trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


BẮC HÀNH TẠP LỤC

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 


 

Bài 38:

 

 

VỌNG TƯƠNG SAN TỰ

 

    望湘山寺

 

Cổ Phật vô lượng Đường thế nhân,     古佛無量唐世人
Tương San tự lư hữu chân thân.          
湘山寺
有真身
Chân thân nhất dạ tẫn viêm hỏa,          
真身一夜燼炎火
Cổ tự thiên niên không mộ vân.           
古寺千年空暮雲
Ngũ Lĩnh phong loan đa khí sắc,         
五嶺峰巒多氣色
Toàn Châu thành quách tại phong trần. 
全州城郭在風塵
Cô chu giang thượng bằng lan xứ,        
孤舟江上憑欄處
Nhất đái tùng sam bán tịch huân.         
一帶松杉半夕曛

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

NH̀N CHÙA TƯƠNG SAN TỪ XA

 

Người Đường vô lượng Phật xưa,

Chân thân c̣n ở trong chùa Tương San.

Chân thân một tối cháy tàn,

Chùa xưa lặng lẽ mây ngàn đời trôi.

Khí giăng Ngũ Lĩnh sắc vời,

Toàn Châu thành quách gió khơi bụi lồng.

Lan can thuyền tựa trên sông,

Ánh chiều le lói nửa vùng tùng sam.

 

TƯƠNG ĐÀM ĐIẾU TAM LƯ ĐẠI PHU

    湘潭三閭大夫

                                                                       
Hiếu tu nhân khứ nhị thiên tải,            
好修人去二千載
Thử địa do văn lan chỉ hương.            
此地猶聞蘭芷香
Tông quốc tam niên bi phóng trục,      
宗國三年悲放逐
Sở Từ vạn cổ thiện văn chương.         
萬古擅文章
Ngư long giang thượng vô tàn cốt,                                
魚龍江上無殘骨
Đỗ nhược châu biên hữu chúng phương.                       
洲邊有眾芳
Cực mục thương tâm hà xứ thị,                                    
極目傷心何處是
Thu phong lạc mộc quá Nguyên Tương.                       
秋風落木過沅湘

                                                                       

Sở quốc oan hồn táng thử trung,                                    楚國冤魂葬此中
Yên ba nhất vọng diểu hà cùng.                                    
煙波一望渺何窮
Trực giao hiến lệnh hành thiên hạ,                                 
憲令行天下
Hà hữu Ly tao kế Quốc phong?                                   
何有離騷繼國風
Thiên cổ thuỳ nhân liên độc tỉnh,                                   
千古誰人憐獨醒
Tứ phương hà xứ thác cô trung?                                  
四方何處托孤忠
Cận thời mỗi hiếu vi kỳ phục,                           
近時每好為奇服
Sở bội tiêu lan cánh bất đồng.                          
椒蘭竟不同

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

VIẾNG TAM LƯ ĐẠI PHU Ở TƯƠNG ĐÀM

(Hai bài)

 

Bài 1

Người hiền đi mấy ngàn năm,

Vẫn nghe thơm ngát chỉ lan đất này.

Ba năm buồn nước đi đày,

“Sở Từ” riêng chiếm văn hay muôn đời.

Cá rồng, xương chẳng c̣n rồi!

Bên cồn đỗ nhược, thơm vời bầy hoa.

Nơi nào dơi mắt xót xa,

Nguyên Tương cơn gió thu qua lá ĺa.

 

Bài 2

Táng đây người Sở hồn oan,

Trông vời khói sóng ngút ngàn xa xa.

Dưới trời “hiến lệnh” ban ra,

“Quốc phong” nối tiếp có là “Ly Tao”?

Thương người “riêng tỉnh” ai nào?!

                                                Bốn phương đây chốn gửi vào ḷng chung.

Thời này thích mặc lạ lùng,

Tiêu, lan đeo ấy càng không giống rồi!

 

DỊCH NGHĨA:

Bài 1:

Người thích sửa đổi, tu chỉnh đạo đức đă ra đi từ hai ngàn năm nay. Nơi vùng đất này, vẫn c̣n nghe thơm ngát của hoa lan, hoa chỉ. Ông đă sầu buồn suốt ba năm phải chịu đi đày khỏi nơi tông miếu của nước nhà.

