trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


BẮC HÀNH TẠP LỤC

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 


 

Bài 32:

 

 

TAM LIỆT MIẾU

 

 三烈廟  

   

 

Thái nữ sinh sồ, Trác nữ bôn,             蔡女生雛卓女奔
Lạc hoa phi nhứ bất thăng ngôn.         
落花飛絮不勝言
Thiên thu bi kiệt hiển tam liệt,           
千秋碑碣顯三烈
Vạn cổ cương thường thuộc nhất môn.
萬古綱常屬一門
Địa hạt tương khan vô quí sắc,           
地下相看無愧色
Giang biên hà xứ điếu trinh hồn ?       
江邊何處吊貞魂
Thanh thời đa thiểu tu như kích,          
清時多少鬚如戟
Thuyết hiếu đàm trung các tự tôn!        
說孝談忠各自尊

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

MIẾU THỜ BA NGƯỜI TRUNG LIỆT

 

Trác theo trai, Thái sinh con,

Tơ bay hoa rụng nói không hết lời!

Ngàn thu bia khắc ba người,

Cương thường muôn thuở vào nơi một nhà.

Nh́n nhau chẳng thẹn dưới kia,

Bờ sông thăm viếng đâu là hồn trinh?

Bao người râu móc thời b́nh,

“Hiếu trung” bàn chuyện cho ḿnh là hơn.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Cô gái họ Thái sinh con nhỏ, c̣n cô họ Trác bỏ nhà chạy theo trai. Chuyện hoa rơi, tơ bay nói ra không thể hết lời. Riêng tấm bia đá ở nơi đây đề khắc ba người (phụ nữ) trung liệt sáng ngời. Giềng mối đạo đức “cương thường” thuộc về một nhà. Dưới đất kia (ba người) nh́n nhau sẽ chẳng hề hổ thẹn trên khuôn mặt. Chốn nào bên bờ sông (là miếu thờ) những hương hồn trinh phụ ấy để ta đến viếng thăm? Thuở thanh b́nh, không ít người đă để râu như cái mác vểnh lên và vẫn tự cho ḿnh là hơn người khi bàn luận đạo hiếu đạo trung.

 

CHÚ THÍCH:

                      

 

   liệt: người trung trực, nghĩa khí coi nhẹ cái chết hy sinh cho lư tưởng hay giữ tṛn khí tiết, danh dự; lửa sáng mạnh mẽ; dư thừa, rơi rớt; dữ dội.
三烈廟   Tam liệt miếu: miếu thờ ba người thân của Lưu Thời Cử đời Chính Đức nhà Minh (1506-1521) gồm Trương thị là vợ chính, người thiếp là Quách thị và con gái là Lưu thị đă nhảy sông tự tử quyết không chịu nhục khi bọn cướp đă giết chồng và cha khi đi nhậm chức. Năm Gia Tĩnh nhà Minh đă truyền cho lập miếu thờ ba người phụ nữ trung trinh này.
蔡女   Thái nữ: tức Thái Diễm, tự là Văn Cơ con gái của Thái Ung là bạn thân của Tào Tháo thời Đông Hán. Gặp khi Hung Nô phía bắc tràn xuống cướp bóc và Văn Cơ bị bắt sang đất Hung Nô mười hai năm lấy chồng giặc sinh hai con. Về sau, nhờ Tào Tháo sai sứ đem châu báu sang chuộc về. Văn Cơ có tập thơ “Bi phẫn thi” để lại nói về mối tâm sự uất hận của nàng.
卓女   Trác nữ: đây chỉ Trác Văn Quân được đề cập nhiều trong thơ văn Trung Hoa. Văn Quân là người con gái góa chồng của Trác Vương Tôn giàu có đời Hán. Tư Mă Tương Như là nhà thơ và là nhà soạn nhạc có tài lại đẹp trai đến dự tiệc nhà này. Khi thấy Văn Quân xinh đẹp, Tương Như đă gảy khúc “Phượng Cầu Hoàng” làm Văn Quân xúc động bỏ nhà đi theo Tương Như. Thơ văn Trung Hoa thường lấy chuyện này để chê bai hành động coi nhẹ lễ giáo xưa của Trác Văn Quân.
不勝言  bất thăng ngôn: nói không hết lời.
碑碣   bi kiệt: bi là loại bia đá h́nh vuông, kiệt là loại bia đá h́nh tṛn. Chỉ chung để khắc công trạng, hành trạng của một người đă mất.
  hiển:  sáng ngời, sáng rơ, vinh hiển.
綱常 cương thường: là chữ viết tắt của “tam cương ngũ thường”: tam cương tức là ba giềng mối phải theo thời phong kiến: đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng; c̣n thường tức “ngũ thường” gồm năm điều luôn phải giữ ǵn: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Đây là những khái niệm đạo đức của nho giáo để xây dựng một xă hội có tôn ti, trật tự theo cách của thời xưa bên Trung Hoa có ảnh hưởng đến nền văn hóa và văn học Việt Nam, Cao Ly, Nhật Bản. Ở đây, Nguyễn Du vẫn chịu ảnh hưởng của đạo lư Trung Hoa xưa không chấp nhận lề thói theo trai của Trác Văn Quân hay tính cách của Thái nữ khi bị buộc lấy kẻ xâm lược là quân Hung Nô làm chồng.
鬚如戟 tu như kích: râu như ngọn mác nghĩa là nhọn và cong lên. Trong “Nam Sử” có chép truyện Chử Ngạn Hồi có câu nói: “Râu ông như ngọn mác nhọn cứng, sao lại không có chí khí của kẻ trượng phu?” Đây chỉ những kẻ được bề ngoài nhưng không có tài năng, ư chí.
     

