trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www. ninh-hoa. com

Dương Anh Sơn

 
 cựu giáo sư triết  Trung Học Ninh Ḥa (1973-1975)

dạy văn Trung Học P.T. Nguyễn Trăi
Ninh Ḥa (1975-1976)

dạy văn Trung Học P.T. Nguyễn Huệ
Tuy Ḥa, Phú Yên (1976-1984)

 

* Đă xuất bản :

 

  Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh (2006)

Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi

(chuyển lục bát và

chú giải, 2009)
 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

  

 


NGƯỜI BẠN

NINH H̉A
(Tạp Bút)

Dương Anh Sơn
 

 

 1

      

Vào cuối năm 1974, khi vừa xong các môn thi đệ nhất lục cá nguyệt, tôi bất ngờ gặp anh Đ. , một giáo sư người Ninh Ḥa đang dạy triết học ở Trung tâm giáo dục Hùng Vương Dalat xin phép về quê nhà vài ngày để gặp tôi trao đổi việc hoán chuyển nhiệm sở. Theo những qui định của Bộ Giáo dục miền Nam, những giáo sư trung học có cùng môn dạy ở hai địa phương khác có thể làm đơn xin hoán chuyển nhiệm sở trong năm học sau. Thế là tôi và anh Đ. tiến hành làm đơn thông qua hiệu trưởng của trường sở tại duyệt xét để chuyển về bộ làm thủ tục đổi nhiệm sở. ( Trung tâm Giáo dục Hùng Vương Dalat là một trong năm TTGD do Bộ Giáo dục miền Nam tiếp nhận từ các trường học theo chương tŕnh Pháp chuyển đổi sang chương tŕnh dạy bằng tiếng Việt kể từ 1967. Cơ sở của TTGD Hùng Vương bậc trung học chính thức được Pháp bàn giao cho Bộ Giáo dục từ 1969 nguyên là trường Lycée Yersin Dalat hay c̣n gọi là Grand Lycée ). Nếu không có ǵ cản trở và không có biến cố 1975, anh Đ. sẽ về dạy triết học ở TH Ninh Ḥa của quê nhà và tôi sẽ về lại Dalat đổi chỗ với anh Đ.

 

Biến cố 75 đă tác động và làm thay đổi đến biết bao nhiêu số phận người miền Nam. Anh Đ. phải trở về Ninh Ḥa v́ môn triết không c̣n được dạy. Những anh du kích làm giáo dục ở Dalat rất gắt gao đối với những người dính dáng đến chế độ trước. Anh trở về nhà tạm bỏ quên sách vở và sắm cuốc xẻng đi làm rẫy. Cũng trong thời gian này, tôi vẫn c̣n được tiếp tục việc dạy môn văn ở trường Trung học cấp 3 Nguyễn Trăi. Đó là khoảng thời gian hầu như tôi buộc ḷng phải đụng chạm với những anh giáo viên "chi viện" từ vùng Thanh Nghệ Tĩnh vào "tiếp thu". Hiệu trưởng mới là một anh ốm oi nghe nói 15 tuổi vẫn c̣n đi chăn trâu rồi học "hấp tấp" lên lớp 10 và cho học "cấp tốc" CĐSP đưa vào Nam. Ngoài một mớ chỉ thị được nhai đi nhai lại hằng ngày, ông ta c̣n là một chuyên viên đi ŕnh ṃ, ḍ xét thái độ, tư tưởng các "giáo viên" miền Nam. Tôi vẫn thường bắt gặp ông ta đi men theo vách tường bên hông lớp học có nền cao để ŕnh xem bọn GV miền Nam giảng dạy và chúng nó nói cái ǵ !!. Những đêm sống trong "khu tập thể" (thực tế là lấy bàn ghế lớp học làm pḥng ngủ ) ông ta thường xoi mói đến những sinh hoạt của chúng tôi. Chẳng hạn khi chúng tôi nói rằng giá mà câu được điện từ bên U. B huyện kế bên thắp cho một hai ngọn đèn th́ việc soạn bài vở sẽ tốt hơn. Ông ta đă lên lớp : Ngoài kia chúng tôi dùng đèn dầu mà vẫn "dạy tốt học tốt". Tôi mới nói thẳng với ông ta là nếu như vùng không có điện chẳng nói làm ǵ ! Đây là ngôi trường chỉ cách U. B huyện (quận đường cũ của NH) một bức tường !. Chuyện xin câu đèn cho GV soạn bài chắc họ sẽ cho thôi. Vả lại, có ánh đèn điện vẫn tốt cho việc soạn bài là điều chắc chắn! Từng chút một, những chỉ đạo ngu ngơ theo kiểu nông dân của ông "hiệu trưởng" khiến tôi càng ra mặt ghét bỏ. Thấy ông ta đi trên đường là tôi lội xuống bờ ruộng để đi ! Hết niên học đầu tiên sau 75, tôi nhận được giấy tạm ngưng công tác cùng với anh Đăi chờ quyết định mới từ sở giáo dục ở Nha Trang do báo cáo đầy ác ư của tay "hiệu trưởng" lom com này.

