trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


NAM TRUNG TẠP NGÂM

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 

 

 

VÀI NÉT VỀ NAM TRUNG TẠP NGÂM

(Tập 2)

 

Năm 1082, Nguyễn Ánh thống nhất được đất nước sau khi đánh dẹp được triều Tây Sơn và lên ngôi vua lấy hiệu là Gia Long. Trong chuyến ngự giá ra Bắc, vua Gia Long đă ra chỉ thị cho mời các cựu thần nhà Lê và các hiền tài ra giúp nước như Phạm Qúy Thích, Phạm Đ́nh Hổ, Nguyễn Nể v.v… Lúc này Tố Như đă 38 tuổi cũng có lệnh cho mời ra yết kiến vua để cùng theo tháp tùng đi ra Bắc ( Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện). Sau thời gian làm Tri huyện Phù Dung và Tri Phủ Thường Tín ông được cử lên Nam Quan đón tiếp sứ nhà Thanh sang phong vương cho vua Gia Long, ông lại xin cáo bệnh về quê. Đó là chặng đường làm quan đầu tiên đă được ghi trong “Thanh Hiên Tiền Hậu Tập” đă đề cập ở phần trước (1804). 

NAM TRUNG TẠP NGÂM là những bài thơ được Nguyễn Du làm ra khi được thăng Đông Các học sĩ, tước Du Đức Hầu vào nhận chức trong triều đ́nh tại Huế (1805). Đến năm 45 tuổi (1809), ông lại được bổ làm Cai Bạ dinh Quảng B́nh. Công tŕnh sưu tầm tập thơ này trước sau được 40 bài được Tố Như sáng tác trong thời gian này. 

*  *
*

Con đường ra làm quan với triều đ́nh nhà Nguyễn cũng chỉ là chuyện bất đắc dĩ với Nguyễn Du mà thôi. Một người như Tố Như từng có một thời gian dài sống ung dung tự tại nơi dăy núi Hồng, do hoàn cảnh thay đổi của lịch sử, việc làm quan xét cho kỹ chỉ là chuyện đối phó với thời thế và một phần nào là chuyện cơm áo. 

1/ Trước hết, NAM TRUNG TẠP NGÂM đă cho chúng ta thấy rơ Tố Như thường vẫn để ḷng tưởng nhớ quê nhà khi ra làm quan. Chốn quê nhà của ông không phải chỉ có “thập khẩu hài nhi thái sắc đồng” (Ngẫu Hứng – Bài 4) mà c̣n là nỗi niềm nhớ thương về một quê hương với mùa thu xa xôi của một thuở nào chưa bị chuyện làm quan bó buộc:

…“Bất tài đa khủng tốc quan phi,

Niên niên thu sắc hồn như hử.

Nhân tại tha hương bất tự tri”

(Giang Đầu Tản Bộ - Bài 1)

Không có tài nên nhiều cái sợ v́ việc quan thường vội vă dễ sai lầm. Sắc thu mỗi năm đều như thế cả. Người đang ở chốn quê xa không tự ḿnh hay biết đó thôi… 

Ước vọng tự do của một thuở nào khi c̣n ẩn thân ở dăy núi Hồng luôn luôn canh cánh trong ḷng Tố Như:

…“Vọng ngoại Hồng Sơn tam bách lư,

Tương ṭng hà xứ vấn tiền lân.”

(Ngẫu Đắc).

Nh́n về dăy núi Hồng ngoài ba trăm dặm, biết chốn nào để theo hỏi thăm về xóm cũ trước kia… Chốn xưa thân thiết và gần gũi của vùng núi Hồng với những đám cây tùng hoặc là những ḥn đá núi được ví như những người bạn đă cùng thề bồi có nhau:

“… Vị ngă hồng sơn tạ tùng thạch,

Tái vô diện mục kiến đồng minh.”

(Tạp Ngâm)

Thương nhớ Hồng Sơn từ chốn quan trường là thương nhớ về một thuở nào thong dong đuổi thú, xua chó đi săn trong non ngàn tràn đầy sự tự do ngoài ṿng cương tỏa:

“Nghêu ngao vui thú yên hà,

Mai là bạn cũ, hạc là người quen.”

Hai câu thơ được cho là của Nguyễn Du đề vào chén sứ khi đi sang Trung Hoa (xem: Ảnh Hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh - Phần tiểu sử Nguyễn Du) đă cho thấy rơ ít nhiều chí hướng của một con người nghệ sĩ như Nguyễn Du luôn luôn yêu chuộng tự do v́ tự do đồng nghĩa với hạnh phúc. (xem thêm: Thôn Dạ, Tạp Thi, Hành Lạc Từ … T.H.T.H.T) 

2/ Tiếp đến, NAM TRUNG TẠP NGÂM cũng cho ta thấy rơ tâm tư của Nguyễn Du khi bất đắc dĩ ra làm quan cho triều Nguyễn. Gia đ́nh của ông từ cha anh và các người trong ḍng họ đă chịu nhiều ân sủng của vua Lê chúa Trịnh. Thời thế đổi thay, nhà Tây Sơn đă diệt Trịnh ở Đàng Ngoài, Lê Chiêu Thống phải bỏ chạy sang Tàu cầu cứu Măn Thanh. Rồi Nguyễn Ánh nhân cái chết Quang Trung, nội bộ Tây Sơn chia rẽ đă dẹp được Tây Sơn và thống nhất đất nước. Tấm ḷng của Nguyễn Du khi ra làm quan nhà Nguyễn vẫn hoài vọng về triều Lê:

“Khả liên bạch phát cung khu dịch,

Bất dữ thanh sơn tương thủy chung.

