phía nam từ đường biển bên Ấn Độ qua, con đường truyền bá phía bắc mới thực sự làm cho Phật giáo phát triển trong suốt hơn mười lăm thế kỷ cho đến khi người Pháp bắt đầu sang xâm chiếm nước ta làm thuộc địa. Nh́n chung những tác phẩm quan trọng của Phật giáo nước ta như Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Lư Hoặc Luận...v.. v.. được nhiều giả thuyết cho rằng được biên soạn từ trung tâm Luy Lâu bằng chữ Hán, Thiền Uyển Tập Anh được soạn tại nước ta vào thời nhà Trần cũng bằng chữ Hán. Cho nên, nếu chúng ta đi từ bắc chí nam, những chùa đ́nh lâu đời phía bắc, những chùa đ́nh phát triển về sau ở phía nam chữ Hán vẫn là nền tảng trong tất cả kinh kệ, chạm khắc câu đối, kinh kệ.... Trừ các nhà Nho, các sư tăng đă học chữ Hán từ nhỏ, không phải ai cũng rành rẻ tiếng Hán để nghiên cứu, đọc hiểu kinh kệ hay các câu đối khắp các chùa chiền. Ngay cả các thành quách như di tích hoàng thành hay Văn miếu Thăng Long, Hà Nội, hoàng thành và các lăng tẩm danh tiếng về sau ở Huế cũng sử dụng chữ Hán để ghi khắc. Nền tảng căn bản để nghiên cứu Phật học Việt Nam trải qua một chặng đường dài dựa trên chữ Hán theo những h́nh thức của Phật giáo bên Trung Hoa. Sự thâm nhập, vay mượn những tinh hoa của đạo Phật Trung Hoa thông qua việc t́m hiểu bằng chữ Hán là điều cần thiết để học hỏi, nghiên cứu. Nhưng khi quá lệ thuộc vào chữ Hán cũng như rập khuôn những điều dạy bảo từ Hán tạng hoặc nghi lễ Phật giáo Trung Hoa sẽ làm mất đi những độc đáo của đạo Phật của người Việt. May mắn cho đạo Phật nước ta vào những thời kỳ tự chủ vững vàng như thời nhà Lư và nhà Trần, Phật giáo tuy vẫn chịu ảnh hưởng nhiều từ Trung Hoa nhất là phần kinh tạng nhưng đă có con đường đi riêng gắn liền với vận mạng dân tộc. Đạo Phật đă dung hợp được với Nho giáo và Lăo giáo cũng được du nhập và đang phát triển trong nước (xem VNPGSL, sđd, tr. 199, 211, 259). Trúc Lâm Yên Tử là hệ phái có nguồn gốc từ phái Trúc Lâm bên Trung Hoa nhưng khi ra đời vào đầu thế kỷ 13 do thiền sư Hiện Quang xây dựng ở chùa Hoa Yên, vùng núi Yên Tử (nằm giáp ranh hai tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh) vẫn tiếp nối truyền thống thiền của các cao tổ đi trước như Vô Ngôn Thông, Thường Chiếu.. v.. v.. nhưng nó đă cho chúng ta nhận thấy dấu ấn sự kết hợp song suốt giữa đạo và đời, giữa đạo Phật và dân tộc. Thiền Tông Chỉ Nam của vua Trần Thái Tông (1218-1277, xuất gia từ Trúc Lâm Yên Tử) là cuốn sách cho thấy đạo Phật thời Trần khác xa với đạo Phật du nhập từ Trung Hoa. Quốc sư Trúc Lâm luôn đề cao tinh thần nhập thế của đạo Phật: ngài từng nhắc nhở vua Trần Thái Tông khi ông có ư định bỏ ngôi để lên Yên Tử tu học :" Đă làm vua th́ không c̣n có thể theo ư thích của ḿnh được nữa, phải lấy ḷng dân làm ḷng của ḿnh..."(VNPGSL, sđd, tr229). Chính nhờ thế, Trần Thái Tông đă cùng toàn dân lo đối phó với giặc Mông Cổ, nhưng khi rảnh rỗi vẫn để tâm nghiên cứu kinh điển nhà Phật. Đó là một đạo Phật giàu chất sống, đặt sự tồn vong của dân tộc lên hàng đầu v́ nếu nước nhà bị xâm lược, Phật giáo cũng bị tiêu vong ! Cho nên, một triều đại tự chủ sẽ có tôn giáo phát sinh từ tinh thần tự chủ ấy. Phật giáo đời Trần từng bước đi theo con đường của dân tộc nhất là khi bị giặc Nguyên Mông đe dọa vận mệnh đất nước. Đạo Phật thời Trần quả là rất giàu sức sống để h́nh thành một đạo Phật đậm chất dân tộc, thoát khỏi một phần nào ảnh hưởng đạo Phật từ Trung Hoa truyền sang, thông qua kinh sách bằng chữ Hán và đóng góp tích cực cho việc giữ ǵn sự tự chủ của đất nước. Một trong những đặc điểm mà chúng ta cần lưu ư khi t́m hiểu về sự phát triển của đạo Phật Việt Nam từ khởi thủy đến nay. Từ sự