 

 

 

 

 

Bài 33:

 

ĐỀ VI LƯ TẬP HẬU

 

   題韋盧集後

 

    

 

Thi nhân bất đắc kiến,                     詩人不得見
Kiến thi như kiến nhân                   
見詩如見人
Đại sơn hưng bảo tạng,                 
大山興寶藏
Độc hạc xuất phong trần.                
獨鶴出風塵
Châm giới dị tương cảm,                
針芥易相感
Việt Hồ nan tự thân.                        
越胡難似親
Tam Đường thiên tải hậu,               
三唐千載後
Tịch mịch cửu vô văn.                     
寂寞久無聞

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

ĐỀ PHÍA SAU TẬP THƠ CỦA VI, LƯ

 

Nhà thơ không thấy được rồi,

Thấy thơ như thấy con người đâu đây.

Núi to vật quí chứa bày,

Thoát ra gió bụi riêng bay hạc trời.

Cảm nhau “kinh cải” dễ thôi!

Thân nhau Hồ Việt đôi nơi khó nào!

Ba đời Đường trải về sau,

Không nghe ǵ nữa, từ lâu vắng người.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Các nhà thơ (họ Vi, họ Lư) không c̣n được trông thấy nữa. Song đọc thơ của các ông như đă thấy được người làm thơ. Thơ của hai ông như ngọn núi to lớn làm nên kho chứa vật quí báu. Hai ông là những chim hạc lẻ loi đă bay thoát khỏi gió bụi chốn trần gian. Nam châm và hạt cải là những vật dễ bị cuốn hút nhau. C̣n tôi với hai ông người ở đất Việt, kẻ ở đất Hồ khó gần gũi được. Một ngàn năm sau của thời Tam Đường đă vắng lặng, từ lâu không nghe thấy ai là người tiếng tăm về thơ nữa.

 

CHÚ THÍCH:

 

 

Vi: tức là nhà thơ Vi Ứng Vật (khoảng 735-835) đời Đường Huyền Tông, chịu ảnh hưởng của tư tưởng ẩn dật, thoát trần của Đào Tiềm, Vương Duy. Ông làm đến chức Thái bộc thiếu khanh kiêm Ngự sử trung thừa, để lại thi tập gồm 10 quyển.
Lư: có lẽ Nguyễn Du đề cập đến nhà thơ Lư Thiếu Lân (641-680), là một trong tứ kiệt thời Sơ Đường. Một người nữa tên là Lư Đồng (có khi đọc là Lô).
  hưng: làm nên, dậy lên, hưng thịnh, dâng lên, đề cử.
 tạng: âm của “tàng” có nghĩa là kho chứa, kho cất giữ hoặc chỉ kinh đển nhà Phật.
針芥  châm giới: châm là kim loại có từ tính hút được các chất sắt, nghĩa là kim để châm cứu hoặc may áo; giới là hạt cải mà ngọc hổ phách có thể hút dính.
  cảm: có t́nh cảm cùng nhau, có mối liên quan từ t́nh cảm với nhau, có sự gắn bó với nhau.
越胡  Việt Hồ: đất Việt, người Việt ở phía nam, c̣n đất Hồ, người Hồ ở phương bắc Trung Hoa. Chỉ sự xa cách khó gần nhau.
三唐  Tam Đường: tác giả Trung Hoa chia đời Đường làm ba thời kỳ: Sơ Đường (618-712), Thịnh Đường (713-824) và Văn Đường (825-927).
     

 

 

 

 

 

 

Xem Bài số 34-35

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com