trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn
 

      cựu giáo sư triết  Trung Học Ninh Ḥa (1973-1975)

dạy văn Trung Học P.T. Nguyễn Trăi
Ninh Ḥa (1975-1976)

dạy văn Trung Học P.T. Nguyễn Huệ
Tuy Ḥa, Phú Yên (1976-1984)

 

* Đă xuất bản :

 

  Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh (2006)

Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi

(chuyển lục bát và

chú giải, 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 

 


BẮC HÀNH TẠP LỤC

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 


 Bài 88:



ĐÔNG A SƠN LỘ HÀNH

東阿山路行


Đông A lộ xuất loạn sơn trung,      
東阿路出亂山中
Vạn thụ tùng sam nhất kính thông.   
萬樹松杉一逕通
Giản vụ tự sinh nghi ẩn báo,           
澗霧自生宜隱豹
Khê vân vô sự lăn ṭng long.          
溪雲無事懶從龍
Khâu lăng xứ xứ lưu tiền đại,        
丘陵處處留前代
Tang chá gia gia cận cổ phong.      
桑柘家家近古風
Tiếu ngă bạch đầu mang bất liễu,    
笑我白頭忙不了
Nghiêm hàn nhất lộ quá Sơn Đông.   嚴寒一路過山東

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

ĐƯỜNG ĐI VÙNG NÚI ĐÔNG A


Đông A đường núi ngổn ngang,

Tùng, sam muôn gốc, một đàng để thông.

Khe mù chỗ báo núp trong,

Biếng lười mây suối theo rồng phất phơ.

Khắp nơi thời trước mả mồ,

Nếp xưa dâu, chá tằm tơ mọi nhà.

Bận hoài, tóc bạc cười ta,

Sơn Đông lạnh buốt vượt qua con đường.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Con đường Đông A đi ra từ những ngọn núi ngổn ngang với một lối đi thông qua ngàn gốc cây tùng, cây sam. Hơi sương mù mịt từ khe bốc ra là chỗ để những con báo ẩn náu. Đám mây lười lĩnh nơi các khe suối phất phơ (không muốn) theo rồng. Khắp nơi có các mồ mả vẫn c̣n in dấu vết của các thời đại trước đây. Nhà nhà theo nếp xưa vẫn trồng cây dâu, cây chá (để nuôi tằm, dệt tơ). Ta cười rằng mái đầu bạc trắng cứ măi lận đận, bận bịu không thôi. Con đường đi qua Sơn Đông trời buốt giá.

 

CHÚ THÍCH:

              

 

東阿  Đông A:  tên một huyện vùng núi ở Sơn Đông, Trung Hoa.
  nghi:  đúng chỗ, thích hợp, đáng nên. Theo “Liệt nữ truyện” (Trung Hoa), người vợ Đào Đáp Tử đă nói với chồng: “Thiếp nghe nói trên núi Nam Sơn có con báo đen, trời đầy sương mù nên không xuống núi kiếm ăn v́ sự ướt bộ lông đẹp của nó”. Đây là ẩn ư của vợ Đáp Tử muốn chồng nên ở ẩn để giữ ǵn tính cách của ḿnh. Bản thân Nguyễn Du vẫn thường mơ ước về cuộc sống ung dung, tự tại vui thú chốn núi Hồng, sông Lam (xem Thanh Hiên Tiền Hậu Tập và Nam Trung Tạp Ngâm).
  lăn: lười biếng, không muốn làm ǵ.
從龍  ṭng long: đi theo loài rồng. Kinh Dịch (Trung Hoa) có câu: “Vân ṭng long, phong tong hổ” (Mây theo rồng, gió theo hổ) để nói đến sự phù hợp với nhau giữa các loài, các vật hoặc tôi hiền và vua giỏi.
  chá: một loại cây có lá như lá dâu có thể dùng cho tằm ăn để lấy kén làm tơ. Có khi cũng viết là giá.
   mang:  bận rộn không rảnh rang.
liễu: xong, hết, chấm dứt.
 

 

 

 

 

 

Bài 89:

 

 

QUẢN TRỌNG TAM QUI ĐÀI

    管仲三歸臺

 

Cựu đài nhân một, thảo ly ly,               舊臺湮沒草離離
Tằng dĩ Hoàn Công bá nhất th́.           
曾以桓公霸一時
Quận huyện thành trung không cửu hợp,
郡縣城中空九合
Môi đài thạch thượng kư Tam Quy.       
莓苔石上記三歸
Tại triều xảo dữ quân tâm hợp,             
在朝巧與君心合
Một thế chung liên tướng nghiệp ti.       
沒世終憐相業卑
Hỉ trị thánh triều công phú đảo (đào),    
喜值聖朝公覆

Văng lai đài hạ tạp Hoa, Di.                   往來臺下雜華夷

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

ĐÀI TAM QUI CỦA QUẢN TRỌNG

 

Đài xưa cỏ lấp nơi nơi,

Từng làm giúp “bá” một thời Hoàn Công.