du nhập đạo Phật vào Giao Châu cho đến những thời kỳ đất nước tự chủ, Phật giáo lúc ban sơ tuy có sự giúp đỡ của triều đ́nh như thời nhà Đinh, Tiền Lê, nhà Trần hay nhà Lư nhưng các triều đ́nh này chưa bao giờ xem Phật giáo như là một tôn giáo phải trói buộc vào triều đ́nh. Vua Đinh Tiên Hoàng phong cho sư Ngô Chân Lưu làm tăng thống (971)chỉ để có người đức độ, tinh thông kinh điển đứng đầu coi sóc Phật giáo đang càng ngày càng phát triển. Chức vụ đó là để điều hành Phật giáo chứ triều đ́nh không can thiệp, nhất là chi phối, kiểm soát việc hành đạo của chư tăng. Chức Quốc sư hay Tăng thống để chỉ người lănh đạo tinh thần cao nhất của Phật giáo, là người làm thầy cho triều đ́nh và dân chúng ! Triều đ́nh tôn trọng đức hạnh và sở học về đạo pháp của các sư tăng trong việc cố vấn các vấn đề lớn nhỏ của đất nước. Cho nên, sư Vạn Hạnh khi nhận thấy triều đ́nh nhà Lê suy thoái, ngoại bang ḍm ngó đă đề xuất việc đưa Lư Công Uẩn lên ngôi và dời kinh đô ra thành Đại La, sau đổi tên là Thăng Long. Triều đ́nh thời nhà Lư giúp đỡ Phật giáo phát triển nhưng ít nhiều cũng làm tốn hao công quỹ và sức lực dân chúng nhất là khi Lư Thái Tổ cho xây dựng nhiều cung điện và chùa chiền ở Thăng Long (xem lời bàn của Lê Văn Hưu, ĐVSKTT, sđd, q. 1, tr. 260-261). Nhưng khi nhận thấy những tệ trạng trong giới sư tăng, vua Lư Cao tông đă cho khảo hạch đức độ và sự tu học của họ. Phật giáo bấy giờ là quốc giáo, các vua cũng theo đuổi nghiên cứu đạo Phật nên không thể để đạo Phật suy thoái và có nhiều kẻ lợi dụng thiền môn để làm những điều rối đạo ! Sự chấn chỉnh như thế rất cần thiết để hỗ trợ cho đạo pháp được tốt đẹp. Sau thời Ngô Quyền dựng nên thời đại tự chủ (936), các triều đ́nh tiếp theo đă cùng với các nhà sư ưu tú đă xây dựng một đạo Phật chân chính gắn bó với dân tộc và đất nước. Tinh thần tự chủ cũng là con đường giúp cho việc mở mang đạo Phật theo đúng tinh thần và lời dạy của đức Thích Ca xưa kia luôn đề cao tinh thần tự ḿnh giác ngộ chân lư ! Các quốc sư như sư Khuông Việt (Ngô Chân Lưu, 971), sư Vạn Hạnh, sư Không Lộ, sư Thông Biện, sư Viên Chiếu, quốc sư Trúc Lâm.. v.. v...luôn luôn được trao đổi ư kiến với các vua cầm quyền khi giải quyết những vấn đề lớn của đất nước trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Các bậc chân sư như Ngô Chân Lưu (971), Huyền Quang tôn giả (1254-1334), Pháp Loa (1284-1330), cư sĩ Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trúc Lâm Đầu Đà (tăng hiệu của vua Trần Nhân Tông khi xuất gia năm 1299).. v.. v.. là những tên tuổi làm rạng rỡ đạo Phật Việt Nam. Một vị vua từng dẫn dắt đất nước chiến thắng quân Nguyên Mông như Trần Thái Tông chọn con đường xuất gia sau khi hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ đất nước là một hiện tượng cho thấy Phật giáo không xa rời với đất nước và dân tộc ! Phật giáo trước đây chưa bao giờ bị một thế lực cầm quyền độc đoán nào cưỡng ép đưa vào khuôn phép một cách trái đạo lư của họ nhờ vào tinh thần tôn trọng sự tự do và đức độ của các bậc tôn sư chân chính. Thời đại mạt pháp ngày nay bên cạnh những cao tăng đức độ sống ẩn thân, nhiều kẻ cũng cạo đầu giả tu làm cho tan nát, băng hoại các nền tảng đạo lư lâu đời của nhà Phật. Họ cũng mặc áo vàng, áo nâu, cũng kinh kệ, giảng pháp, xây chùa đúc tượng cho to lớn nhưng với tâm ma, chước quỷ đă làm cho chốn thiền môn thời nay nhiều nơi chỉ c̣n là chốn buôn thần bán Phật, làm nhiều điều tà ngụy, mê tín dị đoan chẳng ra sao! Những kẻ tà ngụy đội lốt này cùng nhau phá cho tan nát tâm huyết của biết bao bậc tu hành trong suốt hai ngàn năm nay xây dựng một nền đạo pháp từng có nhiều giai đoạn tốt đẹp.

