trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn
 

      cựu giáo sư triết  Trung Học Ninh Ḥa (1973-1975)

dạy văn Trung Học P.T. Nguyễn Trăi
Ninh Ḥa (1975-1976)

dạy văn Trung Học P.T. Nguyễn Huệ
Tuy Ḥa, Phú Yên (1976-1984)

 

* Đă xuất bản :

 

  Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh (2006)

Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi

(chuyển lục bát và

chú giải, 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 

 


BẮC HÀNH TẠP LỤC

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 


 Bài 86:



KỲ LÂN MỘ

麟墓

 

1    Hà Bắc đạo trung ngũ xích phong bi đương đại lộ, 

河北道中五尺豐碑當大路
Trung hữu khải tự đại thư: “kỳ lân mộ.”

中有楷字大書麟墓
Đạo bàng cố lăo vị dư ngôn:  
道傍故老為余言

4     “Vĩnh Lạc tứ niên cống lân đạo tử táng thử thổ.

永樂四年貢麟道死喪此土
Quan mệnh lập bi dụng tồn cố,” 
官命立碑用存故
Thử sự hất kim dĩ kinh cổ.         
此事迄今已經古
Đăn kiến quan đạo đăng đăng vô khâu lăng,

 但見官道蕩蕩無丘陵

8     Kỳ bàng bất phong diệc bất thụ. 其旁不封亦不樹
Phiến thạch khuynh khi đài tiễn man,
片石傾
苔蘚蔓
Thê phong triêu xuy mộ khổ vũ.      
淒風朝吹暮苦雨
Hu ta! lân hề! hà do đổ?                 
吁嗟麟兮何由睹

12   Hu ta! lân hề! thiên thượng tường. 吁嗟麟兮天上祥
Cốt nhục ủy chi trùng nghĩ đố,        
骨肉委之
蛾蠹
Lân hề! lân hề! nhĩ hà khổ!               
麟兮麟兮爾何苦
Hà huống Yên Đệ hà như nhân?        何況燕棣何如人

16   Đoạt điệt tự lập phi nhân quân. 奪姪自立非仁君
Bạo nộ nhất sính di thập tộc,           
暴怒一逞夷十族
Đại bổng cự hoạch phanh trung thần.
大棒巨鑊烹忠臣
Ngũ niên sở sát bách dư vạn,           
五年所殺百餘萬

20   Bạch cốt thành sơn địa huyết an. 白骨成山地血殷
Lân hề! quả vị thử nhân xuất,           
麟兮果為此人出
Đại thị yêu vật hà túc trân,              
大是妖物何足珍
Hoặc thị nhĩ sinh bất nhẫn kiến sát lục.

或是爾生不忍見殺

24   Tiên tựu thử địa quyên kỳ thân,  先就此地捐其身
Hu ta! nhân thú hề kỳ lân!               
吁嗟仁獸兮

Ư thế bất kiến dĩ vi tường,             
於世不見以為祥
Kiến chi bất quá đồng khuyển dương.
見之不過同犬羊
Nhược đạo năng vị thánh nhân xuất, 
若道能為聖人出

29   Đương thế hà bất nam du tường.  當世何不南遊翔

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

MỘ KỲ LÂN

 

1            Bia cao năm thước giữa đường,

Chữ “Kỳ Lân Mộ” to đùng nét chân.

Chuyện tṛ ông lăo bên đàng:

4a   “Năm tư Vĩnh Lạc cống dâng lân này

4b           Dọc đường lân chết chôn đây.

Quan ghi chuyện cũ bia bày c̣n nơi! ”

Đến nay việc ấy lâu rồi,

Thấy chăng g̣ đống rộng vời mênh mang!

8            Không mồ, cây cối bên đàng,

Ngă nghiêng phiến đá, rêu lan phủ đầy.

Mưa chiều, gió sớm lạnh thay!

Than ôi! Lân hỡi! Thấy mày nơi nao?

12           Điềm lành lân hỡi trời cao!

Thịt xương giao bỏ cho sâu kiến rồi.

Lân ơi! Sao khổ lân ơi!

Huống chi Yên Đệ là người ra sao?

16           Cướp ngôi cháu, chẳng nhân nào!

Cả mười tộc họ, giận trào giết toi!

Tôi trung nấu vạc, đánh roi,

Giết hơn trăm vạn con người năm năm.

20           Núi xương, đất đẫm máu tràn,

Ôi v́ kẻ ấy mà lân ra đời.

Quái yêu quí báu ǵ ngươi!

Hoặc không nỡ thấy giết người phanh thây!

24           Bỏ thân chết trước đất này?

Ôi lân! Loài thú như mày có nhân.

Ở đời không thấy cho lành,

Thấy như dê chó cùng ngành đó thôi!