 Khoảng thời gian đó, tôi đă thu xếp chuẩn bị về lại Dalat t́m một vùng đồi núi xa để làm rẫy ! Bấy giờ, tôi đă xin thuê lại chỗ trọ cũ trước 75 cùng ở với thầy Ba. Hầu như năm học đầu tiên sau 75 làm cho tôi rất khó ngủ. Đêm nào tôi cũng trằn trọc loay hoay với những nỗi niềm thời thế. Anh Ba dễ ngủ, nằm xuống là ru hồn vào giấc mộng rồi !Những đêm trăng, tôi pha cà phê nh́n bầu trời khuya qua khung cửa có chấn song bằng gỗ của gác trọ. Tôi cứ thao thức, suy nghĩ mông lung về vận mệnh của một dân tộc đang đi vào một con đường mờ mịt. . . . .

 

 2

 

 Tôi vẫn c̣n nhớ rơ vào cuối tháng 9/1973, trước khi về nhiệm sở Ninh Ḥa theo sự vụ lệnh bổ nhiệm giữa tháng 10/73, qua Bộ Dân vận của ông Hoàng Đức Nhă, nhiều đoàn sinh viên người Việt du học khắp nơi như Tây Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Nhật Bản, Úc, Hoa Kỳ, Anh, Canada v. . v. . và đại diện sinh viên các trường đại học ở Saigon, Huế, Dalat, Cần Thơ. . v. v được mời vào Dinh Độc Lập để hội thảo về t́nh h́nh miền Nam sau hiệp định Paris kư ngày 27/1/1973. Những bài phát biểu của đại diện sinh viên du học tại Pháp, Hoa Kỳ và Anh gây được sự chú ư của người nghe trong khán pḥng lớn của dinh Độc Lập dưới sự chủ tọa của đương kim Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Các bản tham luận của các đại diện sinh viên nước ngoài đều cho thấy Tổng Thống Richard Nixon và ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger đă ép buộc miền Nam kư vào hiệp định có lợi cho miền Bắc và bắt đầu việc rút các đơn vị quân sự cũng như thu hẹp nguồn viện trợ cho miền Nam. Nói cách khác, Kissinger đă lèo lái Nixon trên bàn cờ chính trị thế giới như bỏ rơi đồng minh VNCH, bắt tay với Bắc Kinh, mở đường cho Bắc Việt tiến chiếm miền Nam với viện trợ ồ ạt của Liên Xô và Trung cộng cũng như mở đường cho sự trỗi dậy lớn mạnh và hung hăng của Trung cộng về sau như một con quái thú khó trị. . . . Tôi c̣n nhớ như in diễn văn của T. T. Thiệu sau các tham luận của các đoàn sinh viên có những đoạn: ". . . . . . Hiệp định Paris kư kết đầu năm này đă gây ra nhiều bất lợi cho chúng ta. . . . Hoa Kỳ đang rút dần những nguồn cung ứng cho QLVNCH. . Trước đây, vào thời gian cao điểm của cuộc chiến tranh chống cộng sản, họ đă đổ vào có lúc đạt 750 triệu đô la mỗi ngày. Bây giờ, họ rót cho chúng ta ba triệu rưỡi mỗi ngày lấy đâu đạn dược để đánh, để ngăn chặn kẻ thù, xăng đâu cho máy bay đi hành quân. . v. . v. . Vấn đề miền Nam sống c̣n có thể tính từng tháng, từng năm. . . . ". Chúng tôi ngồi nghe bài diễn văn, thấy rơ bước đường sắp tới của miền Nam và rộng hơn của một đất nước. . . . Bàn cờ chiến lược của nước Mỹ qua tay Kissinger và mấy anh lớn Nga Tàu có bao giờ xem trọng mấy anh nhược tiểu đâu ! Và hệ quả của ván cờ là biến cố 75 làm tan tác biết bao số phận, đất nước đi vào những ngơ cụt và nhất là bắt đầu chịu sự chi phối của Trung cộng dây dưa không lối thoát đến nay, trừ phi. . . . . . .