 

  Mặt khác, khi nh́n kỹ hơn việc sử dụng chữ Hán mà từ trước thời Hồng Bàng vẫn gọi là chữ Nho không phải độc quyền của người Hán tộc ! Những nhận xét của Gs Kim Định đă được đề cập ở các phần trên cũng đáng lưu ư khi ông cho rằng :1/ Viêm Hoa (c. thích: người Việt ở vùng Lĩnh Nam và người Hoa) cùng phát xuất từ một gốc văn hóa. 2/ Viêm tộc mượn văn hóa của Hoa tộc. 3/ Hoa tộc mượn văn hóa của Việt tộc (VLTN, sđd tr. 78). Khi tổ tiên người Viêm Việt chúng ta sống chung với các bộ tộc người Hoa ở trung nguyên và dọc theo sông Dương Tử đă có một sự qua lại về chủng tộc, về văn hóa trong đó có Nho học. Nho học là lối học dựa trên chữ tượng h́nh có từ xa xưa không phải riêng của Hán tộc mà của nhiều dân tộc sống gần gũi qua lại với nhau của vùng trung nguyên xưa trước. Sau này bộ tộc Hán chiếm lĩnh nhiều vùng trung nguyên đẩy các bộ tộc Việt xuôi về phía nam và chiếm lấy những trước tác của Nho học xưng là di sản của Hoa tộc và gọi là Hán học. Cho nên, khi xét đến cội nguồn chúng ta đều thấy rơ v́ sao Nho học hay c̣n gọi là Hán học có một vị trí sâu đậm trong văn hóa Việt do được truyền bá từ các thời đại nhà Tần, nhà Đông Hán, Tây Hán.. v.. v.. xâm lược nước ta. Các triều đại xâm lược đẩy mạnh việc dùng Hán học v́ nó thuận lợi cho việc đô hộ của họ mà thôi. Chính v́ thế, chúng ta khi đề cập đến chữ Hán và ảnh hưởng của nó đối với văn hóa nước Việt xin được nhắc lại nhận xét của Gs Kim Định :".. và bởi vậy, dẫu chống đế quốc Tàu mà không bao giờ ruồng bỏ Nho là v́ tiềm thức nh́n thấy Nho là của ḿnh. Cho nên chính Nho giáo mới là căn bổn của nền quốc học Việt Nam và nhổ Nho đi tức cũng là nhổ gốc rễ của ḿnh, là bỏ mất những huyết quản tiếp sức sống cho ḿnh " (VLTN, sđd, tr. 157). Cũng lập luận như thế, sự phát triển của Phật giáo ở một giai đoạn nào đó phải cần đến chữ Nho (cùng chữ Phạn). Một khi chữ Việt ngày nay càng lúc càng hoàn chỉnh, càng lúc càng tiện dụng, vấn đề Việt hóa hoàn toàn kinh sách, các nghi lễ rất cần thiết để tạo sức sống mới cho đạo Phật để có thể gần gũi và dễ hiểu hơn cho người theo tôn giáo này. Với lại thời nhà Trần, chữ Nôm trong ư thức của các sĩ phu là bước đầu hướng đến sự tự chủ về mặt chữ viết nhưng khuyết điểm lớn của chữ Nôm là đ̣i hỏi phải nắm vững và am tường chữ Hán mới có thể viết được chữ Nôm. Hai bài thơ Nôm Cư Trần Lạc Đạo Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên) và Đắc Thú Lâm Tuyền Chứng Đạo Ca của Huyền Quang Tôn Giả trong chốn tu Phật đă cho thấy tinh thần tự chủ, muốn thoát ly sự lệ thuộc vào chữ Hán nhưng tư tưởng vẫn mang đậm tinh thần thiền và tư tưởng Lăo Trang của Phật giáo phía bắc ! ( xem thêm VNPGSL, sđd, tr 420).