Muôn đời Sở Từ là một áng văn hay chiếm riêng một chỗ trên văn đàng. Các loài cá, rồng trên sông đă làm mất đi nắm xương tàn của ông. Vẫn c̣n loài hoa đỗ nhược ở bên cồn cát giữa sông và rất nhiều loài cỏ thơm khác nữa. Ta xót xa dơi mắt t́m chốn nào là nơi ông đă trầm ḿnh? Cơn gió thu khi đă qua ḍng sông Nguyên và sông Tương đă làm rơi rụng lá những hàng cây.

Bài 2:

Nơi ḍng sông này là chỗ táng hồn oan của người nước Sở. Nh́n ḍng sông chỉ thấy khói trắng xa xôi, nào đâu là chỗ tận cùng. Nếu như pháp lệnh khiến cho được thi hành dưới trời th́ làm sao có được những bài thơ “Ly Tao” tiếp nối với những vần thơ “Quốc phong”. Ngàn đời qua ai là kẻ thương xót cho người “riêng tỉnh”? Bốn phương trời nơi nào là để gửi gắm tấm ḷng của người trung đơn độc? Gần đây có người cũng thích ăn mặc lạ lùng như ông cũng đeo hoa tiêu, lan trên người nhưng không giống như ông thuở nào.

 

CHÚ THÍCH:

湘潭      Tương Đàm:                  c̣n gọi là vùng Trường Sa thuộc Hồ Nam.

三閭大夫  Tam Lư Đại Phu:          chỉ Khuất Nguyên từng giữ chức này đứng sau quan Lệnh Doăn (tương đương Tể Tướng) của nước Sở thời Chiến quốc. Khuất Nguyên đă đề ra “hiến lệnh” tức những pháp lệnh các mặt trong công việc cai trị. Sở Hoài Vương lúc đầu chấp thuận cho thi hành nhưng không bao lâu, trong triều có những bọn nịnh thần nên vua kế là Sở Tương Vương không c̣n tin dùng và đày ông đi Giang Nam. Trên đường đi đày, ông qua hồ Động Đ́nh theo ḍng sông Nguyên, sông Tương đến sông vùng Mịch La là một nhánh sông nhỏ chảy vào Tương Dương. Khuất Nguyên buồn bă, phẫn chí tự trầm ở sông này vào ngày mồng 5 tháng 5. Ngày nay người Hoa thường tổ chức các lễ hội để kỷ niệm ngày mất của Khuất Nguyên gọi là Tết Đoan Ngọ.

好修人        hiếu tu nhân:                 người thích sửa sang, tu tập để cho đức nhân luôn nâng cao trở nên những mẫu người hiền. Đây là chữ lấy trong “Sở Từ”.

蘭芷            lan chỉ:                           tức hoa lan và hoa bạch chỉ được Khuất Nguyên thường đề cập trong “Sở Từ” tượng trưng cho sự thanh cao.

            Sở Từ:                           “Từ” là một thể loại thơ có từ lâu bên Trung Hoa nhưng làm Từ đạt đến mức kiệt tác chỉ có ở Khuất Nguyên người nước Sở nên gọi là Sở Từ. Nổi bật nhất của Sở Từ chính là thiên “Ly Tao” (Buồn rầu v́ bị chia ĺa) được xem tiêu biểu nhất và nổi tiếng nhất của thể loại “từ”.

                diếu:                              xa xăm, xa tít. Có khi đọc là “miểu” hay “diểu”.

國風            Quốc phong:                 tức là Kinh Thi, tập hợp những câu ca dao tục ngữ thời cổ đại của người Trung Hoa.

獨醒            độc tỉnh:                        tỉnh táo riêng một ḿnh. Đó là câu lấy ở thiên “Ngư Phủ” trong Sở Từ: “Mọi người trong đời đều say, chỉ có ḿnh ta là tỉnh”.

為奇服        vi kỳ phục:                    ăn mặc lạ lùng. Khuất Nguyên thường nói: “lúc trẻ ta ham ăn mặc lạ với gươm dài, mũ cao” để nói cái cách sống trung thực khác người.

                tiêu:                               cây có hạt thơm và cay dùng làm gia vị. Hạt tiêu thơm và hoa lan là những thứ mà Khuất Nguyên thường đeo để nói lên sự trong sạch của ḿnh.