Nếu v́ bậc thánh ra đời,

29   Phương nam sao chẳng lượn chơi bấy giờ?

 

DỊCH NGHĨA:

 

Giữa đường đi Hà Bắc bên con đường lớn, có tấm bia cao năm thước. Trên tấm bia có viết chữ thật to theo lối chữ “khải” ngay ngắn, rơ ràng: “Kỳ lân mộ”. Ông lăo ở cạnh đường đă nói với ta: “Đời Vĩnh Lạc, năm thứ tư đem con lân cống nạp vua trên nhưng dọc đường bị chết, đem chôn tại nơi này. Quan trên đă sai dựng tấm bia để ghi lại chuyện cũ”. Chuyện này xảy ra cũng đă lâu năm rồi. Chỉ thấy bên cạnh đường chẳng có mă mồ được đắp hoặc cây cối nào cả. Tấm bia đá ngă nghiêng, rêu phủ tràn lan. Buổi sáng sớm có những cơn gió lạnh thổi, c̣n chiều đến th́ mưa tầm tả. Than ôi! Kỳ lân hỡi! Làm sao thấy mày đây?! Than ôi! Kỳ lân hỡi! Lân là điềm tốt lành của trời cao mà xương thịt lại giao cho loài sâu kiến, mối mọt? Kỳ lân ôi! Kỳ lân hỡi! Sao mày lại khổ thế này? Huống chi Yên Đệ là người thế nào? Cướp đoạt ngôi vua của cháu, tự dựng ḿnh làm vua đâu phải là bậc vua có đức “nhân”! Một lần cho thỏa cơn giận dữ, y đă cho giết cả mười ḍng họ và dùng trượng lớn đánh đập rồi y lại cho đun nấu vạc to giết các bề tôi trung. Trong ṿng năm năm, y đă cho giết hơn trăm vạn người. Xương trắng đă thành núi, máu đă đỏ sẩm cả mặt đất. Kỳ lân hỡi! Nếu v́ người này mà mày ra đời th́ đó chỉ là loài yêu quái chứ đâu phải là con vật đáng quí! Hoặc là mày không nỡ nào nh́n thấy cảnh giết chóc phanh thây nên đến nơi này mày đă bỏ thân trước cho xong? Than ôi! Kỳ lân là loài thú có đức “nhân”, ở đời này chẳng hề thấy bao giờ nên cho là điềm tốt lành. Thấy th́ chẳng qua cùng loại với chó dê mà thôi. Nếu bảo rằng v́ có thánh nhân ra đời mà xuất hiện kỳ lân th́ cớ sao thời bấy giờ không lượn chơi ở đất phương nam?
 

CHÚ THÍCH:

              

 

kỳ lân:

theo truyền thuyết Trung Hoa và các sách cổ của nước này, kỳ lân là loài thú có thân h́nh nai hoặc hươu, đuôi giống đuôi trâu, đầu có bờm lông với mắt to với một sừng trên trán. Lần đầu lân xuất hiện khi đó báo tin sự chào đời của bậc thánh nhân là Đức Khổng Tử. Về sau, dân gian truyền rằng kỳ lân xuất hiện sẽ báo hiệu là có sự ra đời của bậc vua chúa sáng suốt, nhân đức hoặc bậc thánh nhân đem lại sự tốt lành cho nhân dân. Dân gian cũng cho rằng kỳ lân (kỳ: con đực, lân: con cái) là con vật hiền lành không ăn và giẫm đạp lên vật sống nên là loài thú có ḷng nhân (nhân thú).

楷字 khải tự: chữ “khải” là lối viết chân phương, ngay ngắn, thẳng hàng và rơ nét của chữ Hán.
永樂 Vĩnh Lạc:

niên hiệu của Minh Thành Tổ (1403-1424) tức là Chu Đệ, con thứ sáu của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương (1368-1398) được phong tước Vương coi đất Yên (thuộc vùng Trực Lê ngày nay). Y là kẻ cướp ngôi vua của cháu là Minh Huệ Đế (1399-1402) bắt đại thần là Phương Hiếu Nhụ thảo chiếu lên ngôi nhưng Hiếu Nhụ là bậc trung thần chỉ viết bốn chữ: “Yên tặc thoán vị” (Giặc Yên cướp ngôi vua) rồi ném bút. Yên Đệ giận dữ cho hành h́nh chín họ (từ tổ, cố, ông, cha, con, cháu, chút, chít và bản thân kẻ chịu tội) cộng với các học tṛ của Nhụ thành mười họ. Riêng trong bài này, Nguyễn Du đă mượn cái chết của con kỳ lân để mạt sát việc Minh Thành Tổ đă cho quân xâm lăng nước ta gây ra hàng trăm vạn cái chết cho nhiều người dân nước Nam. Lịch sử của nước Nam ta gắn liền với rất nhiều trận đương đầu và quật khởi đánh đuổi quân xâm lăng phương Bắc cả ngàn năm nay, trong đó cuộc xâm lăng của giặc Minh đă bị đánh bại bởi người anh hùng áo vải Lam Sơn là vua Lê Lợi cùng những nho sĩ giàu tâm huyết và khôn ngoan như Nguyễn Trăi (xem Ức Trai Di Tập).Trong “Quân trung từ mệnh tập” và “B́nh Ngô đại cáo”, tội xâm lăng nước ta gây ra biết bao thảm cảnh của quân Minh xâm lược do Chu Đệ Minh Thành Tổ sai phái đă được Ức Trai tiên sinh vạch rơ.