 

3

 

 Anh Đ. sau biến cố 75 đă rời pḥng trọ và ngôi trường lớn ở Dalat về lại Ninh Ḥa. Anh đă t́m đến ngọn đồi cao ở xă Ninh Quang cùng với đứa em trai khởi công chặt phá dọn dẹp cỏ dại để đánh luống trồng mấy hàng rau lang, vài hàng đặt om khoai ḿ. Một gian nhà cỏ thấp khoảng sáu mét vuông để tránh mưa, tránh nắng. Anh Đ. hơn tôi năm tuổi và xong cử nhân triết trước tôi bốn năm. Anh nói năng điềm đạm, chân thành. Gặp lại anh trong những ngày tháng đầy biến động ấy, tôi rất vui mừng. Tôi cùng chia sẻ với anh về những vấn đề thời thế, về đạo Phật, về những suy nghĩ đề cập con người và cuộc sống. Thời gian tạm đ́nh chỉ công tác, tôi mượn xe đạp của anh Cao Đ́nh Đăi, mượn thêm cây cuốc cứ sáng sớm qua nhà anh Đ. cùng đạp xe đi về phía trường Ninh Ḥa cũ, đi dọc quốc lộ phía vào Nha Trang đến một con đường đất nhỏ đi lên các ngọn đồi xă Ninh Quang. Đó là những ngày có những đợt gió và các trận mưa lớn ngay từ sáng sớm. Leo đến ngọn đồi có miếng rẫy của anh Đ, chúng tôi chui ngay vào căn lều cỏ tranh nhen lửa hơ áo quần ướt và pha cà phê uống cho ấm bụng. Chúng tôi uống cà phê khề khà như uống rượu, nh́n trời mưa tầm tả bên ngoài lưng đồi. Chúng tôi kể lại những ngày tháng Văn Khoa với h́nh ảnh những người thầy đă đem lại cho tâm hồn chúng tôi những dấu ấnsâu sắc. H́nh ảnh của các thầy như Trần Trọng San, Trần Thái Đỉnh, Lương Kim Định, Cao Hữu Hoành, Nguyễn Khắc Dương, Giản Chi, Nguyễn Đ́nh Hoan, Phạm Văn Diêu. . v. . v. . với những giảng khóa mở ra cho chúng tôi những tầm nh́n mới, tác động chúng tôi trong cách suy nghĩ, trong cách sống. Anh Đ và tôi hào hứng ôn lại những lời giảng, những câu chuyện kể từ các thầy. Chúng tôi không khỏi dâng lên niềm tự hào được làm học tṛ các giáo sư có nhân cách và uyên bác. Đó cũng là niềm vui để quên đi chuyện áo cơm, tương lai tăm tối trước mắt. Chiều đến, sau khi đánh cỏ nhiều luống đất, chúng tôi lại nhen lửa bỏ vào vài trái bắp c̣n vỏ và pha trà nhâm nhi. Chúng tôi ngâm nga mấy câu thơ của Đỗ Phủ, của Lư Bạch từ những bài học của thầy Trần Trọng San. Chúng tôi ngâm ngợi những vần thơ chất chứa hào khí của Nguyễn Bá Trác dịch từ một bài ca có tên là Nam Phương Ca Khúc :

