trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn
 

      cựu giáo sư triết  Trung Học Ninh Ḥa (1973-1975)

dạy văn Trung Học P.T. Nguyễn Trăi
Ninh Ḥa (1975-1976)

dạy văn Trung Học P.T. Nguyễn Huệ
Tuy Ḥa, Phú Yên (1976-1984)

 

* Đă xuất bản :

 

  Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh (2006)

Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi

(chuyển lục bát và

chú giải, 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 

 


BẮC HÀNH TẠP LỤC

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 


 Bài 84:



TÂY HÀ DỊCH

    西河驛

 

Thanh thạch kiều tây ngạn,                   青石橋西岸
Y nhiên tiểu lư lư.                               
依然小里閭
Đạo bàng nhân ngữ tạp,                       
道傍人語雜
Ốc hậu trúc âm sơ.                               
屋後竹陰疏
Ḥa bản cung thần thiếu,                      
禾本供晨燒
Xuân liên đăi tuế trừ.                           
春聯待歲除
Tương phùng vô biệt thoại,                  
相逢無別話
Nhất tiếu ư hà như.                                一笑意何如

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

TRẠM TÂY HÀ

 

Xanh xanh cầu đá bờ tây,

Xóm quê nhỏ vẫn thế này thuở nao.

Bên đường người nói lao xao,

Lưa thưa bóng trúc phía sau nếp nhà.

Sớm mai rạ đốt bày ra,

Xuân về câu đối đợi là cuối năm.

Chia tay gặp chẳng nói năng,

Cười thôi không biết ư rằng sao đây!

 

DỊCH NGHĨA:

 

Về phía tây của chiếc cầu đá màu xanh là một xóm quê nhỏ vẫn y như thuở nào. Cạnh đường, có tiếng người nói lao xao. Sau nếp nhà có bóng hàng trúc thưa thớt. Sớm mai, đốt những gốc rạ dùng để đun nấu. Những câu đối dùng cho mùa xuân đợi đến ngày cuối năm. Khi gặp nhau không có lời từ giă; chỉ một tiếng cười thôi không biết ư như thế nào đây?

           

CHÚ THÍCH:

              

 

里閭  lư lư: cổng làng, xóm quê, làng thôn.
依然  y nhiên: như cũ, như thuở nào, như thế.
  tạp: tạp nhạp, lộn xộn, phức tạp…
  thiếu: âm của thiêu (đốt cháy) có nghĩa là phóng lửa để đốt, sức nóng của lửa.
禾本   ḥa bản: gốc cây lúa sau khi gặt, gốc rạ.
   liên: câu đối.
歲除   tuế trừ: ngày cuối năm trước khi qua năm mới.
無別話  vô biệt thoại: không nói lời từ giă lúc chia tay.
     

 

 

 

 

 

Bài 85:

 

 

SỞ KIẾN HÀNH

所見行

 

1        Hữu phụ huề tam nhi,               有婦攜三兒
Tương tương tọa đạo bàng.               
相將坐道旁
Tiểu giả tại hoài trung,                       
小者在懷中

4        Đại giả tŕ trúc khuông.             大者持竹筐
Khuông trung hà sở thịnh?                
筐中何所盛
Lê hoắc tạp t́ khang.                         
藜藿雜枇糠
Nhật yến bất đắc thực,                       
日晏不得食

8        Y quần hà khuông nhương!        衣裙何框禳
Kiến nhân bất ngưỡng thị,                 
見人不仰視
Lệ lưu khâm lang lang.                      
淚流襟浪浪
Quần nhi thả hỉ tiếu,                          
群兒且喜笑

12      Bất tri mẫu tâm thương.           不知母心傷
Mẫu tâm thương như hà?                  
母心傷如何
Tuế cơ lưu dị hương.                         
歲饑流異鄉
Dị hương sảo phong thục,                 
異鄉稍豐熟

16      Mễ giá bất thậm ngang.            米價不甚昂
Bất tích khí hương thổ,                      
不惜棄鄉土
Cẩu đồ cứu sinh phương.                   
苟圖救生方

Nhất nhân kiệt dung lực,                    一人竭傭力

20      Bất sung tứ khẩu lương.           不充四口糧
Duyên nhai nhật khất thực,               
沿街日乞食
Thử kế an khả trường?                       
此計安可長
Nhăn hạ ủy câu hác,                           
眼下委溝壑