蕩蕩 đăng đăng: sự rộng lớn.
phong: đất đá đắp cao để làm mồ mă, phong tước, giàu có, lớn lao, giới hạn…
man: ḅ lan ra trên mặt đất.
thê: lạnh lẽo, buồn bă.
苦雨 khổ vũ: mưa dầm dề, tầm tả.
吁嗟 hu ta:  than ôi, chao ôi, tiếng than.
đổ: nh́n, trông thấy.
tường: điềm báo sự tốt lành.
ủy: giao cho, bỏ đi, theo…
sính: hả ḷng, thỏa ư, thích ư, buông tuồng.
hoạch: cái vạc nấu nước sôi hoặc nấu dẩu.
phanh:  đun, nấu.
an: màu đỏ sẫm (âm của “ân”: lớn, đông đảo, giàu có, chính đáng, nhà Ân bên Trung Hoa…).
tựu: theo đến, tới nơi, làm nên…
quyên: bỏ đi, từ bỏ, quyên góp, ṿng xe.
ư: lời than, ở tại.
đạo: con đường, dẫn dắt, nói, lư lẽ nhất định, đạo giáo…
tường: bay lượn, hiểu rơ.
     

 

 

 

 

 

Bài 87:

 

 

ĐÔNG LỘ

東路

 

Thái Sơn sơn sắc măn Thanh, Từ,    泰山山色滿青徐
Thiên lư Sơn Đông túng mục sơ.    
千里山東縱目初
Hà xứ thánh hiền tùng bách hạ?       
何處聖賢松柏下
Biệt thành huyền tụng Lỗ, Trâu dư.  
別城絃誦
鄒餘
Tha hương nhan trạng tần khai kính, 
他鄉顏狀頻開鏡
Khách lộ trần ai bán độc thư.           
客路塵埃半讀書
Hành sắc thông thông tuế vân mộ,    
行色匆匆歲

Bất câm bằng thức thán “qui dư”.     不禁憑
歎歸與

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

ĐƯỜNG ĐI PHÍA ĐÔNG

 

Màu non Thái khắp Thanh, Từ,

Sơn Đông ngàn dặm mắt chừ mở trông.

Thánh hiền đâu chốn bách tùng,

Sách đàn Trâu, Lỗ vẹn c̣n riêng thôi.

Quê người nét mặt thường soi,

Nửa dành đọc sách đường xuôi bụi tràn.

Đi nhanh, năm cũng sắp tàn,

Dựa xe buộc tiếng thở than: “Hăy về!”

 

DỊCH NGHĨA:

 

Sắc màu của núi Thái Sơn tỏa khắp vùng châu Thanh, châu Từ. Mở rộng tầm mắt ra ngàn dặm khi lần đầu ngắm nh́n tỉnh Sơn Đông. Bậc thánh hiền dưới cội tùng, cội bách kia ở chốn nào? Tiếng gảy đàn, đọc sách ở các thành vùng Trâu, Lỗ vẫn riêng c̣n. Nơi quê người vẫn thường soi gương xem vẻ mặt thay đổi của ḿnh. Người khác đi trên đường bụi bặm đă dành nửa thời giờ để đọc sách với dáng đi vội vàng v́ năm cũng sắp hết rồi. Ta dựa vào đ̣n ngang của chiếc xe chẳng ngăn được tiếng than: “Hăy về đi thôi!”.

 

CHÚ THÍCH:

                                                        

 

東路  đông lộ: đường đi ở phía đông khi sứ đoàn của Nguyễn Du được lệnh thay đổi đường đi theo hướng Sơn Đông, An Huy, Hồ Bắc, Quảng Tây.
泰山  Thái Sơn: một trong những ngọn núi cao ở phía bắc Trung Hoa, thuộc tỉnh Sơn Đông có hai châu tên là châu Thanh và châu Từ.
  túng: mở ra, buông thả, phóng mắt nh́n.
山東 Sơn Đông: vùng đất nổi tiếng ở bên Trung Hoa thời trước với đức Khổng Tử là người nước Lỗ và Mạnh Tử là người nước Trâu. Đây cũng là vùng đất chăm chút học hành đạo thánh hiền (qua h́nh tượng sách và đàn).
  dư: dư dă, no đủ, vẫn c̣n, c̣n lại.
  trạng: t́nh trạng, t́nh huống, bày tỏ, trần thuật.
  tần: măi luôn, vẫn thường, gần, đều đặn, nhăn mày.
  vân: theo về, nói rằng, có, dựa vào, như thế.
不禁  bất câm: chẳng chịu được, chẳng đặng đừng, chẳng ngăn.
  dư: tiếng than, cảm than, khí từ từ bay ra. “Qui dư”: Nguyễn Du mượn câu nói của Khổng Tử khi muốn quay về v́ không được các nước chư hầu tin dùng.
     

 

 

 

 

 

Xem Bài số 88-89

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com