  Nh́n chung tinh thần nhập thế và tinh thần tự chủ của đạo Phật thời Trần giúp một phần nào cho đất nước ở một giai đoạn đầy gian lao có thêm sức mạnh đối phó giặc ngoại xâm. Đồng thời, kinh sách chữ Hán hay cả chữ Phạn vẫn là những tư liệu cần thiết để nghiên cứu đạo Phật và sẽ là con đường đi gần gũi dân tộc hơn nếu triệt để sử dụng Việt ngữ hoàn chỉnh trong việc truyền bá đạo Phật để có thể phát triển gắn bó với dân tộc lâu dài. Tóm lại, vấn đề Việt hóa Phật giáo từ kinh điển cho đến các phương tiện truyền pháp như chùa chiền, nghi lễ.. v.. v.. chắc chắn sẽ giúp cho công cuộc chấn hưng đạo Phật gặt hái những thành quả tốt hơn !

 

  Mặt khác, bên cạnh đạo Phật phần lớn mang dấu ấn du nhập từ Phật giáo Trung Hoa, đạo Nho, đạo Lăo từ thời Bắc thuộc cũng đă truyền vào nước ta và có những đóng góp nhất định trong việc xây dựng các triều đại tự chủ. Nếu bên Trung Hoa thời Hán Cao tổ và nhất là thời Hán Quang Vũ đế, Nho giáo được đề cao v́ giúp triều đ́nh củng cố việc nội chính th́ triều vua Lư Thánh Tông bên nước ta v́ muốn cho đất nước được văn minh, văn học mở mang nên khuyến khích lập văn miếu thờ Khổng Tử, Chu Công và các hiền thần Trung Hoa. Tuy đạo Nho không phải là một thứ tôn giáo nhưng những lời dạy của Khổng Tử, Mạnh Tử.. v.. v.. được xem là những khuôn vàng thước ngọc để tạo ra một xă hội có tôn ti trật tự, tôn trọng đạo lư thánh hiền, đề cao đạo vua tôi. v.. v...Do vậy, Khổng Tử hay Mạnh Tử được tôn thành bậc Thánh hoặc Á Thánh không không giống như là một tôn giáo nhưng được tôn sùng trọng vọng v́ họ là những bậc thầy chỉ nẻo cho con người đi theo đạo lư như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín từng được đề cập trong Tứ Thư, Ngũ Kinh. Từ thời Lư cho dến về sau thời nhà Lê, nhà Nguyễn vẫn xem Nho học là mẫu mực trong việc giáo dục, chọn nhân tài, định các nghi lễ.. v.. v.. Chúng ta sẽ t́m hiểu thêm những nét cơ bản về giáo dục, học hành, thi cử của nước ta chịu ảnh hưởng của đạo Nho như thế nào ở phần bên dưới. Nh́n chung, chính v́ tinh thần quá lệ thuộc vào Nho giáo với những lời dạy của Khổng Mạnh, việc học hành lại theo lối từ chương, sách vở nên xă hội Việt Nam không mở mang và phát triển theo sự đi lên của thế giới bên ngoài. Vả lại, thế giới quan của người Việt ít nhiều vẫn tôn sùng sự hiểu biết của cái học