 

 "Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường,

Hà tất tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương.

 Trời nam ngàn dặm thẳm, mây nước một màu sương !

Học không thành, danh chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc trăm năm thân thế bóng tà dương!

Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là người tri kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ trường !

Hồ trường ! Hồ trường ! Ta biết rót về đâu ?

Rót về đông phương, nước bể đông chảy xiết sinh cuồng loạn !

Rót về tây phương, mưa tây sơn từng trận chứa chan !

Rót về bắc phương, ngọn bắc phong v́ vụt, đá chạy cát dương !

Rót về nam phương, trời nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng !

Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết, ḷng ta hay.

Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây !

 (Hồ trường - Nam phương ca khúc )

 

 Ngâm nga nhiều lần như thế tuy không có được cái khí phách của kẻ trượng phu xưa nhưng đă cho lại những niềm an ủi trong hoàn cảnh bấy giờ. Nếu không có được những vần thơ như thế nuôi dưỡng, tâm hồn chúng tôi chắc cũng tàn phai và trống vắng !

 

 4

 

Như đă được hẹn với ông trưởng pḥng tổ chức của Sở Giáo dục PK, tuần đầu tháng chín năm 76, tôi lại vào Nha Trang cùng anh Đăi để xem quyết định cuối cùng. Sáng thứ hai đầu tuần, gặp lại ông trưởng pḥng tổ chức, ông đă nói với tôi: "Tôi đă xem xét kỹ trường hợp của anh chẳng có vấn đề ǵ nghiêm trọng như đề xuất của ông hiệu trưởng ngoài Ninh Ḥa. Tôi đă xem cuốn tiểu luận Phương Pháp Dạy Giảng Văn Tại Trung Học (làm từ Đại Học Sư Phạm Dalat). . . . . Hôm nay anh sẽ nhận quyết định ra dạy Văn ở Trung học cấp 3 Nguyễn Huệ Tuy Ḥa. . . . . ". C̣n anh Cao Đ́nh Đăi cũng nhận quyết định dạy Trường Phan Bội Châu ở Cam Ranh. Ông trưởng pḥng yêu cầu chúng tôi đến nhiệm sở ngay cho kịp niên học mới. Sau này hỏi ra tôi mới biết ông trưởng pḥng từng học trường Pháp, đi tập kết nên cách nh́n sự việc thoáng hơn. Âu cũng là một cái duyên ! Một người dạy triết trước 75 vẫn c̣n được dạy văn cấp 3 là một chuyện lạ đối với bạn bè cũ của tôi!. . . . . .

Tôi và anh Đăi trở về Ninh Ḥa thu xếp hành trang để kịp đến trường mới ! Tôi ghé qua anh Đ. chào từ giă, rồi chào chia tay với gia đ́nh anh Đăi sẽ xuôi nam, c̣n tôi sẽ ra phía bắc của Phú Khánh ! Tôi bịn rịn chia tay với bạn bè, với bà chủ nhà trọ và nhất là đám học tṛ thân yêu của lớp ḿnh "chủ nhiệm". Cô học tṛ lớp phó tên Nghĩa đă nói với tôi :"Thầy đi đâu mà xa dzị!" Tôi cứ nhớ măi những tấm chân t́nh như thế của các em học sinh 11A thuở ấy của trường Nguyễn Trăi là những em từng học mười năm của nền giáo dục miền Nam. Cách cảm nhận, lối suy nghĩ của các em rất trong sáng và hướng thiện. H́nh ảnh các em luôn trong hồn tôi !

