trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


BẮC HÀNH TẠP LỤC

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 


 

Bài 44:

 

 

TƯƠNG ÂM DẠ

 

    湘陰夜

 

 

Măn mục giai thu sắc,               滿目皆秋色
Măn giang giai nguyệt minh.    
滿江皆月明
Tịch liêu kim dạ vọng,             
寂寥今夜望
Thiên trích cổ nhân t́nh.          
遷謫古人情
Thu thủy ṭng tây lai,                
秋水從西來
Mang nhiên thông Động Đ́nh.  
茫然通洞庭
Tĩnh dạ tức ngâm khiếu,           
靜夜息吟

Vô sử giao long kinh.               
無使蛟龍驚

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

ĐÊM Ở TƯƠNG ÂM

 

Sắc thu đầy mắt đều nơi,

Vầng trăng tỏa khắp sáng ngời đầy sông.

Đêm nay lặng lẽ vời trông,

Người xưa t́nh ư bên trong đi đày.

Mùa thu nước đến từ tây,

Xuôi về hồ Động Đ́nh này mênh mang.

Đêm yên ắng chớ ngâm tràn,

Đừng làm kinh sợ những đàn giao long.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Đầy trong mắt là dáng sắc mùa thu khắp mọi nơi. Ánh trăng sáng cũng trải đầy khắp ḍng sông. Đêm nay, trong cảnh vắng lặng nh́n về những t́nh cảm trong ḷng của người xưa khi phải chịu đi đày. Ḍng nước mùa thu chảy đến từ phía tây rồi chảy thông suốt vào hồ Động Đ́nh rộng mênh mông. Đêm yên lặng, chớ nên ngâm tràn nữa kẻo làm cho những con giao long kinh hăi.

 

CHÚ THÍCH:

                   

 

湘陰  Tương Âm: một huyện ở Hồ Nam (T.H), nằm phía đông của Tương Giang.
遷謫  thiên trích: đày đi chỗ xa. Đây chỉ việc Khuất Nguyên bị  Sở Vương đày đi Giang Nam và Giả Nghị bị vua Hán Văn đế đày đi Trường Sa, đều là những vùng gần với Tương Âm.
茫然  mang nhiên: mênh mang, rộng lớn, xa xôi, mờ mịt …
  khiếu: tiếng nói lớn, tiếng hú kéo dài của loài vượn, tiếng rống, mở miệng lớn tiếng…
蛟龍  giao long: tức con thuồng luồng một loài cá to và dài ở các sông lớn. Cũng để chỉ cá mập ngoài biển (bộ Ngư).
     

 

 

 

 

 

Bài 45:

 

 

LỖI DƯƠNG ĐỖ THIẾU LĂNG MỘ

 

   耒陽杜少陵墓

 

 

 

Thiên cổ văn chương thiên cổ si (sư),  天古文章天古師
B́nh sinh bội phục vị thường ly.         
平生佩服未常離
Lỗi Dương tùng bách bất tri xứ,          
耒陽松柏不知處
Thu phố ngư long hữu sở ti (tư).          
秋浦魚龍有所思
Dị đại tương liên, không sái lệ,           
異代相憐空灑淚
Nhất cùng chí thử khởi công thi?          
一窮至此豈工詩
Trạo đầu cựu chứng y thuyên vị?         
掉頭舊症醫痊未
Địa hạ vô linh quỉ bối xi.                    
地下無令鬼輩嗤

 

 

Mỗi độc: “Nho quan đa ngộ thân”,       每讀儒冠多誤身

Thiên niên nhất khốc Đỗ Lăng nhân.      天年一哭杜陵人

Văn chương quang diễm thành hà dụng, 文章光成何用

Nam nữ thân ngâm bất khả văn.             男女呻吟不可聞

Cộng tiễn thi danh sư bách thế,              共羨詩名師百世

Độc bi dị vực kư cô phần.                     獨悲異域寄孤墳

Thiên chu giang thượng đa thu tứ,          舟江上多秋思

Hận vọng Lỗi Dương nhật mộ vân.        望耒陽日暮雲

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

MỘ ĐỖ THIẾU LĂNG Ở LỖI DƯƠNG

(Hai bài)

 

Bài 1

Bậc thầy ngàn thuở văn chương,

Suốt đời mến mộ chưa từng xa ông.

Lỗi Dương đâu chốn bách tùng,

Thu nhung nhớ có cá rồng bên sông.

Khác đời lệ ứa thương mong,

Làm nên thơ đó phải cùng khốn sao?

Khỏi chưa bệnh cũ lắc đầu,

Chớ cho bầy quỉ cười trào dưới kia!

 

Bài 2

Đọc “Thân lầm lẫn mũ nho”,

Đỗ Lăng ngàn thuở khóc cho một người.

Ích ǵ văn đẹp sáng ngời,

Không nghe thân thuộc kêu đ̣i gái trai.

Trăm đời thơ tiếng bậc thầy,

Ta thương đất khách mộ vầy lẻ loi.

Sông thu thuyền nhỏ sầu khơi,

Giận nh́n chiều xuống mây trời Lỗi Dương.

 

DỊCH NGHĨA:

Bài 1

 

Văn chương được truyền tụng ngàn đời nay, ông là bậc thầy cả ngàn đời. Cả đời, ta rất mến mộ, nhớ măi trong ḷng chưa từng rời xa ông (về thơ và nhân cách của ông). Trong đám cây tùng, cây bách ở đất Lỗi Dương, chẳng biết đâu là phần mộ của ông. Nơi bến sông vào mùa thu, có loài rồng, loài cá vẫn thương nhớ ông. Dẫu cho sống khác thời đại nhưng vẫn thương nhớ nhau, nghĩ đến cái nghèo của ông mà nước mắt rơi. Thơ của ông đạt đến như thế có phải là do cùng khốn không? Chứng lắc đầu ngày trước đă thuyên giảm chưa? Bên dưới mặt đất kia, chớ để lũ quỉ cười nhạo ông!