theo Nho giáo Trung Hoa. Các nước lân bang với Trung Hoa như Nhật Bản, Cao Ly...cũng như nước ta đều xem Hán học là nền tảng của học thuật v́ chưa có sự tiếp xúc với các khu vực khác ngoài Trung Hoa ! Do đó, nước ta và cả Trung Hoa không thể nào đương cự lại súng đạn máy móc của phương tây khi bị xâm lăng ở thế kỷ 17, 18 sau này v́ không kịp thức thời như Nhật Bản ! Ngoài những học thuật mà chúng ta nhận được trong các mối tương giao, người Việt chúng ta từ kinh nghiệm lịch sử của hơn một ngàn năm Bắc thuộc vẫn luôn nhận ra tư tưởng bành trướng của các thế lực Trung Hoa xuyên suốt hơn hai ngàn năm lịch sử đến nay chẳng bao giờ thấy họ biết đổi thay ! Nho giáo tuy có đóng góp một phần việc khai hóa, mở mang dân trí nhưng thực chất vẫn hướng đến việc bảo vệ các chế độ quân chủ. Các chế độ quân chủ xưa kia và độc đoán hiện nay của Trung Hoa đều mang giấc mộng giống nhau về một nước Trung Hoa là trung tâm của thế giới không phải v́ giá trị của nền văn minh và văn hóa tốt đẹp của họ mà bằng vào tinh thần tự tôn, tự cao đi đôi với đầu óc bành trướng, xâm lăng đă có từ thời xa xưa của dân tộc họ.

 

  Ảnh hưởng của đạo Lăo vào nước ta rất mờ nhạt không có nhiều sách vở ghi lại. Việc t́m hiểu tư tưởng Lăo Trang cũng chỉ giới hạn trong các tầng lớp nho sĩ mà thôi. Thường các nhà Nho có hai con đường xuất và xử. Lúc thi cử đậu đạt hay gặp thời ra làm quan ; lúc về nghỉ hưu hay gặp sự bất bằng xin về ở ẩn đều lấy tinh thần đạo Lăo để di dưỡng tâm hồn. Nguyễn Trăi khi triều đ́nh có nhiều chuyện không hợp ḷng đă xin lui về Côn Sơn vui cảnh sơn thủy an nhàn (xem Ức Trai Thi Tập, bài 78 :Côn Sơn Ca, DAS dịch và chú giải, ninh-hoa. com ), Nguyễn Thiếp thích sống ẩn dật, c̣n Nguyễn Công Trứ.. v.. vẫn chọn tinh thần Lăo Trang để cuộc sống có hương vị riêng trong những giai đoạn thăng trầm của thời thế !

 

 Những tín ngưỡng dân gian với đủ h́nh thức có ở nhiều nơi không riêng ở nước ta. Những sự mê tín dị đoan thời nào cũng có. Những biến thái của đạo Lăo trở nên những h́nh thức tín ngưỡng mê tín như tin vào thần tiên, dựa vào thần thánh xem quẻ, bói toán việc hung kiết.. v.. v.. chỉ là thiểu số. Chúng ta chỉ lưu ư các tôn giáo như đạo Phật, đạo Nho đă từng đem lại những giá trị đạo đức trong việc xây dựng con người và con đường tự chủ cho đất nước mà thôi !

