trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn
 

      cựu giáo sư triết  Trung Học Ninh Ḥa (1973-1975)

dạy văn Trung Học P.T. Nguyễn Trăi
Ninh Ḥa (1975-1976)

dạy văn Trung Học P.T. Nguyễn Huệ
Tuy Ḥa, Phú Yên (1976-1984)

 

* Đă xuất bản :

 

  Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh (2006)

Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi

(chuyển lục bát và

chú giải, 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 

 


BẮC HÀNH TẠP LỤC

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 


 Bài 92:



LIỄU HẠ HUỆ MỘ

柳下惠墓

 

Ngô Điếm kiều thông Tứ Thủy ba,     吳店橋通泗水波
Sĩ sư danh tích vị tiêu ma.                 
士師名蹟未消磨
Sự nhân trực đạo ninh tam truất,        
事人直道寧三黜
Tác thánh toàn công tại nhất ḥa.       
作聖全功在一和
Tương đối Ni Sơn trường hữu Lỗ,     
相對尼山長有魯
Khả liên Đạo Chích dĩ vô gia.          
可憐盜跖已無家
Bi tàn tự một mai hoang thảo.             
碑殘字沒埋荒草
Thiên cổ văn phong nhất há xa,          
天古聞風一下車

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

MỘ CỦA LIỄU HẠ HUỆ

 

Cầu Ngô, sông Tứ sóng vờn,

“Sĩ sư” chưa mất vẫn c̣n măi tên.

Đường ngay, chịu giáng ba phen,

Chữ “Ḥa” làm bậc thánh hiền trọn công.

Nước Lỗ c̣n, trước Ni Sơn,

Thương cho Đạo Chích vẫn không có nhà.

Cỏ vùi, bia chữ phôi pha,

Ngàn xưa nghe tiếng nên đà xuống xe.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Nước sông Tứ chảy qua cầu Ngô Điếm có sóng gợn. Dấu tích và tiếng tăm của quan sĩ sư vẫn chưa hề mất đi. Ông luôn lấy đạo ngay thẳng trong cách xử sự với người chung quanh và phải chịu ba lần giáng chức vẫn không đổi. Trọn vẹn công lao làm việc bậc thánh là nhờ đức “ḥa”. Phía trước của núi Ni Sơn, nước Lỗ vẫn c̣n dài lâu. Thương thay Đạo Chích vẫn là kẻ không nhà. Bia đă tàn phai, chữ trên bia đă mất và bị chôn vùi trong đám cỏ hoang. Đă nghe tiếng tăm của ông tự ngàn xưa lưu truyền nên ta đă xuống xe kính chào ông.

 

CHÚ THÍCH:

              

 

柳下惠  Liễu Hạ Huệ: tên thực là Triển Cầm, tự là Quí người đất Liễu Hạ thuộc nước Lỗ thời Xuân Thu. Ông làm quan sĩ sư v́ tính ngay thẳng nên bị giáng chức ba lần vẫn không bỏ nước mà đi. Khi được hỏi, ông đă trả lời: “Lấy đạo ngay thẳng mà đối xử với người, thế nào cũng phải chịu ba lần bị giáng chức.” Khi mất đi, vợ và học tṛ đặt tên thụy là Huệ.
吳店橋  Ngô Điếm Kiều: cầu Ngô Điếm bắc qua ḍng Tứ Thủy có ngôi mộ Liễu Hạ Huệ chôn ở đầu cầu.
泗水 Tứ Thủy: sông bắt nguồn từ vùng Sơn Đông, Trung Hoa chảy qua tỉnh Giang Tô rồi chảy vào Vận Hà.
士師   Sĩ sư:  chức quan coi việc h́nh ngục.
名蹟  danh tích:  tiếng tăm và dấu tích lưu truyền.
   truất: giáng chức, phế chức, không cho giữ chức cũ.
全功  toàn công: trọn vẹn công lao.
ninh: cam chịu, nhẫn nại, yên ổn, không dời đổi.
  ḥa: là một trong những đức tính của bậc quân tử và rộng hơn là bậc thánh nhân theo quan niệm của Nho giáo. Ḥa là sự “Trung ḥa” luôn giữ được sự từ tốn, trung thực, ngay thẳng. Và “khoan ḥa” là sự khoan dung, thong thả, xử sự lấy sự độ lượng, từ tốn làm mực thước. Liễu Hạ Huệ đă được Mạnh Tử tôn làm người đạt được đạo của thánh nhân: Mạnh Tử viết: “Thánh nhân bách thế chi sư dă: Bá Di, Liễu Hạ Huệ thị dă” (Mạnh Tử nói: bậc thánh nhân là người làm thầy cả trăm đời như ông Bá Di, Liễu Hạ Huệ đó) và Mạnh Tử đă khen ngợi Liễu Hạ Huệ: “Văn Liễu Hạ Huệ chi phong giả, bạc phu đôn, tỉ phu khoan”  (Nghe tiếng của Liễu Hạ Huệ về phong cách th́ kẻ thiển bạc cũng hóa ra người trung thực, đôn hậu, người quê mùa, thô lậu cũng trở nên rộng răi, từ tốn). Khoan tức là sự “khoan ḥa” từ tốn, nhẫn nại nhưng ung dung, tùy ḥa của Liễu Hạ Huệ. (xem thêm Mạnh Tử, Quyển 1 và 2, Trung Tâm Học Liệu Bộ Giáo Dục Sài G̣n 1972).
盜跖  Đạo Chích:

là em Liễu Hạ Huệ tên là Chích cầm đầu hàng ngàn tên trộm cướp hoành hành nhiều vùng ở nước Lỗ. V́ là kẻ cướp (đạo) nên Mạnh Tử gọi y là Đạo Chích. Về sau dân gian thường gọi kẻ trộm là bọn “đạo chích”.

聞風  văn phong: xem CT bên trên (Ḥa).
 

 

 

 

 

 

Bài 93:

 

 

TỪ CHÂU ĐẠO TRUNG

徐州道中


Tang Kiền nam hạ bạch vân đa,            桑乾南下白雲多
Thủy viễn sơn trường miết nhăn qua.   
水遠山長瞥眼過
Vạn lí lợi danh khu bạch phát,             
萬里利名驅白髮
Nhất thiên phong tuyết độ Hoàng Hà.  
一天風雪渡黃河
Mỗi liên cố thái duy cuồng tại,           
每憐故態惟狂在
Dục mịch tân hoan nại lăo hà?            
欲覓新歡奈老何
Nhương tận khổ hàn tam duyệt nguyệt,
攘盡苦寒三閱月
Lĩnh đầu lạc đắc khán mai hoa.
          嶺頭落得看梅花

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

TRÊN ĐƯỜNG ĐI TỪ CHÂU

 

Tang Kiền mây trắng phía nam,

Liếc nh́n sông núi ngút ngàn xa xa.

Lợi danh muôn dặm tóc pha,

Một trời gió tuyết Hoàng Hà vượt sông.

Thương cho thói cũ c̣n ngông,

Muốn t́m vui mới thế nhưng đă già.

Chịu ba tháng rét nữa là,

Đỉnh non cũng được thấy hoa mai rồi!

 

DỊCH NGHĨA:

 

Phía nam là ḍng sông Tang Kiều (Tang Càn) ở mạn dưới, mây trắng đầy khắp nơi. Liếc mắt nh́n qua thấy xa xa ḍng sông cùng với những dăy núi dài ngút ngàn. Muôn dặm đường v́ lợi danh ta phải dấn thân rong ruổi dù đầu tóc đă bạc phơ. Một bầu trời đầy gió tuyết phải vượt sang sông Hoàng. Thương cho ta vẫn c̣n thói quen ngông cuồng cũ. Muốn t́m kiếm thú vui mới mẻ nhưng sao tuổi đă già rồi! Chịu khó cho hết với sự buốt giá trong ba tháng nữa, cuối cùng ta cũng sẽ được ngắm hoa mai nở.

 

CHÚ THÍCH:

                                                        

 

徐州  Từ Châu: tên một trong chín châu được đặt ra từ thời Hạ nay thuộc tỉnh Giang Tô, Trung Hoa.
桑乾  Tang Kiền: hay Tang Càn là con sông phát xuất từ tỉnh Sơn Tây chảy vào Hà Bắc bên Trung Hoa.
miết: liếc nh́n, xem qua.
  khu: rong ruổi, dấn thân, chạy vạy, bôn chôn.
每憐 mỗi liên: thương cho ḿnh, thương cho ta.
故態  cố thái: thói quen hoặc tính nết, thái độ xưa cũ.
mịch: t́m kiếm.
攘盡  nhương tận:  chịu khó cho hết đi, nhịn cho hết.
  duyệt:

 từng trải, trải qua, xem xét, kiểm điểm lại, tóm lại, nhà lớn.

落得 lạc đắc: cuối cùng cũng được, cũng bị.
 

 

 

 

 

 

Xem Bài số 94-95

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com