 

Bài 2

 

Mỗi lần đọc đến câu: “Mũ nho nhiều điều lầm lẫn”, lại thương khóc cho người có tên Đỗ Lăng của ngàn năm trước. Văn chương của ông đẹp đẽ sáng ngời nào có ích ǵ cho ông đâu! Không đành nghe tiếng kêu rên của con gái, con trai thân thuộc của ông. Tiếng tăm thơ của ông đă lan tỏa khắp nhiều nơi và ông xứng là thầy của trăm thời đại. Riêng ta xót thương cho nấm mồ của ông phải gửi nơi đất khách. Trên con sông nơi chiếc thuyền con, ta có nhiều nỗi buồn rầu khi mùa thu đến. Nỗi oán giận (khi nghĩ về ông) nh́n trông đất Lỗi Dương với đám mây trôi lúc chiều tàn.


CHÚ THÍCH:

                                 

 

Bài 1
 
杜少陵  Đỗ Thiếu Lăng: tức Đỗ Phủ tự là Tử Mỹ, hiệu là Thảo Đường, được người Trung Hoa tôn làm “thi thánh”. Cuộc đời “ông già Thiếu Lăng” (Thiếu Lăng dă lăo_Ai giang đầu) (712-770) là những chuổi ngày đầy vất vả, gian nan, phải chịu cảnh nay đây mai đó. Do sự chán nản khi làm quan một thời gian ngắn (756) vào những năm binh đao, mất mùa liên tiếp đẩy ông và gia đ́nh đi nhiều nơi. Năm 770 trên thuyền đi về lại Trường An, ông bị bệnh qua đời, quan cách phải quàng lại ở Nhạc Châu v́ gia cảnh quá nghèo. Phải mất 43 năm sau, cháu là Tử Nghiệp mới dời về Thú Dương (Hà Nam) chôn cạnh ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn.
耒陽  Lỗi Dương: nằm ở đông nam huyện Thành Dương (Hồ Nam). Nơi đây có ngôi mộ giả của Đỗ Phủ do huyện lệnh họ Nhiếp xây để làm kỷ niệm khi có lần hay tin nước lụt dâng gặp lúc Đỗ Phủ ghé thăm người cậu là Thôi Vĩ là lục sự tham quân ở Biện Châu. Quan huyện lệnh Lỗi Dương họ Nhiếp này khi nước xuống, trước đó có thư thăm hỏi và rượu thịt tặng ông, đă cho người t́m kiếm nhưng không thấy nghĩ là ông bị nước cuốn mất.
佩服  bội phục: mến mộ và nhớ măi trong ḷng.
câu 4:   lấy ư từ câu: “Ngư long tịch mịch thu giang lănh” (Thu hứng, bài 4) trong Thảo Đường Thi Tập của Đỗ Phủ để nói lên nỗi nhớ nhà. (Phạm Quư Thích đời Lê Trung Hưng nước ta cũng có biệt hiệu là Thảo Đường cư sĩ và tập thơ “Thảo Đường Thi Nguyên Tập”)
  không: trống không, vắng vẻ, chữ nhà Phật đề cập đến tánh không của các pháp, sáo rỗng, phí công, nghèo hèn, thiếu thốn…
空灑淚 không sái lệ: cái nghèo nghĩ đến mà rơi nước mắt.
至此  chí thử: đến như thế, đạt nên như vậy…
  khởi: câu dùng để hỏi: có phải không?, phải chăng…
 y: chữa bệnh, thầy thuốc.
  bối: xe xếp thành hàng, lũ, bầy, cùng một bậc.
     
Bài 2
 
儒冠多誤身 nho quan đa ngộ thân: thân đội chiếc mũ nho (của kẻ thư sinh) cũng lắm nỗi mê muội, lầm lẫn. Đây là câu thứ hai trong bài thơ “Phụng tặng Vi tả thừa tướng nhị thập nhị vận”. Bài thơ này của Đỗ Phủ nói lên nỗi ḷng của một kẻ hàn nho phải chịu lắm cảnh gian nan trong cuộc đời.
   quang diễm: tươi đẹp và sáng rỡ. Đây là câu lấy lại của Hàn Dũ trong câu: “Lư, Đỗ văn chương tại quang diễm vạn trượng trường” (Văn chương của Lư Bạch và Đỗ Phủ vẫn c̣n đó, sáng rỡ tươi đẹp hàng vạn dặm).
男女呻吟  nam nữ thân ngâm: con trai, con gái kêu rên. Nguyễn Du lấy ư từ câu: “nam thân nữ ngâm tứ bích tĩnh” trong bài thơ thứ hai của 7 bài nhan đề: “Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca”. Chữ thân của Đỗ Phủ có nghĩa là rên rỉ đi với chữ ngâm; c̣n Nguyễn Du, chữ thân có nghĩa là thân thuộc, gần gũi.
共羨  cộng tiễn: tràn lan, lan tỏa nhiều nơi.
異域  dị vực:  khác nơi chốn, khác khu vực, khác quê, ở nơi đất khách quê người.
秋思  thu tứ:  t́nh ư buồn sầu khi vào mùa thu.
     

 

 

 

 

 

Xem Bài số 46-47

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com