 

  Trên đây chúng ta chỉ điểm qua một cách khái quát những ảnh hưởng của Trung Hoa đối với việc phát triển các tôn giáo ở nước ta nhất là đạo Phật. Các chương kế tiếp, chúng ta cũng điểm qua những ảnh hưởng của Trung Hoa đối với văn hóa giáo dục, phong tục tập quán, đời sống chính trị.. v.. v...Đó là những vấn đề rất lớn cần sự góp phần của rất nhiều người với mong muốn đất nước sớm thoát khỏi những bóng tối u ám của Trung Hoa đă và đang chi phối con đường độc lập của dân tộc và đất nước. Sự "trỗi dậy" của họ trong thời đại ngày nay đă là một hiểm họa cho thế giới khi họ chọn con đường bành trướng, xâm lấn nước khác ! Nếu một nước Trung Hoa to lớn đông dân số được cai trị bởi những con người đi theo con đường chính danh, chính nhân của Khổng Tử, biết tôn trọng các khác biệt về chính kiến, văn minh, văn hóa trong thế giới đa cực này và đi đầu trong vấn đề giữ ǵn nền ḥa b́nh thế giới, loài người sẽ được hưởng thanh b́nh lâu dài !

 

 

 Chú thích :

 

 (1) Ở các phần trên chúng ta đă nói đến một trường hợp điển h́nh là Lư Bôn vốn có tổ tiên là người gốc Trung Hoa qua nước ta lánh nạn giặc giă thời Tây Hán đă bảy đời nên gắn bó trở thành con dân nước Việt. Họ Lư từng làm quan nhà Lương bên Trung Hoa sau về định cư ở tỉnh Thái B́nh, không chịu nổi sự hà khắc của các quan lại như Tiêu Tư nhà Lương, đă đứng lên khởi nghĩa xưng là Lư Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân /ĐVSKTT, q. 1, sđd tr. 147 

 (2) Xem thêm : VNPGSL, tr. 17 của Nguyễn Lang tức Thiền sư Thích Nhất Hạnh

 (3) C̣n gọi là Lương cao tăng truyện粱高僧傳 là một tuyển tập truyện ghi chép sự tích về các nhà sư nổi tiếng ở Trung Hoa từ lúc đạo Phật mới du nhập vào đến đầu nhà Lương do Huệ Hạo biên soạn có đề cập hành trạng của Khương Tăng Hội.

 (4) Xem thêm : Nguyễn Lang, sđd, t72 tr. 13-30 và Lê Mạnh Thát, LSPGVN T. 1, sđd, tr. 200-202)& NCTUTA, sđd tr. 67)

 

 

  TÀI LIỆU THAM KHẢO (T. T) :

 

 

24/ Juan Pablo & Heriberto Araujo, Đạo Quân Trung Quốc Thầm Lặng, Nguyễn Đ́nh Huỳnh dịch, NXB Hội Nhà Văn, Saigon 2016

25/ Lê Mạnh Thát, Nghiên Cứu Về Thiền Uyển Tập Anh, NXB TPHCM, Saigon 1999

26/ Trịnh Sâm, Đi T́m Bản Sắc Tiếng Việt, NXB Trẻ, Saigon 2018

27/ Susan L. Shirk, Gă Khổng Lồ Mất Ngủ (China The Fragile Superpower ) bản dịch của Vũ Tú Mạnh & Trần Hà Trang, Nhă Nam & NXB Hội nhà văn, Saigon 2015

28/ Ruchir Sharma, Quốc Gia Thăng Trầm (The Rise And Fall Of Nations ), bản dịch của Tường Linh, Phương Nam & NXB Thế giới, Saigon 2018

29/ Henri Courdon, Nghệ thuật Xứ An Nam (L'Art De L'Anam), bản dịch Trương Quốc Toàn), NXB Thế giới & Nhă Nam, Saigon 2017

30/ Tom Miller, Giấc Mộng Châu Á của Trung Quốc : Công Cuộc Xây Dựng Đế Chế Dọc Theo Con Đường Tơ Lụa Mới ( China's Asian Dream : Empire building along the new silk road ), bản dịch Đoàn Duy, Cty phương Nam & NXB Hội Nhà văn, Saigon 2018

31/ Lương Đức Thiệp, Xă Hội Việt Nam, ấn bản của NXB Hàn Thuyên 1944, NXB Hội nhà văn & Nhă Nam in lại, Saigon 2018

 

 

 

 

 

 

DƯƠNG ANH SƠN
Sài G̣n, tháng 04/2019

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com