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài 41: PHẢN CHIÊU HỒN

    反招魂

 

Hồn hề! Hồn hề! Hồ bất qui!                              魂兮魂兮不歸
Đông tây nam bắc vô sở y.                               
東西南北無所依
Thướng thiên há địa giai bất khả,                       
上天下地皆不可
Yên, Dĩnh thành trung lai hà vi ?                        
鄢郢城中來何為
Thành quách do thị, nhân dân phi,                      
城郭猶是人民非
Trần ai cổn cổn ô nhân y.                                  
塵埃滾滾汙人衣
Xuất giả khu xa, nhập cứ tọa,                            
出者驅車入踞坐
Tọa đàm lập nghị giai Cao, Qú.             
坐談立議皆皋夔
Bất lộ trảo nha dữ giác độc,                              
不露爪牙與角毒
Giảo tước nhân nhục cam như di!                      
咬嚼人肉甘如飴
Quân bất kiến Hồ Nam sổ bách châu,                
君不見湖南數百州
Chỉ hữu sấu tích, vô sung ph́.                            
只有瘦瘠無充肥
Hồn hề! Hồn hề! Suất thử đạo,                          
魂兮魂兮率此道
Tam Hoàng chi hậu phi kỳ th́.                           
三皇之後非其時
Tảo liễm tinh thần phản thái cực,                       
早斂精神返太極
Thận vật tái phản linh nhân xi.                           
慎勿再返令人嗤
Hậu thế nhân nhân giai
Thượng Quan,               
後世人人皆上官
Đại địa xứ xứ giai Mịch La.                              
大地處處皆汨羅
Ngư long bất thực, sài hổ thực,                          
魚龍不食豺虎食
Hồn hề! Hồn hề! Nại hồn hà?              魂兮魂兮奈魂何

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

CHỐNG VIỆC GỌI HỒN VỀ

 

Chẳng về! Hồn hỡi! Hồn ơi!

Đông tây nam bắc không nơi nương vào.

Lên trời xuống đất được sao?

Dĩnh, Yên về lại thành nao làm ǵ?

Thành c̣n, người đă khác đi,

Cuốn bay bụi bặm, bẩn dây áo người.

Ruổi xe, vênh váo dáng ngồi,

Ngồi bàn, đứng nói giống thôi Cao, Qú!

Chẳng bày nanh vuốt độc chi,

Thịt người, xương gặm nhai th́ ngọt tan.

Thấy trăm châu ở Hồ Nam,

Chẳng ai béo tốt, gầy nhom xấu người.

Men theo đường ấy hồn ơi!

Tam Hoàng chẳng được hợp thời về sau.

Thu thần, “thái cực” sớm vào,

Chớ về lại nữa khiến bao kẻ cười.

Thượng Quan đều khắp người đời,

Mịch La đất rộng nơi nơi khắp cùng.

Sói hùm ăn, chẳng cá rồng,

Biết làm sao được hỡi hồn! Hồn ơi!

DỊCH NGHĨA:

Hồn ơi! Hồn hỡi! Sao hồn không quay về? Đông, tây, nam, bắc không nơi nào có chỗ để nương nhờ. Lên trời, xuống đất đều không thể nào được rồi! C̣n đi đến thành Yên, thành Dĩnh để làm ǵ! Thành quách vẫn thế, nhưng người dân đă khác trước. Bụi bặm bay cuồn cuộn dấy bẩn vào áo người. khi đi ra ngoài th́ rong rủi ngựa xe, khi vào nhà th́ dáng bộ vênh váo. Lúc ngồi để bàn bạc hay đứng để luận bàn đều giống cách của ông Cao, ông Qú. Bọn người này chẳng để lộ ra nanh vuốt cùng với nọc độc! Nhưng họ gặm xương hoặc nhai thịt người th́ ngon ngọt như nhai kẹo đường! Hồn có thấy chăng mấy trăm châu quận ở Hồ Nam chỉ có những người gầy nhom, chẳng có ai được béo ph́ tươi tắn. Hồn ơi! Hồn hỡi! Men theo đường này mà đi th́ từ đời Tam Hoàng về sau, không c̣n phù hợp với thời thế nữa! Hăy sớm thu tinh thần lại với cơi thái cực (của thời nguyên sơ). Chớ quay trở lại làm ǵ để người ta cười cợt. Đời sau, ai ai cũng đều như Thượng Quan gian nịnh; và trên mặt đất rộng lớn nơi đâu cũng đều là ḍng sông Mịch La! Xương cốt của ông nếu không bị cá rồng nuốt th́ cũng bị sói hùm ăn thôi! Hồn ơi! Hồn hỡi! Biết làm sao đây hỡi hồn?!

