trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com

Dương Anh Sơn

 Giáo Sư Triết học
 Trung học Ninh Ḥa
 Niên khóa 1973-1976
 Chỉ đạo lớp 12C, 74-75

 Sở thích viết và
chuyển dịch Thơ.

Đă xuất bản:

"Ảnh hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh" (2006) và

"Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trăi" (dịch và chú giải 2009)

 


 
Hiện cư ngụ tại Việt Nam

 

 

 

 

 

 


BẮC HÀNH TẠP LỤC

Dương Anh Sơn

Chuyển Lục Bát
 

   

  

 


 

Bài 26:

 

 

NGŨ NGUYỆT QUAN CẠNH ĐỘ

 

   五月觀競渡

 

 

Hoài Vương qui táng, Trương Nghi tử, 懷王歸葬張儀死
Sở quốc từ nhânbội lan.                 
楚國詞人記佩蘭
Thiên cổ chiêu hô chung bất phản,       
天古招呼終不返
Măn giang tranh cạnh thái vô đoan.     
滿江爭競太無端
Yên ba diểu diểu không bi oán,           
煙波渺渺空悲怨
La cổ niên niên tự tiếu hoan.               
羅鼓年年自笑歡
Hồn nhược quy lai dă vô thác,            
魂若歸來也無托
Long xà quỷ vực biến nhân gian.         
龍蛇鬼蜮徧人間

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

THÁNG NĂM XEM ĐUA THUYỀN Ở BẾN SÔNG

 

Chôn Hoài Vương, chết Trương Nghi,

Bội lan nước Sở thơ ghi nhớ người.

Gọi về chẳng lại ngàn đời,

Khắp sông đua trải nơi nơi làm ǵ!

Mịt mù khói sóng sầu bi,

Hằng năm chiên trống được khi vui vầy,

Hồn về gửi chốn nào đây?

Rắn rồng, quỷ hiểm rẫy đầy nhân gian.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Hoài Vương được đem trở về chôn cất; Trương Nghi cũng mất rồi. Vẫn c̣n nhớ người làm “từ” của nước Sở với hoa bội lan. Cả ngàn năm đă gọi hồn trở về nhưng hồn vẫn không trở lại. Khắp con sông là các con thuyền đang đua tranh v́ mục đích ǵ đây?! Khói sóng trên sông mịt mù với nỗi sầu oán lặng lẽ. Thế mà hằng năm tiếng phèn la, tiếng trống vẫn bày ra để cười đùa vui vẻ. Nếu hồn ông có quay về  cũng không chỗ nào để nương dựa gửi gắm. Cơi người ta khắp nơi đều đầy rắn rồng và loài quỉ quái hung hiểm.

 

CHÚ THÍCH:

 

Câu 1:    Sở Hoài Vương v́ không nghe Khuất Nguyên can gián đi qua nước Tần rồi bị Tần Vương khống chế giữ lại và mất ở Tần. Về sau hài cốt được đưa về Sở để chôn cất. C̣n Trương Nghi là mưu sĩ nhà Tần bày ra thuyết liên hoành lấy nước Tần nối kết với nước đồng minh để chống lại kế hợp tung của Tô Tần liên kết sáu nước thời Chiến Quốc chống lại nhà Tần.
Câu 2:   “Sở quốc từ nhân” tức người làm “từ”  (một thể thơ thời cổ) của nước Sở, chỉ Khuất Nguyên với tác phẩm “Ly Tao” nổi tiếng, Khuất Nguyên thường đề cao cái đẹp thanh cao cũng như hương thơm tinh khiết của hoa “bội lan” hoặc “đỗ nhược”, “tiêu lan”…
招呼  chiêu hô:  vẫy gọi, gọi mời. Đây chỉ những bài văn để gọi hồn Khuất Nguyên trở về.
太無端  thái vô đoan: chẳng có mục đích nào cả, không có nguyên cớ, đầu mối nào.
渺渺 diểu diểu: xa xăm, mù mịt.
空悲怨  không bi oán: lặng lẽ sầu buồn oán than.
Câu 6:   bên Trung Hoa, hằng năm vào ngày Khuất Nguyên từ trần ở sông Mịch La (ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch) để kỷ niệm và đề cao một người trung nghĩa, người dân nhiều nơi thường tổ chức đua thuyền trên các sông hoặc làm văn chiêu hồn để mời hồn Khuất Nguyên trở về. Các buổi lễ thường là ăn uống cười đùa vui nhộn không c̣n ư nghĩa tưởng niệm về một người chuộng thanh cao như Linh Quân.
Câu 7 và 8:   xem chú thích bài 41 và 42 (Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu và Phản Chiêu Hồn)
     

