trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


NAM TRUNG TẠP NGÂM
(Tập 02)

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

  

 

 

 

Bài 14, 15, 16, 17, 18:
 

 

NGẪU HỨNG

 偶 興(五首)

                                                            

 

Tam nguyệt xuân th́ trưởng đậu miêu,    三月春長豆苗

Hoàng hồ ph́ măn, bạch hồ kiêu.            肥满白

Chủ nhân tại lữ bất quy khứ,                   主人在旅不歸去

Khả tích Hồng Sơn thuộc văn tiều.          可惜山屬晚樵

                                                                                                

 

Lô hoa sơ bạch, cúc sơ hoàng,                 蘆花初白菊初黃

Thiên lư hương tâm dạ cộng trường.        千里鄉心夜共長

Cưỡng khởi thôi song vọng minh nguyệt,  彊起推窗望明月

Lục âm trùng điệp bất di quang.               綠陰重疊不遺光


                                                                            

 

Nhất đái ba tiêu lục phúc giai,                一帶芭蕉綠覆階

Bán gian yên hỏa tạp trần ai.                   半間煙火雜塵埃

Khả liên đ́nh thảo sam trừ tận,                可憐庭草芟除盡

Tha nhật xuân phong hà xứ lai?                他日春風何處來

 

                                                                             

 

Cố hương cang hạn cửu phương nông,      故鄉亢旱久妨農

Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng.              十口孩兒菜色同

Thí tự thuần lô tối quan thiết,                   譬似蒪鱸最關切

Hoài quy nguyên bất đăi thu phong.          懷歸原不待秋風

 

                                                                             

 

Hữu nhất nhân yên lương khả ai,              有一人焉良可哀

Phá y tàn lạp sắc như hôi.                        破衣殘笠色如灰

Tị nhân đăn mịch đạo bàng tẩu,                避人但覓道傍走

Tri thị Thăng Long thành lư lai.                知是昇龍城裏來

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

NGẪU HỨNG

 

Bài 14

Đậu đâm chồi tháng ba xuân,

Vẻ kiêu, cáo trắng, cáo vàng béo phơi.

Trọ xa chủ chẳng về rồi,

Tiếc chiều Hồng Lĩnh giao người tiều phu.

Bài 15

Hoa lau vừa trắng, cúc vàng,

Ḷng quê ngàn dặm đêm càng dài mong.

Ngắm trăng sáng dậy đẩy song,

Râm dày, ánh sáng chớ ḥng lọt qua.

Bài 16

Chuối xanh một dăy đổ thềm,

Nửa gian khói bếp, lẫn chen bụi trần.

Khá thương cắt trụi cỏ sân,

Mai này đâu chỗ gió xuân đến rồi.

Bài 17

Quê nhà mùa mất, hạn lâu,

Miệng ăn, mười trẻ màu rau xanh cùng.

Thiết tha cá vược, rau thuần,

Gió thu chẳng đợi, nhớ nhung quay về.

Bài 18

Thương sao hiền hậu một người,

Sắc tro, áo rách nón cời tả tơi.

Đường bên vội bước tránh người!

Thành Thăng Long đến kia rồi mới hay.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Bài 14: Vào tháng ba của mùa xuân là lúc đậu đă đâm chồi lớn lên. Con cáo lông vàng béo to đầy đặn, c̣n con cáo lông trắng dáng vẻ kiêu hănh. Người chủ vẫn c̣n ở nơi đất khách xa xôi chưa quay trở về. Đáng tiếc thay dăy núi Hồng giao phó cho chú tiều phu đốn củi vào buổi chiều.

Bài 15: Những ngọn bông lau vừa chớm trắng và những hoa cúc cũng vừa mới bắt đầu có màu vàng. Ḷng thương nhớ quê hương ở xa ngàn dặm khiến cho đêm hôm càng dài thêm. Gượng dậy đẩy cửa sổ ngắm vầng trăng sáng. Bóng râm màu xanh lục dày đặc không để lọt ánh trăng vào.

Bài 16: Một dăy chuối bẹ xanh lục như đổ úp xuống thềm nhà.  Một nửa căn nhà lửa khói chen lẫn với bụi bặm. Đáng thương cho đám cỏ ngoài sân bị cắt trụi lủi. Mai này cơn gió xuân có nơi nào để đến đây?

Bài 17: Ở quê nhà nắng hạn đă lâu ngày, mùa màng bị tổn hại. Trẻ nhỏ mười miệng ăn cùng một màu với rau cỏ. Ví như quá đỗi tha thiết với món canh rau nhút hay con cá vược th́ đâu cần chờ đợi gió thu mới nhớ nhung chuyện quay về chốn cũ.

Bài 18: Có một người hiền lành và đáng thương sao! Áo quần rách bươm, chiếc nón cời tơi tả, vẻ mặt giống như màu tro. Đi vội vàng tránh người, chỉ kiếm đường đi ven bờ. Mới hay người ấy đến từ thành Thăng Long.

 

CHÚ THÍCH:

                                     

 

   miêu: lúa non, đâm chồi, mầm mống…
  kiêu: vẻ kiêu ngạo, kiêu kỳ, ra bộ hơn người.
  lữ: ở trọ nơi xa, đi xa, đất khách quê người.
    tích:   tiếc
    cưỡng: gắng gượng, gượng ép, cưỡng lại…
    thôi:   xô, đẩy ra.
綠陰  lục âm:   bóng râm, màu xanh lục đậm.
  di: để lọt ra, sót lại, chia lại, rơi mất…
  phúc: đổ ụp xuống, báo lại, trả lại, xét lại, tráo trở, lật nghiêng, không ngay ngắn.
  giai:  bậc thềm, bậc thang, thứ bậc…
   tạp: vụn vặt, tạp nhạp, chen lẫn, loang lổ, linh tinh.
  sam: cắt cỏ, trừ cỏ, nhổ cỏ.
phương: tổn hại, phương hại, thiệt tḥi, trở ngại…
  thái:  rau ăn được.
譬似  thí tự: nếu như, ví như.
  thuần: c̣n gọi là rau nhút hoặc rau rút.
最關切 tối quan thiết: quá đỗi cần thiết, rất quan tâm, rất thiết tha.
  yên: cách dùng thay thế sự vật; sao vậy, biểu thị nghi vấn, chữ đặt sau phó từ chỉ sự trạng, đồng thời là tên một loài chim màu vàng ở TH.
  lương: hiền lành, lương thiện, đàng hoàng.
sắc: màu sắc, vẻ mặt con người.
   hôi: tro tàn, màu tro sạm, xám xịt.
  mịch: t́m kiếm.
   tẩu: đi nhanh, chạy nhanh, vội vàng.
  lạp: nón đội che đầu làm bằng tre hoặc lá cọ.
     

 

 

 


 

 

 

 

Đón xem BÀI SỐ 19, 20

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |                 www.ninh-hoa.com