 

CHÚ THÍCH:

反招魂   Phản chiêu hồn:               với bài thơ này Tố Như tiên sinh đă cho thấy trên thế gian, nơi đâu bất cứ chế độ nào cũng đầy rẫy những kẻ gian nịnh như Thượng Quan là kẻ đă gièm pha với vua Sở Hoài Vương và Sở Tương Vương khiến Khuất Nguyên phải bị đi đầy, phẫn uất tự trầm ở sông Mịch La. Thời Khuất Nguyên có Tống Ngọc có làm bài từ tên là “Chiêu hồn” ngụ ư bày tỏ ḷng thương tiếc cho người hiền tài và cầu vong hồn Tam Lư đại phu trở về. C̣n với Nguyễn Du ông đă mượn bài thơ này để nhận xét về những thói nham hiểm, xấu xa trong hàng ngũ quan lại và rộng hơn trong cuộc đời.

鄢郢     Yên, Dĩnh:                       Yên là vùng đất thuộc Sở xưa kia, nay là Hồ Bắc (T.H). Dĩnh cũng là đất Sở được chọn làm kinh đô, nay ở Giang Lăng, Hồ Bắc.

滾滾     cổn cổn:                           tuôn chảy, chảy cuồn cuộn.

驅車     khu xa:                             ngồi xe do ngựa kéo rong ruổi.

踞坐     cứ tọa:                             ngồi với dáng vẻ vênh váo, nghênh ngang, tự đắc.

咬嚼     giảo tước:                        gặm xương với dáng vẻ nhấm nháp, thích thú.

皋夔     Cao, Qú:                         hai vị quan hiền, giỏi thời vua Nghiêu vua Thuấn.

       di:                                    ngọt xớt, ngọt như đường, kẹo mạch nha.

瘦瘠     sấu tích:                           gầy ốm xấu xí.

       suất:                                đi theo, men theo, lưới bẫy chim.

三皇     Tam Hoàng:                    phần đông các truyền thuyết người Trung Hoa đều cho rằng ba vua Phục Hi, Thần Nông và Hoàng Đế là những ông vua hiền thời cổ đại Trung Hoa đă dạy dân lễ nghĩa, cầy cấy, nghề nghiệp. Đó là những thời kỳ con người sống ḥa ái tốt đẹp.

       liễm:                                thu lại, cất, ẩn giấu, gom lại, thu thuế…

精神     tinh thần:                         phần tinh anh, tinh túy dẫn dắt con người trong mọi suy nghĩ và hành động.

太極     thái cực:                          thời kỳ c̣n hỗn mang, nguyên sơ chưa phân định đất trời theo học thuyết của đạo Lăo; thời kỳ con người c̣n sống hồn nhiên.

       xi:                                    cười cợt, cười chê.

上官     Thượng Quan:                 tức Thượng Quan Ngân Thượng, là đại thần nước Sở đă t́m mọi cách gièm pha Khuất Nguyên khiến vua Sở không c̣n tín nhiệm ông và bị đi đày dẫn đến chỗ tự trầm ḿnh nơi ḍng sông Mịch La ở Tương Âm, Hồ Nam.

奈何     nại hà:                              làm sao đây, biết làm thế nào…

 

 

 

 

 

DỊCH NGHĨA:

 

Trong ngôi chùa Tương San vẫn c̣n có chân thân của một vị Phật xưa vô lượng công đức của đời nhà Đường. Một đêm chân thân của vị Phật ấy cháy thiêu hóa. Ngôi chùa xưa lặng lẽ ấy ngàn năm sau đám mây chiều vẫn c̣n đó. Những đỉnh núi cao của Ngũ Lĩnh nhiều hơi tỏa và màu sắc. C̣n thành quách Toàn Châu (nh́n lại) vẫn c̣n trong cơn gió lồng bụi bặm. Ta tựa vào lan can của chiếc thuyền lẻ loi trên con sông thấy ánh trời chiều le lói chiếu vào nửa dăy cây tùng, cây sam.