Trong thành thôi họp “chín lần”,

“Tam Qui” ghi đá phủ tràn cỏ rêu.

Ḷng vua khéo hợp tại triều,

Tầm thường nghiệp tướng tiếc điều mất đi!

An vui triều thánh chở che,

Lại qua xen lẫn Hoa Di bao người.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Đài xưa đă bị ch́m lấp bởi cỏ mọc tua tủa. Ông đă từng giúp cho Tề Hoàn Công làm nên nghiệp bá một thời. Trong các thành ở các quận, huyện không c̣n chín lần cho mời họp các chư hầu nữa. Cỏ rêu đă phủ tràn lên trên tấm đá có ghi chữ “Tam Qui”. Trong triều đ́nh, ông rất khéo léo hợp với ḷng vua. Rốt cuộc khi đă mất đi tiếc là nghiệp tướng cũng tầm thường. Mừng là gặp lúc triều đ́nh có vua thánh che chở chung trùm khắp mọi nơi nên người Hoa, người Di mới qua lại chen lẫn với nhau.


CHÚ THÍCH:

                                                        

 

三歸臺  Tam Qui đài: đài do Quản Trọng xây ở đất Tam Qui khi về già sau khi giúp Tề Hoàn Công dựng nên nghiệp bá. Quản Trọng người đời Xuân Thu có tên là Di Ngô người đất Dĩnh Thượng nước Tề (nay thuộc Sơn Đông, Trung Hoa). Từng làm bề tôi cho công tử Củ, sau nhờ bạn tri giao là Bảo Thúc Nha đang là bể tôi của Hoàn Công giới thiệu được cất nhắc làm tướng quốc nước Tề giúp Hoàn Công chín lần triệu tập các chư hầu (cửu hợp) nghe theo nước Tề, tôn Tề làm bá chủ. Nước Tề dưới sự điều hành của Quản Trọng trở nên giàu mạnh, binh lực vững vàng khiến chư hầu qui phục.
    nhân: ch́m mất, ch́m đắm.
   một: mất đi, ch́m không c̣n thấy.
離離   ly ly: tua tủa, tràn lan.
  xảo: khéo léo, biết sắp xếp, tùy thuận.
  ti: hèn kém, ti tiện, tầm thường, hèn mọn… Trong Luận Ngữ, Khổng Tử đă cho rằng con người Quản Trọng là “chí khí tiểu tai” (khí nhỏ mọn). C̣n Mạnh Tử lại thêm là: “…Quản Trọng sự nghiệp cũng tầm thường” (Quản Trọng đắc quân… công liệt như bỉ kỳ ti dă…”_Mạnh Tử T.2_Thiên Công Tôn Sửu Chương cú thượng).
喜值   hỉ trị: việc cai trị lấy t́nh người làm gốc đem lại sự an vui cho mọi người dân.
  phú đào: “phú” là âm của “phúc” có nghĩa là che chở, che đậy, che trùm; c̣n đào là âm của “trù” có nghĩa là che đậy, màn che. Đây có nghĩa là ơn đức của triều đ́nh khi có bậc vua thánh là vị vua thương yêu dân và sáng suốt giúp che chở trùm lên tất cả mọi người dân trong nước.
華夷  Hoa, Di: người Trung Hoa thuở xưa vẫn cho rằng người Hoa (gốc Hán tộc) ở trung nguyên là trung tâm của nền văn minh, văn hóa mẫu mực và xem các nước chung quanh từ phía bắc cho đến phía nam là các nước Man Di, nghĩa là nước c̣n mọi rợ, lạc hậu. Họ gọi các tộc phía đông là Di và ở phía bắc là Địch và ở phía nam là Man đều là những từ miệt thị của nước lớn đối với các nước nhỏ! Quản Trọng đề ra chính sách tôn theo đường lối nhà Chu trấn áp các bộ tộc ngoài biên giới, gọi họ là “man”, là “di”. Sau này, khi Trung Hoa lớn mạnh, thâu tóm nhiều vùng đất và đồng hóa các bộ tộc khác đều lấy chế độ nhà Hán làm mẫu mực cai trị, sự kỳ thị đối với các nước nhỏ chung quanh tuy đă giảm nhưng vẫn c̣n măi đến nay. Văn minh, văn hóa Trung Hoa tuy có nhiều cái hay nhưng óc năo coi thường và hiếp đáp các nước yếu như các thời Xuân Thu, Tam Quốc xưa kia vẫn c̣n đó.
 

 

 

 

 

 

Xem Bài số 90-91

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com