trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


BẮC HÀNH TẠP LỤC

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 


 

Bài 28:

 

 

QUẾ LÂM CÔNG QUÁN

 

桂林公館

 

Hoang thảo nhạ lưu huỳnh,            荒草惹流螢
Nhàn giai dạ khí thanh.                 
閒階夜氣清
Hàn đăng lưu quỉ ảnh,                    
寒燈留鬼影
Hư trướng tụ văn thanh.                
虛帳聚蚊聲
Lao lạc xuân vô phận,                   
牢落春無分
Tha đà lăo tự kinh.                        
老自驚
Thành đầu văn họa giác,                城頭聞畫角
Tự ngữ đáo thiên minh.
                 自語到天明

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

NHÀ KHÁCH CÔNG Ở QUẾ LÂM

 

Cỏ hoang đom đóm lập ḷe,

Thềm đêm yên ắng khí nghe mát lành.

Đèn soi bóng quỉ lạnh tanh,

Vo ve tiếng muỗi tụ quanh bức màn.

Xa xôi chẳng thiết xuân sang,

Cứ lần lữa măi sợ mang tuổi già.

Đầu thành nghe tiếng tù và,

Niềm riêng bao nỗi sáng ra kia rồi.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Trong đám cỏ hoang những con đom đóm lập ḷe bay rối loạn. Bực thềm vắng vẻ trong đêm cùng với bầu không khí  lành mát mẻ. Ngọn đèn lạnh lẽo giữ lại những bóng mờ của loài quỉ. Bức màn thưa có những tiếng của loài muỗi vo ve. Ở chốn xa xôi chẳng có duyên ǵ với mùa xuân sang. Cứ lần lữa măi (theo thời gian) sợ cho tuổi già đến. Đầu thành nghe tiếng tù và thổi điểm canh đêm. Niềm riêng bao nỗi trong ḷng kéo măi cho đến khi trời sáng.
 

CHÚ THÍCH:

 

nhạ: hỗn loạn, loạn xạ, dắt dẫn…
  nhàn: an nhàn, rảnh rỗi, yên lặng, vắng vẻ.
虛帳  hư trướng: bức màn thưa, trống trải.
牢落 lao lạc: xa xăm, xa xôi, rơi rụng.
  tha đà: lần lữa, kéo dài, sai lầm, lầm lỡ.
畫角  họa giác: (họa: vẽ, vạch ra, mốc dừng lại chuyển sang mốc khác). Tiếng tù và thổi bước sang canh mới trong đêm.
自語   tự ngữ:  những lời riêng, nỗi niềm riêng, mối tâm sự của riêng ḿnh.
     


Đây là bài thơ đánh dấu chặng đường đi sứ của Nguyễn Du ở Quế Lâm vào mồng 5 tháng 6 năm Quí Dậu (1813).

 

 

 

 

 

Bài 29:

 

QUẾ LÂM CÙ CÁC BỘ

 

桂林瞿閣部

 

 

Trung Nguyên đại thế dĩ đồi đường,     中原大勢已頹唐
Kiệt lực cô thành khống nhất phương.  
竭力孤城控一方
Chung nhật tử trung tâm bất động,        
終日死中心不動
Thiên thu địa hạ phát do trường.         
千秋地下髮猶長
Tàn Minh miếu xă đa thu thảo,             
殘明廟社多秋草
Toàn Việt sơn hà tận tịch dương.         
全越山河盡夕陽
Cộng đạo Trung Hoa thượng tiết nghĩa,
共道中華尚節義
Như hà hương hỏa thái thê lương?
         如何香火太凄涼

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

ÔNG CÙ CÁC BỘ Ở QUẾ LÂM

 

Suy tàn thế lớn Trung Nguyên,

Một phương hết sức giữ ǵn thành côi.

Suốt ngày dẫu chết không dời,

Tóc dài dưới đất ngàn đời c̣n đây.

Minh tàn cỏ miếu thu đầy,

Khắp non sông Việt nhuốm bày tà dương.

Trung Hoa nghe trọng nghĩa trung,

Sao mà vắng lạnh khói hương thế này?

 

DỊCH NGHĨA:

 

Sức mạnh to lớn của đất Trung Nguyên đă tàn lụi rồi! Thế mà ở một phương trời, ông vẫn hết sức giữ vững một thành tŕ lẻ loi. Dẫu phải đứng trước cái chết nhưng cả ngày trong ḷng ông vẫn không dời đổi, lay động. Mái tóc dài ngàn thu dưới đất của ông vẫn c̣n để dài. Chốn thờ phụng của nhà Minh đă tàn phai với cỏ thu đầy khắp chốn. Núi sông mọi nơi của vùng đất Việt đầy bóng tà dương của trời chiều sắp tối. Nhiều người nói là nướcTrung Hoa đề cao ḷng tiết nghĩa nhưng mà sao hương khói lại vắng tanh buồn bă như thế này?
 

CHÚ THÍCH:

                          

 

瞿閣部  Cù các bộ: tức Cù Thức Trĩ, tự Khởi Điển đỗ tiến sĩ. Ông được bổ làm Tuần phủ Quảng Tây rồi vào kinh làm trong nội các, chức Đông các đại học sĩ (thường gọi là “các bộ”) tước Quế Lâm Bá. Khi nhà Thanh của người Măn Châu vào xâm chiếm Trung Hoa, ông giữ thành Quế Lâm và chết theo thành.
中原  Trung Nguyên: người tộc Hán bên Trung Hoa tự đề cao ḿnh cho là vùng sinh sống của họ là trung tâm của nước Hoa.
大勢   đại thế:  thế lực lớn lao, sức mạnh to lớn.
頹唐  đồi đường:  suy đồi, chán nản, mất tinh thần.
Câu 4:    người Hán ở Trung Nguyên thường để tóc dài cả nam lẫn nữ. Khi người Măn Châu chiếm Trung Nguyên và toàn bộ Trung Hoa bắt dân chúng ăn mặc kiểu của họ với chỏm phía trước cạo trọc và tóc cột đuôi sam. Cù tiên sinh dẫu chết vẫn để tóc dài theo kiểu Hán chứ không chịu hàng phục người Măn thanh.
全越  Toàn Việt: bao gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây hay c̣n gọi là Lưỡng Việt. Đây là vùng đất xưa kia của các bộ tộc Bách Việt trong đó có tổ tiên người Việt chúng ta thời cổ đại. Do sự bành trướng của các bộ tộc người Hán, nhiều đất đai của các tộc Việt bị xâm chiếm và tổ tiên chúng ta phải bỏ đất đi về phái đồng bằng sông Hồng để lập nên một nước mới  từ thời vua Hùng. Người Trung Hoa vẫn c̣n lối nói quen chỉ vùng đất lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây) là đất Việt.
節義  tiết nghĩa: ngay thẳng và trọng nhân nghĩa, trong cách sống sao cho thanh cao cho xứng đáng làm người theo lễ giáo xưa.
凄涼  thê lương: vắng vẻ, buồn bă.
     

 

 

 

 

 

 

Xem Bài số 30-31

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com