 

 

 

 

 

Bài 27:

 

BẤT TIẾN HÀNH

 

不進行

 

Vũ sư thế khấp Bằng Di nộ,                   雨師涕泣憑夷怒
Ngũ Chỉ sơn tiền thủy bạo chú.            
五指山前水暴注
Bạch ba chung nhật tẩu xà long,           
白波終日走蛇龍
Thanh sơn lưỡng ngạn giai sài hổ.       
青山兩岸皆豺虎
Chu tiếp phân phân đồng nhất lưu,       
舟楫紛紛同一流
Há than nhân hỉ thướng than sầu.         
下灘人喜上灘愁
Bách trượng trường thằng văn bất tiến,
百丈長繩挽不進
Chu trung niên thiếu giai bạch đầu.      
舟中年少皆白頭

 

TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:

 

ĐƯỜNG ĐI KHÔNG TIẾN TỚI ĐƯỢC

 

Thần mưa khóc, nước giận cuồng,

Trước non Ngũ Chỉ mạnh tuôn trút dày.

Rắn rồng, sóng bạc suốt ngày,

Hai bờ xanh thẳm núi đầy hùm lang.

Thuyền theo ḍng chảy rộn ràng,

Xuống ghềnh hớn hở, sầu mang ngược ghềnh!

Dây trăm thước kéo chẳng lên,

Mái đầu trai trẻ trong thuyền bạc theo!

 

DỊCH NGHĨA:

 

Thần mưa khóc đầm đ́a, c̣n thần nước lại giận giữ điên cuồng. Trước mặt núi Ngũ Chỉ, nước tuôn mạnh dữ dội vào một chỗ. Sóng bạc cuồn cuộn suốt cả ngày như rồng rắn uốn lượn. Hai bên bờ của ngọn núi xanh đều đầy loài hổ, loài sói. Thuyền chèo xuôi ḍng rộn ràng cùng nhau. Khi thuyền xuống ghềnh th́ hớn hở vui mừng và khi ngược ḍng th́ sầu lo canh cánh bên ḷng. Dùng dây thừng trăm thước kéo thuyền mà vẫn không tiến lên được. Những chàng trai trẻ trong thuyền mái tóc cũng phải bạc đi!

 

CHÚ THÍCH:

                          

 

  hành: bước đi, cuộc hành tŕnh, trôi chảy, làm, trải qua, con đường. Cũng có nghĩa là một thể loại nhạc phủ thời xưa như bài “Trường Ca hành” của Lư Bạch, “Hạo Ca hành” của Bạch Cư Dị… thường là liên khúc vài chục câu trở lên.
五指山  Ngũ Chỉ sơn:  núi có dáng năm ngón tay ở huyện Châu B́nh, Quảng Tây, Trung Hoa.
雨師  vũ sư: tức thần mưa.
憑夷 Bằng Di: tức thần nước.
暴注  bạo chú: chảy tuôn mạnh vào một chỗ.
紛紛  phân phân: rộn ràng, rối rít, rối loạn.
văn: kéo, xoay trở.
     

 

 

 

 

 

 

Xem Bài số 28-29

 

 

 

 

 



D
ương Anh Sơn
 Giáo Sư Triết học

Trung học Ninh Ḥa

 

 

 

 

trang thơ & truyện Dương Anh Sơn              |     www.ninh-hoa.com