Kư đắc niên tiền tằng nhất đáo,

Cảnh Hưng do quải cựu thời chung.”

(Vọng Thiên Thai Tự)

Thương thay cho mái đầu đă bạc mà vẫn c̣n đeo đuổi , lận đận nơi xa xôi, không cùng ngọn núi xanh trọn niềm trước sau có nhau. Nhớ năm trước đă từng ghé thăm nơi đây có treo quả chuông đúc từ thời Lê Cảnh Hưng…. Một bên là hoài niệm những ngày tháng nhàn dật cùng dăy núi xanh sống gần gũi với thiên nhiên và một bên là mối hoài niệm kín đáo về thời Lê đă đi qua. 

3/ Khi làm việc trong triều đ́nh Huế, một con người vốn không hề có ham muốn về chuyện danh lợi đă chứng kiến những toan tính và sự đố kỵ của trường lợi danh: “Thượng uyển oanh kiều đa đố sắc” – (Tống Nhân). Nơi vườn hoa của vua có nhiều con chim oanh xinh đẹp vẫn đố kỵ ghen sắc đẹp của nhau…           

Mặt khác, việc quan phải giao tiếp với người cấp trên hoặc khi chầu vua, yết triều làm cho ông mệt mỏi:

“Hữu h́nh đồ dịch dịch,

Vô bệnh cố câu câu…”

(Thu Chí)

Bởi có thân nên phải vất vả, cực nhọc. Không có bệnh đau mà lưng phải lom khom c̣ng xuống. Lưng phải c̣ng xuống v́ cấp trên, nhưng trong việc quan, bọn nha lại vênh váo nơi công đường cũng làm ông cảm thấy chán chường và mơ về chân trời cũ:

“… Sự lai đồ lệ giai kiêu ngă

Vọng ngoại Hồng Sơn tam bách lư…”

(Ngẫu Đắc)

Việc làm quan trong triều đ́nh với những “d́ gió” hiềm tỵ, ghen ghét nhau (Ngẫu Thư Công Quán Bích – Bài 2) hay nơi công đường chỗ trấn nhậm ở Quảng B́nh đă cho thấy chốn quan trường không phù hợp với những con người yêu tự do như Tố Như. Và ra làm quan ít nhiều với Nguyễn Du cũng chỉ là việc cơm áo, đánh mất thuở nghêu ngao của tự do:

…“Bạch đầu sở kế duy y thực,

Hà đắc cuồng ca tự thiếu niên”

(Dạ Tọa)

Tạm dịch:

…“Áo cơm lo măi bạc đầu,

Được như thời trẻ nghêu ngao hát cuồng”

(Ngồi ban đêm)

*  *
*

Nh́n chung, xét về mặt tư tưởng, việc ra làm quan nhà Nguyễn với 40 bài thơ trong “Nam Trung Tạp Ngâm” cũng chỉ là một giai đoạn mới để Nguyễn Du có thêm những kinh nghiệm sống thực về chốn quan trường. Hiểu và sống đời làm quan để biết rơ chuyện danh lợi chỉ là những hư ảo phù phiếm mà nhiều lần ông đă đề cập trong T.H.T.H.T. Biết rơ chốn quan trường và danh lợi để Tố Như càng khẳng định về sự tồn tại đích thực của tấm ḷng đă vượt lên những bả vinh hoa ấy:

“Niên niên thu sắc hồn như hử” 

(Giang đầu tản bộ)

Sắc thu mỗi năm đều như thế, chẳng hề thay đổi. Đó là những nhận định về sự lớn rộng của thiên nhiên bao trùm lên mọi tuế toái của cuộc sống trong đó có việc làm quan. Cho nên, khi Tố Như cho rằng: “Tấm thân này đă bị giam giữ trong lồng cũi không t́m đâu được sự phóng khoáng tự do” (Thử thân dĩ tác phàn lung vật, Hà xứ trùng tầm hăn mạn du – Tân Thu Ngẫu Hứng) cũng chỉ là sự tiếc nuối v́ bị bó buộc phải ra làm quan theo lệnh của triều vua mới cũng như ít nhiều v́ nợ cơm áo mà thôi. 

Phải chăng đó cũng là một chiếc cầu đoạn trường cần phải trải qua và vượt thoát trong cuộc đời? (“Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”-ĐTTT). 

Mối tâm sự ngỗn ngang của Tố Như cùng với những h́nh ảnh về thiên nhiên và con người trong N.T.T.N đă đánh dấu một chặng đường làm quan cho triều Nguyễn. Chỉ đến khi được thăng Cần Chánh Điện học sĩ làm Chánh Sứ đi tuế cống nhà Thanh vào năm 1813 tâm tư ông được mở rộng hơn và tư tưởng thiền học ngày càng được nâng cao, tiến đến chỗ thấy rơ được chỗ rốt ráo của nó thông qua tập thơ thứ ba là Bắc Hành Tạp Lục sau này. (Xem bài thơ: “Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài” - Tập 3)

 

 

 

 

Xem BÀI SỐ 01 & 02

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com