24      Huyết nhục tự sài lang.             血肉飼豺狼
Mẫu tử bất túc tuất,                           
母死不足恤

Phủ nhi tăng đoạn trường.                  撫兒增斷腸
Kỳ thống tại tâm đầu,                       
奇痛在心頭

28      Thiên nhật giai vị hoàng.         天日皆為黃
Âm phong phiêu nhiên chí,                
陰風飄然至
Hành nhân diệc thê hoàng.                
行人亦悽惶
Tạc tiêu Tây Hà dịch,                       
昨宵西河驛

32      Cung cụ hà trương hoàng!         供具何張黃
Lộc cân tạp ngư sí,                             
鹿筋雜魚翅
Măn trác trần trư dương.                   
滿
陳豬羊
Trưởng quan bất hạ trợ,                     
長官不下箸

36      Tiểu môn chỉ lược thường.       小們只略嘗
Bát khí vô cố tích,                              
撥棄無顧惜
Lân cẩu yếm cao lương.                     
鄰狗厭膏粱
Bất tri quan đạo thượng,                    
不知官道上

40      Hữu thử cùng nhi nương.          有此窮兒娘
Thùy nhân tả thử đồ,                          
誰人寫此圖

42      Tŕ dĩ phụng quân vương?         持以奉君王

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

BÀI HÀNH VỀ NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY

 

1   Ba con mẹ dắt theo bên,

Cùng nhau ngồi bệt ở ven vệ đường.

Trẻ con bé ẳm trong ḷng,

4     Lớn hơn, trẻ xách tre lồng giỏ vuông.

Giỏ này đựng vật ǵ trong?

Lẫn cùng lê, hoắc, trái rừng, trấu thôi!

Cái ăn không có, muộn rồi,

8     Áo quần tơi tả lôi thôi ra ǵ!

Gặp người dám ngước nh́n chi,

Đầm đ́a vạt áo, lệ th́ tuôn rơi.

Trẻ con đùa giỡn vui cười,

12   Biết đâu ḷng mẹ tơi bời xót đau.

Xót đau ḷng mẹ ra sao?

Mất mùa lưu lạc phương nào khác quê.

Quê người mùa lúa chín về,

16    Giá mùa gạo cũng được bề không cao.

Đất quê bỏ chẳng tiếc nào,

Tạm t́m cách sống được sao lúc này.

Một người nhọc hết sức đây,

20   Gạo không nuôi đủ được thay bốn người.

Xin ăn ven lộ lần hồi,

Cách này yên ổn dài hơi được nào!

Mắt trông: thây bỏ xó hào,

24   Ḱa là máu thịt xơi ào bầy lang!

Mẹ dầu có chết chẳng màng,

Vỗ về con trẻ ruột càng đớn đau.

Trong ḷng đau đớn làm sao!

28   Ban ngày vàng úa trời cao một màu.

Gió về lành lạnh bỗng đâu!

Người đi sầu thảm dâng trào xót xa.

Đêm qua trạm nghỉ Tây Hà,

32   Thức ăn lắm thứ bày ra dư dùng.

Gân hưu, vây cá lẫn cùng,

Thịt dê, thịt lợn bày chung cao đầy!

Quan trên chẳng xuống đũa ngay!

36   Bọn theo chỉ nếm thức bày qua thôi!

Đồ thừa bỏ chẳng tiếc rồi,

Món ngon chó xóm chán xơi no đầy.

Đường quan nào có ai hay?

40   Mẹ con khốn khổ thế này v́ sao?

Tranh này ai vẽ cho nào?

42   Giúp dâng vua ở trên cao thấu cùng!

 

DỊCH NGHĨA:

 