 

 Sáng hôm sau, tôi ngồi thỏng chân quá giang trên chiếc toa xe lửa chở hàng đi ra Tuy Ḥa. Ga xe lửa nằm gần trường nên khi tàu hú c̣i chạy qua, học sinh cũ của tôi bây giờ là lớp 12 A đă ùa nhau chạy ra cửa sổ vẫy tay chào tôi. Các em đă thấy tôi ngồi trên xe nh́n xuống ! Tôi cảm động vô ngần ! Nước mắt nhẹ trào. Sau này, các em gửi thư cho biết ông giáo Khoản chủ nhiệm lớp, đă giận dữ la mắng các em v́ cách từ biệt đáng yêu đó! Giữa giai đoạn cũ mới, các em đă chia sẻ với tôi biết bao nhiêu chân t́nh và nỗi niềm thời thế. Tôi chia tay Ninh Ḥa trong nỗi nhớ dịu dàng đằm thắm. Cánh đồng lúa xanh mơn mởn vẫn nghiêng ngă theo chiều gió. Những hàng dừa xanh mướt vẫn lóng lánh dưới nắng mai. Con đường làng với hàng tre ṿm dưới ánh trăng rằm vẫn c̣n măi trong tôi. Nơi đây đă là một phần đời thân thiết của tôi rồi!

 

 5

 

Sau tám năm dạy học ở Tuy Ḥa, tôi xin thôi việc vào Saigon sinh sống. Mỗi khi có dịp đi về miền Trung, tôi lại tạt ngang Ninh Ḥa ghé thăm bạn bè cũ nhất là có dịp thăm anh Đ. Tiếp tôi trong bộ áo nông dân màu nâu bên tách trà, tôi và anh lại trao đổi những cảm nghiệm về cuộc đời thông qua cái nh́n của đạo Phật, Thời gian rảnh, anh Đ. dành thời giờ cho việc tụng niệm kinh kệ và đọc sách vở. Khi ngồi hàn huyên với nhau, nghĩ cho cùng, tôi và anh đều thấy số phận một dân tộc, một đất nước chỉ là một định nghiệp rộng lớn. Mọi sự nghĩ cho cùng đều là vô thường ! Anh như là người ẩn dật t́m nguồn vui trong lẽ đạo. Anh không lập gia đ́nh nên cũng không có nhiều hệ lụy. Tôi lại gặp anh trong một lần ra họp mặt với cáchọc sinh 12 C trước 75 và 11 A sau 75. Ninh Ḥa từ thị trấn "tiến lên" thị xă. Nhà anh Đ. từ bên góc cây xăng phía trước trụ sở quận cũ giờ được đổi thành nhà mới ở một góc phố có con đường đi qua nhà cô học tṛ Diệp Thế Lâunằm giữa mấy vuông ruộng xanh mướt... Anh Đ. trong lần gặp ấy trông già khọm, lưng hơi c̣ng, tay chân khẳng khiu. Có lẽ lối sống cư sĩ của anh nề nếp, đơn giản cộng thêm thời gian chồng chất nên h́nh hài cũng thay đổi ! Nhưng đôi mắt của anh vẫn sáng rỡ với nụ cười pha chút tiếu lâm của ngày nào. Các học sinh cũ thân mến của tôi nhiều em già xọm, tóc bạc trắng, có đứa đă đi đến một cơi khác !. Thế nhưng, tôi vẫn như nh́n thấy các em của thời áo trắng. Thời gian có đi qua nhưng h́nh ảnh một thuở nào Ninh Ḥa với các bạn bè và các em học sinh giai đoạn đó sẽ măi măi trong tôi.

 

 

 

 

 

DƯƠNG ANH SƠN
Sài G̣n, 22/06/2016

 

 

 

 

 

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www. ninh-hoa. com