 

CHÚ THÍCH:

                   

 

無量  vô lượng: không thể đo lường được.
Câu 1:   nói về Đường Huyền Trang nhờ công đức lớn lao là sang đất Phật ở Ấn Độ thỉnh kinh mang về phiên dịch, chú giải để giáo hóa người đời. Công đức không thể nào đo lường ấy của ngài được người đời tôn xưng vào hàng Vô lượng cổ Phật”.
真身 chân thân: đây chỉ nhục thân của bậc tu hành đă đắc đạo, thấu rơ được lẽ Phật nhiệm màu khi mất đi vẫn được ướp tẩm giữ ǵn để thờ cúng.
   tẫn: cháy tan hết, cháy không c̣n ǵ.
  không: vắng vẻ, trống rỗng, lặng lẽ…
峰巒  phong loan: đỉnh núi cao và nhọn.
huân: ánh mặt trời lúc sắp lặn c̣n le lói.
     

 

 

 

 

 

Bài 39:

 

 TƯƠNG GIANG DẠ BẠC

 

    湘江夜泊

 

Nhất khứ lục thập lư,                    一去六十里
Du du giang thủy trường.             
悠悠江水長
Phù vân liên Ngũ Lĩnh,                 
浮雲連五嶺
Minh nguyệt hội Tam Tương.        
明月會三湘
Biệt phố phân tân sắc,                   
別浦分新色
Dao không thất cố hương.             
遥空失故鄉
Hạc lai nhân bất kiến,                    
鶴來人不見
Văn thụ uất thương thương.            
晚樹鬱滄滄

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

ĐÊM ĐỖ THUYỀN Ở SÔNG TƯƠNG

 

Sáu mươi dặm một lần đi,

Sông dài dằng dặc xuôi về xa xôi.

Nối nhau Ngũ Lĩnh mây trôi,

Ánh trăng họp lại sáng ngời Tam Tương.

Chia riêng vẻ mới bến sông,

Phương trời khuất nẻo quê hương xa vời.

Hạc về chẳng thấy đâu người?!

Rậm rà cây cối xanh ngời chiều hôm.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Một lần đi sáu mươi dặm trên con sông dài dằng dặc chảy về chốn xa xăm này. Những đám mây trôi nổi nối liền những ngọn núi vùng Ngũ Lĩnh. Ánh trăng tỏa sáng họp nhau lại nơi vùng Tam Tương. Vẻ đẹp mới mẻ của ánh trăng sáng chia khắp các bến sông riêng biệt. Quê nhà khuất nẻo ở một phương trời xa xăm. Con chim hạc đă về lại nhưng không thấy người cưỡi. Những đám cây rậm ŕ trong buổi chiều hôm xanh um tùm.

 

CHÚ THÍCH:                  

                              

 

湘江  Tương Giang: sông Tương có nguồn từ Quảng Tây chảy về phía đông bắc Hồ Nam nhập chung với ḍng Ly Thủy gọi là Ly Tương; rồi gặp ḍng Tiêu Thủy họp lại gọi là ḍng Tiêu Tương và trở ngược lên phía bắc gặp ḍng Chưng Thủy gọi là Chưng Tương. Do đó Tương Giang được gọi là Tam Tương đổ dồn nước vào hồ Động Đ́nh.
悠悠   du du:  xa thăm thẳm, xa xôi, lơ lững, thong dong.
遥空   dao không:  khoảng trời xa xăm.
Câu 7 và 8:   Nguyễn Du mượn ư trong bài thơ “Hoàng Hạc Lâu” nổi tiếng trong thi ca Trung Hoa của Thôi Hạo (c̣n gọi là Thôi Hiệu 704-754) với câu: “Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản” và “Phương thảo thê thê Anh Vũ châu” (Con hạc vàng một lần đi không trở lại; đám cỏ thơm tươi tốt ở băi Anh Vũ). Tương truyền nhà thơ Lư Bạch khi viếng lầu Hoàng Hạc thấy có đế bài thơ của Thôi Hạo đă ném bút không làm nữa.
     

 

 

 

 

 

Xem Bài số 40-41

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com