trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


BẮC HÀNH TẠP LỤC

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 


 

Bài 34:

 

 

QUÁ THIÊN B̀NH

 

    過天平

 

 

Phân thủy sơn tiền nhị thủy phân,            分水山前二水分
Thiên B́nh thủy diện tự lân tuân.           
天平水面

Nhất bôi không điện lâm giang miếu,     
一杯空奠臨江廟
Thiên cổ thùy vi thế thạch nhân.             
千古誰為砌石人
Bán lĩnh khê tuyền giai nhập Sở,            
半嶺溪泉皆入楚
Măn châu bi kiệt dĩ phi Tần.                  
滿洲碑碣已非秦
Chu nhân tranh chỉ gia hương cận,          
舟人爭指家鄉近
Năo sát thù phương lăo sứ thần.             
惱殺殊方老使臣

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

QUA SÔNG THIÊN B̀NH

 

Trước non Phân Thủy chia sông,

Thiên B́nh mặt nước sóng vờn nhấp nhô.

Rượu suông cúng miếu bên bờ,

Ngàn xưa ai đă xếp cho đá chồng?!

Suối khe vào Sở nửa non,

Bia giăng khắp các băi sông ngoài Tần.

Người đi thuyền trỏ nhà gần,

Khiến buồn chết lăo sứ thần phương xa.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Phía trước núi Phân Thủy ḍng sông rẽ làm hai. Mặt sông Thiên B́nh sóng gợn nhấp nhô giống như những ḥn đá lởm chởm. Một chén rượu suông dâng cúng khi qua ngôi miếu ven sông . Ai là người ngàn năm trước đă xếp đá chồng chất lên nhau để làm ngôi miếu nọ? Suối và khe nước  ở nửa bên triền núi đều chảy vào đất Sở. Khắp các băi có những tấm bia đá ghi dấu đă ở ngoài đất Tần. Những người đi thuyền tranh nhau chỉ trỏ khi gần kề nhà cửa, quê hương làm cho vị sứ thần già của phương xa buồn ảo năo chết đi được!

 

CHÚ THÍCH:

                      

 

分水山   Phân Thủy Sơn: ngọn núi nhỏ ở huyện Nam Chiếu, Hồ Nam, T.H.
天平  Thiên B́nh: tên con sông chảy trước núi Phân Thủy.
   tự lân tuân: giống như núi nhọn lởm chởm, nhấp nhô.
  không: trống rỗng, không có ǵ, vắng vẻ. Đây chỉ ly rượu cúng lễ suông không kèm theo lễ vật khác.
   điện: lễ vật tiến dâng, lễ vật cúng tế.
   lâm: đến, soi xuống, soi xét, đoái hoài. Đây chỉ ngôi miếu ven sông khi đến khúc sông này (lâm giang).
砌石  thế thạch: đá xếp lớp chồng lên nhau. Đây chỉ việc xây cất ngôi miếu bằng đá.
碑碣   bi kiệt: xem C.T bài 33 (Tam Liệt miếu).
惱殺  năo sát: buồn ảo năo có thể chết đi được, buồn đứt ruột, buồn năo nề.
     

 

 

 

 

 

Bài 35:

 

VĨNH CHÂU LIỄU TỬ HẬU CỐ TRẠCH

 

   永州柳子厚故宅

 

 

Hành Lĩnh phù vân, Tiêu thủy ba,          衡嶺浮雲瀟水波
Liễu Châu cố trạch thử phi da?             
柳州故宅此非耶
Nhất thân xích trục lục thiên lư,             
一身斥逐六千里
Thiên cổ văn chương bát đại gia.          
千古文章八大家
Huyết chỉ hăn nhan thành khổ hỹ,           
血指汗顏誠苦矣
Thanh khê gia mộc nại ngu hà?              
清溪嘉木奈愚何
Tráng niên ngă diệc vi tài giả,                
壯年我亦為材者
Bạch phát thu phong không tự ta!           
白髮秋風空自嗟

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

NHÀ CŨ Ở VĨNH CHÂU CỦA LIỄU TỬ HẬU

 

Sóng Tiêu, Hành Lĩnh mây trôi,

Liễu Châu nhà cũ phải nơi chốn này?

Sáu ngàn dặm chịu thân đày,

Muôn đời nổi tiếng văn hay tám người.

“Tay bầm, mặt rịn” khổ thôi!

Cây xinh, ḍng suối trong ngời “ngu” sao?

Trẻ trai ta cũng tài cao,

Gió thu ḿnh chỉ than đầu bạc phai!

 

DỊCH NGHĨA:

 

Đám mây trôi nơi ngọn núi Hành Lĩnh và sóng nước nơi ḍng sông Tiêu Thủy, phải chăng là chỗ có nhà cũ của Liễu Tử Hậu ở Liễu Châu không? Một thân ḿnh bị đi đày xa sáu ngàn dặm nhưng ngàn đời văn chương của ông đă thuộc về tám nhà văn nổi tiếng bấy giờ. “Tay bầm máu, mồ hôi đổ ướt sủng mặt mày” của những kẻ khổ nhọc làm thơ. Nơi có khe nước trong trẻo, cây cối đẹp đẽ sao lại đặt tên là khe nước “ngu” (ngu khê). Thời c̣n trai trẻ, ta cũng là người có tài năng. Giờ mái đầu đă bạc, trước gió thu vắng lặng chỉ ḿnh ta than thở thôi.


CHÚ THÍCH:

 

 

柳子厚   Liễu Tử Hậu: tức Liễu Tôn Nguyên (773-819) người thời Trung Đường đời Đường Đại Tôn, Đường Hiếu Tông. Ông đậu tiến sĩ và khoa Bác học hoằng từ, từng giữ chức giám sát ngự sử. Về sau bị biếm trích làm quan tư mă ở Vĩnh Châu (Hồ Nam) rồi thứ sử Liễu Châu (Quảng Tây). Người đương thời gọi ông là Liễu Liễu Châu. Ông để lại văn tập gồm 40 quyển. Người đương thời xếp ông vào “bát đại gia” (tám nhà văn lớn) gồm: Hàn Dũ, Liễu Tôn Nguyên, Âu dương Tu, Tô Tuân, Tô Thức, Tô Triệt, Tăng Củng và Vương An Thạch.
   da: tiếng tục gọi cha là “da”; trợ từ chỉ nghi vấn (phải chăng?, có hay chăng?, phải không?...).
血指汗顏  huyết chỉ hăn nhan: là câu chữ trong bài “Tế Liễu Tử Hậu” của Hàn Dũ: “Ví như những người thợ vụng về, tay bầm máu, mặt đổ mồ hôi, bọn nịnh thần được thảo chiếu chế của vua; c̣n tài giỏi như ông phải đứng khoanh tay…”
  gia: đẹp đẽ, tốt lành, tốt đẹp, lời khen (gia giáo: có sự dạy dỗ tốt đẹp), vui vẻ.
Câu 6:   Liễu Tôn Nguyên có bài thơ “Ngu khê” ông có viết đại ư rằng: “Cây cối đẹp đẽ ḍng nước trong phải được người thông minh, giỏi giang yêu mến; gán cho khe nước ấy là “ngu” v́ cớ ǵ đây?”
     

 

 

 

 

 

 

Xem Bài số 36-37

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com