trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


BẮC HÀNH TẠP LỤC

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 


 

Bài 62:

 

 

ĐỘ HOÀI HỮU CẢM VĂN THỪA TƯỚNG

    渡淮有感文丞相

 

Sơn hà phong cảnh thượng y nhiên,   山河風景尚依然
Thừa tướng cô trung vạn cổ truyền.  
丞相孤忠萬古傳
Nhất độ Hoài Hà phi cố vũ,              
一渡淮河非故宇
Trùng lai Giang Tả cánh hà niên?     
重來江左更何年
Ai trung xúc xứ minh kim thạch,        
哀衷觸處鳴金石
Oan huyết qui thời  hóa đỗ quyên.     
怨血歸時化杜鵑
Nam bắc chí kim vô dị tục,               
南北只今無異俗
Tịch dương vô hạn văng lai thuyền.   夕陽無限往來船

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

CẢM THƯƠNG VĂN THỪA TƯỚNG
KHI QUA SÔNG HOÀI

 

C̣n nguyên phong cảnh núi sông,

Vẫn truyền Thừa tướng ḷng trung muôn đời.

Qua Hoài, nhà cũ không rồi!

Năm nào Giang Tả là nơi lại về?

Tiếng ḷng vàng đá năo nề,

Quyên về từ máu oan kia lúc nào?

Nay nam bắc tục giống nhhau,

Chiều tà xuôi ngược biết bao nhiêu thuyền.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Phong cảnh núi sông vẫn c̣n nguyên như thuở nào. Muôn đời vẫn c̣n truyền măi tấm ḷng trung đơn độc của quan Thừa tướng. Một lần qua sông Hoài là không c̣n nước nhà cũ của ḿnh nữa. Bao giờ quan Thừa tướng mới lại trở về Giang Tả? Ḷng thương cảm trong người nghe như tiếng vàng, tiếng đá chạm vào nhau. Máu oan kia đă trở thành chim đỗ quyên khi quay về. Đến nay phong tục nam bắc không c̣n khác nhau nữa. Trong ánh chiều tà thuyền bè xuôi ngược không biết bao nhiêu mà kể!


CHÚ THÍCH:

                                 

 

文丞將  Văn Thừa Tướng: tức Thừa Tướng Văn Thiên Tường文天(1236-1283) người đời Tống. Khi quân Nguyên  vượt sông Hoài đánh nhà Tống ở phía nam, Thiên Tường đă khởi binh chống cự, được phong là Hữu Thừa Tướng. Ông bị giặc Nguyên bắt giam v́ thua trận ở Yên Kinh trong bốn năm trời. Sau v́ không chịu khuất phục bị quân Nguyên giết. Ông có bài thơ “Chính khí ca” được người đời truyền tụng.
câu 3:   Hoài Hà là ranh giới giữa nước Kim và Nam Tống. Do áp lực của quân Kim, Tống Cao Tông buộc phải cắt đất từ sông Hoài lên phía bắc cho quân Kim. Cho nên bước qua sông Hoài là “phi cố vũ” nghĩa là không c̣n là nhà cũ của ḿnh nữa!
江左   Giang Tả: phía bên trái của Trường Giang thuộc Nam Tống.
câu 5:   những bài thơ của Văn Thiên Tường làm khi bị giặc Nguyên bắt giam lỏng ở Yên Kinh như “Chỉ nam lục” và “Chỉ nam hậu lục” giàu chất bi hùng.
câu 6:   lấy từ ư thơ của Văn Thiên Tường: “Ṭng Kim biệt khước Giang Nam lộ, Hóa tác đề quyên đái huyết qui” (Từ nay xa cách đường đi Giang Nam, khi quay về đă thành con chim quyên kêu ra máu).
     

 

 

 

 

 

Bài 63:

 

 

ÂU DƯƠNG VĂN TRUNG CÔNG MỘ

    歐陽文忠公墓

Ngũ xích phong bi lập đạo bàng,      五尺豐碑立道傍
Tống triều cổ mộ kư Âu Dương.       
宋朝古墓記歐陽
B́nh sanh trực đạo vô di hám,          
平生直道無遺憾
Thiên cổ trùng tuyền thượng hữu hương.
天古重泉尚有香
Thu thảo nhất khâu tàng thử hạc,           
秋草一丘藏鼠貉
Danh gia bát đại thiện văn chương.    
名家八大擅文章
Trường tùng chi thảo sinh hà xứ?        
長松芝草生何處
Tiều mục ca ngâm quá tịch dương.        樵牧歌吟過夕陽

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

MỘ ÂU DƯƠNG VĂN TRUNG

 

Bia to năm thước bên đường,

Mộ ghi triều Tống Âu Dương người này.

Sống không hối tiếc thẳng ngay,

Ngàn năm chín suối thơm bày ngát hương.

Cỏ g̣ thu, cáo chuột nương,

Tiếng tăm chiếm giữ văn chương tám nhà.

Cỏ chi tùng lớn đâu là?

Chú tiều, chú mục hát ca xế chiều.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Tấm bia lớn cao năm thước đứng bên đường ghi là phần mộ của Âu Dương Tu của Triều nhà Tống . Suốt đời ông luôn thẳng thắng, không hề hối tiếc việc ǵ. Ngàn năm ở nơi chín suối, tiếng thơm vẫn c̣n lan truyền. Nấm mộ của ông vào mùa thu đầy cỏ là nơi loài cáo, chuột ẩn núp. Tiếng tăm của ông chiếm giữ là một trong tám nhà văn lớn thời đó. Cây tùng cao lớn và cỏ chi mọc ở chốn nào đây? Tiếng ngâm nga của ông tiều, chú mục đồng vào lúc xế chiều.


CHÚ THÍCH:

                                                        

 

歐陽文忠 Âu Dương Văn Trung: tức Âu Dương Tu (1007-1072) tự là Vĩnh Thúc, biệt hiệu là “Túy ông”, quê ở Tư Lăng, Giang Tây, Trung Hoa. Đỗ đầu khoa thi tiến sĩ (1030). Từng giữ chức Hàn lâm học sĩ, Xu mật viện phó sứ, Tham tri chính sự, Binh bộ thượng thư triều Tống. Các tác phẩm chính: Túy Ông đ́nh kư, Mai Thanh du thi tập…
無遺憾   vô di hám: không hề hối hận, hối tiếc.
  hạc: âm của “lạc” (yên tĩnh, an định): một loài thú giống loài cáo hồ.
名家八大   danh gia bát đại:  xem CT bài 36 (Vĩnh Châu Liễu Tử Hậu Cố Trạch).
 thiện:  chiếm giữ, chiếm phần.
     

 

 

 

 

 

Xem Bài số 64-65

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com