trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


BẮC HÀNH TẠP LỤC

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 


 

Bài 46:

 

 

ĐĂNG NHẠC DƯƠNG LÂU

   登岳陽

 

Nguy lâu trĩ cao ngạn,         危樓峙高岸
Đăng lâm hà tráng tai!       
登臨何壯哉
Phù vân Tam Sở tận,          
浮雲三楚盡
Thu thuỷ Cửu giang lai.      
秋水九江來
Văng sự truyền tam tuư,      
往事傳三醉
Cố hương không nhất nhai.  
故鄉空一涯
Tây phong ỷ cô hạm,           
西風倚孤檻
Hồng nhạn hữu dư ai!          
鴻雁有餘哀

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

LÊN LẦU NHẠC DƯƠNG

 

Lầu cao trơ trọi trên bờ,

Lên đây sảng khoái sững sờ không thôi!

Khắp miền Tam Sở mây trôi,

Mùa thu con nước xuôi từ chín sông.

Xưa truyền ba bữa say ṃng,

Trông về quê cũ mênh mông chân trời.

Gió tây, hiên tựa ḿnh thôi,

Tiếng chim hồng nhạn c̣n khơi nỗi buồn.

 

DICH NGHĨA:

 

Ṭa lầu cao đứng trơ trọi bên bờ sông. Lên trên ấy để nh́n xuống thấy sảng khoái biết bao! Khắp miền Tam Sở có các đám mây trôi. Con nước vào mùa thu chảy đến từ chín con sông. Truyện xưa truyền lại có người ba lần say mèm ở lầu này. Trông về quê nhà chỉ thấy chân trời mênh mông. Cơn gió phía tây thổi về, ta một ḿnh tựa vào lan can chỉ c̣n lại tiếng chim hồng nhạn buồn bă.


CHÚ THÍCH:

                   

 

岳陽樓 Nhạc Dương Lâu: lầu nằm ở trên bờ Động Đ́nh hồ, phía tây huyện Nhạc Dương do Trương Duyệt đời Đường dựng nên. Đây là ṭa lầu được nhiều nhà thơ Trung Hoa đến để thưởng thức cảnh đẹp vùng này.
  trĩ: trơ trọi, dự trữ đầy đủ.
  lâm: đến, bậc trên đến với kẻ dưới, mô phỏng.
  tráng: to lớn, tráng kiện, trai trẻ, mau lẹ, khỏe khoắn, sảng khoái.
câu 5:   nhắc lại câu chuyện của Lă Động Tân đời Đường tên là Nghiễm, tự là Động Tân thi tiến sĩ hỏng đi ngao du và t́m hiểu đạo thần tiên nên có hiệu là Thuần Dương Tử. Họ Lă đă ba lần đến lầu Nhạc Dương uống say có làm hai câu thơ: “Tam túy Nhạc Dương nhân bất thức, lăng ngâm phi quá Động Đ́nh hồ” (Ba lần say ṃng ở lầu Nhạc Dương không ai biết, tiếng ngân nga bay qua hồ Đông Đ́nh).
  hạm: lan can, hiên nhà, thuyền lớn.
  dư:  thừa lại, no đủ, c̣n lại, dư dă.
     

 

 

 

 

 

Bài 47:

 

 

HÁN DƯƠNG VĂN THIẾU

   漢陽晚

 

Bá vương trần tích thuộc du du,            霸王陳跡屬悠悠
Hán thuỷ thao thao trú dạ lưu.              
漢水滔滔晝夜流
Quy Hạc lưỡng sơn tương đối ngạn,     
龜鶴兩山相對岸
Thần tiên nhất khứ chỉ không lâu.         
神仙一去只空樓
Thi thành thảo thụ giai thiên cổ,            
詩成草樹皆千古
Nhật mộ hương quan cộng nhất sầu.     
日暮鄉關共一愁
Tưởng tượng đương niên xuy địch dạ
想像當年吹笛夜
Bạch tần hồng liễu măn đinh châu.       
白蘋紅蓼滿汀洲

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

NGẮM CHIỀU HÁN DƯƠNG TỪ XA

 

Bá vương dấu cũ xa xôi,

Mênh mông sông Hán vẫn trôi đêm ngày.

Đối nhau núi Hạc Rùa đây,

Thần tiên đi mất lầu bày trống không.

Cỏ cây ngàn thuở: thơ xong,

Nhớ quê chiều xuống cùng chung mối sầu.

Tưởng đêm sáo thổi năm nào,

Liễu hồng, tần trắng lắm sao băi này.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Dấu cũ xưa của nghiệp bá vương đă thuộc về cơi xa xôi. Ḍng sông Hán đêm ngày chảy cuồn cuộn. Hai ngọn núi tên Qui và Hạc đối nhau hai bên bờ. Khi thần tiên đă ra đi rồi chỉ c̣n chiếc lầu trống trơ. Thơ (của Thôi Hạo) đă làm xong, cỏ cây (vùng Hán Dương) cũng trở thành ngàn đời. Chiều tối nhớ quê nhà với mối sầu chung nơi nhiều người. C̣n tưởng như nghe tiếng sáo thổi trong đêm năm nào và chỉ thấy băi nước rất nhiều rau tần trắng và rau liễu đỏ mà thôi.

 

CHÚ THÍCH:

                                 

 

漢陽  Hán Dương: nằm ở vùng Vơ Xương, Vơ Hán, tỉnh Hồ Bắc bên Trung Hoa. Đây là nơi có lầu Hoàng Hạc nổi tiếng từ xưa đến bây giờ của vùng đất này.
悠悠  du du: xa xôi, mờ mịt, thong thả.
滔滔  thao thao: cuồn cuộn, mênh mang.
  thiếu: nh́n từ xa, lườm mắt.
ngạn: bờ sông, bày ra, lộ ra.
câu 4 và 5:   Nguyễn Du lấy ư từ câu: “Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu” và hai câu “T́nh xuyên lịch lịch Hán Dương thụ, Phương thảo thê thê Anh Vũ châu” trong bài thơ “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hạo với ư là nhờ có bài thơ này tuy lầu Hoàng Hạc không c̣n hạc đến nhưng những cỏ cây chung quanh lầu nh́n ra đă trở thành muôn thuở luôn được đề cập trong văn chương.
câu 6:   Nguyễn Du lấy ư từ câu thứ 6 của bài Hoàng Hạc Lâu: “Nhất mộ hương quan hà xứ thị, yên ba giang thượng sử nhân sầu” (Chiều xuống quê nhà ở chốn nào đây, khói sóng trên sông khiến cho người phải dấy lên mối sầu).
  tần: cây bèo nổi trên nước.
  liễu: rau tựa như rau răm thơm ngát dùng làm gia vị.
汀洲 đinh châu: băi sông có nước lúp xúp.
     

 

 

 

 

 

Đón xem Bài số 48-49

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com