trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


NAM TRUNG TẠP NGÂM
(Tập 02)

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

  

 

 

 

Bài 19:
 

 

THỦY LIÊN ĐẠO TRUNG TẢO HÀNH

 

   水連道中早行

 

 

Bi mạc bi hề hành đạo nan,                    行道
Thảo đầu lộ túc phạm suy nhan.
           草頭宿犯衰顏
Bách niên cổ đạo giai thành hác,
          百年古道皆成壑
Nhất đái b́nh lâm bất kiến san.
             一带平見山
Đa bệnh nhất thân cung đạo lộ,
             多病一身供道路
Ngũ canh tàn mộng tục hương quan.
      五更残夢鄊關
Ngẫu phùng qui khách hướng dư thoại,
 偶逢歸客向余話
Tạc tuế triều thiên sạ phóng hoàn.
          昨歲朝天乍放

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

SÁNG SỚM ĐI TRÊN ĐƯỜNG THỦY LIÊN

 

Thương thay đường khó phải đi,

Cỏ cao phờ phạc chân th́ dẫm sương.

Trăm năm lối cũ thành mương,

Núi non chẳng thấy, đến vùng phẳng băng.

Đi đường lắm bệnh một thân,

Canh năm tàn mộng mơ màng hương quê.

T́nh cờ tṛ chuyện khách về,

Chầu vua năm trước cho đi trở về.

 

DỊCH NGHĨA:
 

Buồn thay, thương thay phải đi con đường đầy  khó khăn. Cỏ cao quá đầu, chân dẫm sương, mặt mày phờ phạc. Con đường xưa cũ một trăm năm đă thành con mương nước chảy, một dải bằng phẳng không thấy núi non. Một thân ḿnh lắm bệnh phải dấn ḿnh phơi bày nơi đường xá. Canh năm giấc mộng đă hết rồi lại tiếp tục mơ màng về chốn quê nhà. T́nh cờ ta gặp được một người khách đi về tṛ chuyện năm vừa rồi vào chầu vua, bỗng được cho trở về.


CHÚ THÍCH:

                                                        

 

水連  Thủy Liên: tên một vùng ở huyện Lệ Thủy, Quảng B́nh. Bài thơ được sáng tác trong thời gian được triều đ́nh thăng chức Đông Các học sĩ, tước Du Đức Hầu đi vào Huế nhận chức.
衰顏   suy nhan: vẻ mặt phờ phạc, hốc hác mệt nhọc.
    hác: mương hào cho nước chảy, hang hốc, trống hoác.
b́nh lâm: đến vùng bằng phẳng (lâm: đến).
 cung: bày ra, nuôi dưỡng.
   tục:  tiếp tục, tiếp nối, tiếp liền.
鄊關  hương quan: cổng làng quê, quê nhà.
歸客 qui khách hướng: khách quay hướng trở về.
  dư: ta, tôi.
  sạ: bất chợt, bỗng nhiên, không ngờ.
 phóng: tha, thả ra, buông thả.
     

 

 

 

 

 

Bài 20:

 

TẶNG NHÂN
 

   

 

 

Doanh doanh nhất thủy giới cô thôn,      盈盈一水界孤村
Trung hữu cao nhân bất xuất môn.        
中有高人不出門
Tiêu lộc mộng trường tâm bất cạnh,      
蕉鹿夢場心不競
Tần Tùy văng sự khẩu năng ngôn.        
秦隋往事口能言
Xuân vân măn kính quần mi lộc,           
春雲滿徑群麋鹿
Thu đạo đăng trường đốc tử tôn.          
秋稻豋場督子孫
Ngă dục quải quan ṭng thử thệ,           
我欲掛冠從此逝
Dữ ông thọ tuế lạc cầm tôn.
                 與翁壽歲樂琴樽

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

TẶNG BẠN

 

Thôn côi ranh nước tràn sông,

“Cao nhân” trong ấy đă không ra ngoài.

Không tranh mộng “chuối hươu” này,

Chuyện Tần Tùy cũ kể hoài thường luôn.

Lối hươu nai trải mây xuân,

Mùa thu lúa chín thúc đàn cháu con.

Mũ treo ta cũng rắp mong,

Gảy đàn, uống rượu cùng ông vui già.z

 

DỊCH NGHĨA:

Một ḍng sông đầy tràn nước làm ranh giới cho một thôn lẻ loi. Bên trong có bậc hiền nhân không hề ra ngoài cửa làng với cơi ḷng chẳng ham đua tranh, xem chuyện “dấu hươu bằng lá chuối” chỉ là giấc mộng. Vẫn thường kể những chuyện thời trước của đời Tần, đời Tùy. Vào mùa xuân, mây giăng khắp con đường của bầy hươu, lũ nai. Đến mùa thu khi loài lúa nước đă chín tới, vào đồng lúa đốc thúc con cháu gặt hái. Ta cũng muốn treo mũ quan theo ông không trở lại để cùng ông gảy đàn, uống rượu vui tuổi già.


CHÚ THÍCH:

 

 

盈盈 doanh doanh: tràn đầy, rất nhiều.
高人  cao nhân: người có sĩ khí, tâm hồn phóng khoáng cao thượng, hơn người. Cũng chỉ những người có học, thích đời sống ẩn dật an nhàn.
蕉鹿夢  tiêu lộc mộng: sách Liệt Tử (T.H) chép chuyện có người đi hái củi đánh chết được một con hươu đem giấu vào hang rồi lấy lá chuối rừng che lên. Sau quên bẳng không nhớ chỗ giấu hươu cho là giấc chiêm bao thôi.
秦隋  Tần Tùy: Tần là triều đại tiêu diệt nhà Chu và có công thống nhất Trung Hoa nhưng đường lối cai trị khắc nghiệt, tàn nhẫn. Tùy là triều đại lập nên bởi Dương Kiên (581-618) cũng có chính sách không hợp ḷng người. Cả hai triều đại đó khiến nhiều người phải t́m vào hoang sơn rừng thẳm để lánh nạn.
口能言  khẩu năng ngôn: miệng hay kể lể, tṛ chuyện.
掛冠  quải quan:  treo mũ quan chỉ việc từ quan về ẩn dật.
     

 

 

 


 

 

 

 

Xem BÀI SỐ 21, 22

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com