trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


NAM TRUNG TẠP NGÂM
(Tập 02)

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

  

 

 

 

Bài 39:
 

 

GIẢN CÔNG BỘ THIÊM SỰ TRẦN

 

   柬工部詹事陳(二首)

 

                                                              

 

Thanh sơn ngoại hữu bất qui nhân,        青山外有不歸人
Sơn bắc sơn nam tận bạch vân.             山北山南
白雲
Thất nguyệt hựu phùng thu đáo nhăn.     七月又
秋到眼
Thiên nhai không đái lăo tùy thân.          天涯空带老

Bách niên cổ lũy yên hà hợp,                 百年古壘

Nhất đái hàn sa thảo thụ phân.                一带寒沙草

Ỷ biến lan can vô dữ ngữ,                     
欗杆無與
Kỷ hồi kinh tọa ức Trần Tuân
.               

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

GỬI THIÊM SỰ BỘ CÔNG HỌ TRẦN

(Bài 1)

 

Người không về lại non xanh,

Mây non nam bắc trắng tinh khắp rồi,

Gặp thu tháng bảy mắt vời,

Đeo theo già lăo góc trời uổng thân.

Trăm năm lũy cổ khói vần,

Lạnh tanh dải cát chia phần cỏ cây.

Tựa hiên tṛ chuyện ai nầy?

Mấy lần ḿnh giật, ngồi đây nhớ Trần.

 

DỊCH NGHĨA:

Rặng núi xanh ở ngoài kia đă có người chưa (từ quan) trở về. Những ngon núi phía bắc hay nam đều giăng mây trắng. Tháng bảy lại gặp mùa thu đến trước mắt. Cái già đeo tấm thân phải uổng công nơi góc trời. Trăm năm khói mù tụ lại nơi thành lũy cổ. Một dải cát lạnh lẽo phân chia cỏ và cây. Dựa vào khắp lan can ở hiên nhà không có ai cùng tṛ chuyện. Mấy lần ngồi giật ḿnh nhớ đến ông Trần Tuân.


CHÚ THÍCH:

Bài thơ này Nguyễn Du làm ra khi đương chức Cai Bạ ở Quảng B́nh. Người được đề cập là ông Trần Văn Tuân từng làm đến chức Tham Tri Bộ Lại cùng thời Nguyễn Du.

                                                                      

 

不歸人 bất qui nhân: xem CT bài 38.
    không: uổng phí, uổng công, sáo rổng, hăo, hết sạch, trống rỗng, nghèo, vắng vẻ…
古壘  cổ lũy: lũy xưa cũ. Đây chỉ Lũy Thầy (do Đào Duy Từ xây dựng) ở Quảng B́nh.
  Trần Tuân:  tự là Mạnh Công, người đời Hán bên Trung Hoa là một người phóng khoáng rất mến khách. Thời này, có người trùng tên họ với Trần Tuân, đi đâu cũng xưng là Trần Mạnh Công, khiến nhiều người phải giật ḿnh nên gọi kẻ ấy là “kinh tọa” (ngồi mà giật cả ḿnh) Nguyễn Du dùng điển tích này đề ca ngợi tính t́nh của Thiêm Sự họ Trần có tên trùng với Trần Tuân đời Hán.
     

 

 

 

Bài 40:  

 

 

GIẢN CÔNG BỘ THIÊM SỰ TRẦN

 

   柬工部詹事陳

 

                                                                

 

Thanh phong niểu niểu tự giang tân,      清風嫋嫋自江
Minh nguyệt thanh sơn thướng hải tần.  明月青山上海

Nan đắc tương phùng như thử dạ,         難得相
如此夜
Khả liên đồng thị vị qui nhân.              
同是未歸人
“Âm phù” tuế văn sinh tiên đố,            
晚生仙
U thất thu hàn hiện quỉ lân.                   
室秋寒
Dạ độc minh minh “Chiêu ẩn phú”,      
明明招
Hồng Sơn tàm phụ nhất sơn vân.          
一山雲

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

GỬI THIÊM SỰ BỘ CÔNG HỌ TRẦN

(Bài 2)

 

Nhẹ êm gió mát bên sông,

Non xanh, băi biển sáng vầng trăng cao.

Như đêm nay khó gặp sao!

Chưa về thương kẻ cùng nhau thế này.

“Âm phù” sinh mọt năm chày,

Pḥng mùa thu tối lạnh bày ma trơi.

Đêm xem “Chiêu ẩn” sáng ngời,

Thẹn thùng cùng đám mây nơi núi Hồng.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Từ nơi bến sông, cơn gió mát trong nhẹ nhàng thổi. Trên băi biển, vầng trăng tỏa sáng lên ngọn núi xanh. Khó được gặp nhau như đêm nay. Khá thương thay đều là những người chưa (từ quan) trở về! Cuốn sách “Âm phù” năm tháng đi qua đă sinh sản những con mối tiên! Căn pḥng vào mùa thu lạnh lẽo và tối hiện ra những con ma trơi lập ḷe. Ban đêm, đọc bài phú “Chiêu ẩn” có ư tứ sáng láng, cảm thấy thẹn thùng đă phụ đám mây bay trên ngọn núi Hồng.

 

CHÚ THÍCH:

 

 

嫋嫋 niểu niểu: dáng mềm mại nhỏ nhắn, nhẹ nhàng, quanh quẩn, lay động, gió vi vu, d́u dặt.
未歸人 vị qui nhân: cùng nghĩa “bất qui nhân” (xem CT bài 39).
 Âm phù: sách cổ bên Trung Hoa bàn về việc tu tiên có tên là “Âm Phù Kinh”.
quỉ lân: ánh lân tinh chớp nháy của các sinh vật lập ḷe như quỉ hiện h́nh mà dân gian gọi là “ma trơi”.
Chiêu ẩn phú: bài phú có tên là “Chiêu ẩn sĩ” do các học tṛ của Hoài Nam Tiểu Sơn đời Hán làm ra để kêu gọi các ẩn sĩ c̣n đang đi ở ẩn.
     

  

 

 

HẾT

 

 

 

XEM MỤC LỤC

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com