Có người đàn bà dẫn theo ba đứa con, cùng nhau ngồi ở ven lề đường. Đứa trẻ nhỏ bồng ẳm trong ḷng, đứa trẻ lớn th́ xách chiếc giỏ tre đan h́nh vuông. Trong giỏ đựng ǵ nào? Rau lê, rau hoắc lẫn với trái cây rừng và vỏ trấu thôi. Trời đă muộn rồi mà thức ăn vẫn chưa có. Áo quần th́ rách bươm tơi tả, không dám ngước lên nh́n khi gặp người. Nước mắt tuôn chảy không ngớt đẫm ướt vạt áo. Trẻ nhỏ vẫn cười đùa, vui giỡn nào biết ḷng mẹ đau đớn, xót xa! Ḷng mẹ đau đớn, xót xa như thế nào? Gặp năm mất mùa phải lưu lạc nơi quê người. Quê người lúa dù không nhiều mà giá gạo cũng không cao lắm. Bỏ đất làng quê hương đi cũng chẳng tiếc ǵ, chỉ tạm thời t́m cách để sống c̣n thôi. Một người khó nhọc làm lụng hết sức cũng không đủ nuôi bốn miệng ăn. Đi xin ăn dọc đường mỗi ngày th́ cách ấy đâu thể ổn định lâu dài. Mắt như trông thấy xác nằm trong xó hào mương rănh giao phó máu thịt cho lũ chó sói ăn. Mẹ dẫu có chết cũng chẳng màng, ruột đau như cắt khi an ủi các con. Đau đớn trong ḷng cùng tột! Mặt trời trông vàng vọt buồn sầu. Bỗng đâu cơn gió lạnh thổi đến, người đi đường cũng cảm thấy thê thảm. Đêm hôm qua ở trạm nghỉ chân Tây Hà, thức ăn cung ứng sao mà quá cao đầy như thế? Nào là gân hưu lẫn cùng với vây cá , bày biện trên bàn cao đầy với thịt dê, thịt lợn. Quan trên chẳng đụng đũa để gắp, c̣n người bên dưới đi theo chỉ nếm các thức qua loa. Đồ đem đổ bỏ đi không hề tiếc. Con chó hàng xóm thức ngon cũng chán chê! Có biết đâu trên đường đi có mẹ con khốn khổ như thế kia! Ai là người vẽ bức tranh này để giúp dâng lên cho nhà vua đây?


CHÚ THÍCH:

                                                        

 

  hành: khúc nhạc phủ thời xa xưa bên Trung Hoa. Chẳng hạn như  “Trường Can Hành”, “Hiệp Khách Hành” của Lư Bạch, “Binh Xa Hành, T́ Bà Hành” của Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị… C̣n có nghĩa là bước đi, đường đi, trải qua, trôi chảy, lại…
  huề: dắt dẫn, cầm nắm dẫn đi.
竹筐  trúc khuông:  giỏ đan bằng tre h́nh vuông, chỉ chung các giỏ tre đựng đồ.
藜藿  lê hoắc: tên hai loại rau tầm thường có thể ăn được.
  t́: tức cây t́ bà có lá dùng làm thuốc, trái có thể ăn được.
   khang:  trấu, vỏ thóc sau khi lấy hạt bên trong.
yến: trời trong sáng, trưa muộn, yên ổn (nhiều sách dịch âm là “án”).
框禳  khuông nhương: khuông là rèm cửa có tua, khuông cửa; nhương: là vải cột lại nhiều màu sắc để xua đuổi tà ma. Đây chỉ sự tả tơi, rách nát của vải vóc, quần áo.
浪浪   lang lang: nước tuôn chảy không ngớt.
歲饑  tuế cơ: năm đói kém, mất mùa.
稍豐熟  sảo phong thục: lúa, ngũ cốc chỉ mới bắt đầu chín, c̣n ít ỏi.
米價  mễ giá: giá của gạo, lúa.
  ngang: giá cao, đưa lên cao.
  cẩu: tạm bợ, tạm thời.
sung: đầy đủ
沿  duyên: ven bờ, men theo, ven đường, noi theo.
  ủy: giao cho, giao phó, phó mặc, vất bỏ.
溝壑  câu hác: ng̣i rảnh, hào mương và hốc, xó.
   tự: cho thú vật ăn, cho ăn.
  tuất: nghĩ đến, đoái nghĩ, thương xót, màng đến.
  thống: rất đau đớn, đau tột cùng.
  phiêu: gió thổi nhẹ hiu hiu.
悽惶 thê hoàng: buồn sầu thê thảm, buồn thảm thiết.
張黃  trương hoàng: bày biện, sắp xếp, phô trương to lớn.
trác: cao ngút, cái bàn, đứng thằng.
   trần: bày biện, sắp đặt, nêu lên, nói ra.
   thường: nếm thử, trải qua, thử qua, đi qua…
  yếm: chán chê, no nê, đầy đủ.
 tŕ: giúp cho, giúp đỡ, cầm nắm.
     

 

 

 

 

 

Xem Bài số 86-87

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com